|

Gãy cánh uyên ương [1]

5
Bão tố

Một hôm, Farris Effandi mời tôi tới nhà ông dùng bữa tối. Tôi nhận lời; tinh thần tôi đang đói bánh mì thiêng liêng được trời đặt vào lòng bàn tay Selma, và đó là loại bánh tâm linh làm tâm hồn ta càng ăn vào càng thấy đói. Đó cũng chính là loại bánh Kais, thi sĩ A -rập, Dante và Sappho từng nếm trải khiến con tim họ bừng cháy; bánh được Thần nữ dọn ra với vị dịu ngọt của nụ hôn và cay đắng của nước mắt.

Khi tới toà nhà của ông cụ, tôi thấy Selma đang ngồi nơi băng ghế trong hoa viên, đầu dựa vào thân cây. Trông nàng như cô dâu mặc áo dài lụa trắng hoặc một lính gác đang canh giữ khu vườn.

Chầm chậm và cẩn trọng tôi bước tới gần, ngồi xuống bên nàng. Tôi không thể nói bằng lời nên chỉ còn cách giữ im lặng vì đó là ngôn ngữ độc nhất của tâm hồn. Tuy thế, tôi cảm thấy Selma đang lắng nghe tiếng gọi vô ngôn ấy và đang ngắm hình bóng của linh hồn tôi trong đôi mắt tôi.

Mấy phút sau, thân phụ nàngï bước ra, chào hỏi tôi như thường lệ. Khi ông cụ đưa bàn tay về hướng tôi, tôi có cảm giác ông chúc lành cho những bí ẩn đang hiệp nhất con gái của ông với tôi. Kế đó, ông nói:

“Các con ơi, bữa ăn đã dọn, chúng ta vào ăn!”

Selma và tôi đứng lên đi theo ông. Đôi mắt Selma sáng rỡ vì một tình cảm mới mẻ vừa thêm vào tình yêu của nàng qua việc thân phụ nàng gọi hai chúng tôi là các con của ông.

Chúng tôi ngồi vào bàn, thưởng thức món ăn ngon và uống loại rượu nho để dành lâu năm nhưng linh hồn chúng tôi đang sống trong một thế giới xa xăm. Chúng tôi đang mơ tới một tương lai cùng những gian nan của nó.

Mỗi người tách biệt trong ý nghĩ của riêng mình nhưng cả ba chúng tôi hiệp nhất trong tình yêu. Ba con người vô tội, nhiều cảm xúc nhưng ít am hiểu. Chúng tôi đang trong một tấn kịch được thể hiện bởi một người cao niên yêu thương và chăm lo cho hạnh phúc của con gái, một thiếu nữ đôi mươi đang nhìn tương lai với tâm trạng khắc khoải, và một thanh niên mơ mộng và âu lo, kẻ chưa từng nếm rượu nho lẫn giấm chua của cuộc đời và đang ra sức với tới cực điểm của tình yêu và am hiểu nhưng không có khả năng nâng mình lên. Ba chúng tôi ngồi trong trời sẩm tối, ăn và uống trong ngôi nhà đơn độc được canh giữ bằng những con mắt của Trời nhưng dưới đáy ly của chúng tôi vẫn ẩn giấu vị đắng cay và thống khổ.

Khi chúng tôi vừa dùng xong bữa, một người hầu gái vào báo cho biết có người mong muốn được gặp Farris Effandi, hiện đang có mặt và chờ trước cửa. Ông cụ hỏi:

“Ai vậy?”

Người hầu gái thưa:

“Một sứ giả của Đức giám mục.”

Im lặng trong một chốc và Farris Effandi nhìn con gái chằm chặp, như một ngôn sứ đăm đăm nhìn lên Trời để tiên đoán bí mật của nó. Rồi ông cụ nói với người hầu gái:

“Cho người ấy vào.”

Người hầu gái đi ra, và một người đàn ông mặc trang phục phương Đông với hàng ria quặp ở hai đầu bước vào chào ông cụ và nói:

“Đức giám mục sai tôi tới đây với xe riêng của ngài. Ngài muốn thảo luận với ông một vấn đề quan trọng.”

Vẻ mặt của ông cụ bỗng ảm đạm và nụ cười biến mất. Sau một phút chìm mình trong suy nghĩ, ông tới gần tôi và nói với giọng thân ái:

“Ta hi vọng con sẽ còn ở đây cho tới lúc ta về vì Selma sẽ vui sướng khi có con làm bạn trong ngôi nhà quạnh vắng này.”

Nói xong lời ấy, ông quay sang Selma và mỉm cười, hỏi con gái có đồng ý không. Nàng gật đầu, hai má ửng hồng. Với giọng dịu ngọt hơn tiếng nhạc đàn lia, nàng nói:

“Thưa cha, con sẽ cố hết sức mình để vị khách của chúng ta được hạnh phúc.”

Selma nhìn theo cổ xe ngựa chở cha mình và sứ giả của Giám mục cho tới khi nó khuất dạng, rồi nàng tới ngồi đối diện với tôi, trên chiếc đi-văng phủ lụa màu lục. Trông nàng như một đóa hoa huệ nghiêng cánh trên thảm cỏ xanh thẩm trong gió nhẹ ban mai. Do ý muốn của Trời mà tối nay tôi được ở một mình với Selma trong ngôi nhà xinh đẹp của nàng, bao quanh bởi cây cối và là nơi sự tịch lặng, tình yêu, cái đẹp và đức hạnh cùng nương náu.

Hai chúng tôi đều im lặng, người này chờ đợi người kia cất tiếng, nhưng lời nói không là phương tiện độc nhất để hai linh hồn cảm thông nhau. Không phải chỉ những âm tiết đến từ môi và lưỡi mới mang hai tâm hồn tới với nhau.

Có điều gì đó lớn lao hơn và thanh khiết hơn những lời thốt ra từ miệng lưỡi. Im lặng chiếu sáng hai linh hồn chúng tôi, thì thầm với hai tâm hồn và mang chúng lại với nhau. Im lặng làm chúng tôi tách khỏi bản thân mình, cùng nhau dong buồm giữa bầu trời của tinh thần và mang chúng tôi tới gần Thiên đàng hơn. Nó làm chúng tôi cảm thấy thân xác không còn là nhà ngục và thế giới này không chỉ là chốn lưu đày.

Selma nhìn tôi, đôi mắt ấy vén lộ bí ẩn của trái tim nàng. Kế đó, nàng nói trầm lặng:

“Chúng ta hãy ra ngoài vườn, ngồi bên gốc cây và ngắm trăng lên sau dãy núi.”

Vâng lời nàng, tôi đứng lên, nhưng rồi tôi ngần ngại:

“Em có nghĩ là chúng ta nên ở lại đây chờ cho tới khi trăng lên chiếu sáng khắp vườn hoa?”

Ngừng một chút, tôi nói tiếp:

“Bóng tối đang che giấu cây cối và các đóa hoa, có thể chúng ta sẽ chẳng thấy gì cả.”

Nghe thế, nàng đáp:

“Giả dụ bóng tối có che giấu cây cối và làm các đóa hoa khuất mắt chúng ta đi nữa, nó cũng không thể nào che giấu tình yêu khuất tâm hồn của chúng ta.”

Sau khi thốt lên những lời ấy với một âm điệu lạ thường, Selma đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ. Tôi vẫn giữ mình im lặng, ngẫm nghĩ lời vừa nói của nàng, thẩm định ý nghĩa đích thực của từng âm tiết. Rồi Selma nhìn tôi như thể hối tiếc lời vừa nói và cố thu hồi nó ra khỏi hai tai tôi bằøng tia nhìn kỳ diệu từ đôi mắt nàng. Nhưng thay vì làm cho tôi quên những lời đó, đôi mắt ấy lặp lại khắp những chốn sâu thẳm của tâm hồn tôi, minh bạch hơn và hiệu quả hơn, những âm tiết dịu ngọt của chúng và ghi khắc rất sâu vào trí nhớ tôi cho đến muôn đời.

Mỗi vẻ đẹp và sự vĩ đại trong thế gian này đều được tạo ra từ một ý nghĩ hoặc một cảm xúc đơn chiếc bên trong con người. Mỗi cái được làm bởi các thế hệ đã qua mà chúng ta thấy hôm nay, trước khi xuất hiện, đều là ý nghĩ trong trong tâm trí của một người nam hay cơn bốc đồng trong tâm hồn của một người nữ. Những cuộc cách mạng làm đổ nhiều máu và hướng tâm trí đàn ông tới tự do là của một người sống giữa hàng ngàn đàn ông khác. Những cuộc chiến tranh tàn khốc, hủy diệt các đế quốc đều là ý tưởng từng hiện hữu trong tâm trí của một cá thể. Những lời giảng tối thượng biến đổi dòng chảy của loài người là ý tưởng của một con người mà thiên tài đã tách rời kẻ ấy khỏi môi trường của y. Ý tưởng đơn chiếc ấy đã dựng lên Kim tự tháp, đã được tìm thấy trong vinh quang của đạo Islam và đã gây nên hành động thiêu rụi đại thư viện Alexandria.

Một ý nghĩ đến với bạn vào ban đêm sẽ làm bạn lên đến vinh quang hoặc dẫn bạn tới chốn lánh nạn. Một tia nhìn từ đôi mắt một người nữ sẽ làm bạn thành người đàn ông hạnh phúc nhất thế giới. Một lời nói từ đôi môi của một người sẽ làm bạn trở nên kẻ giàu có hoặc người nghèo khổ.

Những lời Selma thốt ra đêm đó đã túm bắt tôi giữa quá khứ và tương lai mình, như con tàu buông neo giữa biển khơi. Những lời ấy đánh thức tôi ra khỏi giấc ngủ của tuổi trẻ và cô đơn, đồng thời đặt tôi lên một sân khấu ở đó sự sống và sự chết đóng vai trò của chúng.

Hương của hoa quyện với gió nhẹ khi chúng tôi đặt chân vào hoa viên và thinh lặng ngồi bên nhau trên chiếc ghế dài đặt cạnh cây hoa lài, cùng lắng nghe hơi thở của thiên nhiên đang thiu thiu ngủ, trong khi đó, giữa bầu trời xanh, những con mắt thiên đàng làm chứng cho tấn kịch của Selma và tôi.

Mặt trăng dần dần hiện lên đằng sau rặng núi Sunnin, tỏa sáng khắp bờ biển, các ngọn đồi, núi non, và chúng tôi có thể thấy những thôn làng nằm quanh rìa thung lũng như những bóng ma được triệu lên từ hư không.

Dưới ánh trăng bàng bạc, chúng tôi có thể thấy vẻ đẹp của toàn xứ Li-băng.

Các thi sĩ phương Tây nghĩ về Li-băng như một chốn truyền thuyết, bị quên lãng kể từ thời qua đi của David, Salomon và các ngôn sứ, giống như vườn Điạ đàng bị thất lạc sau cuộc sa ngã của A-đam và Eva. Đối với các thi sĩ phương Tây, từ ngữ “Li-băng” là một diễn tả thi vị gắn liền với một ngọn núi có các sườn thấm đẫm hương trầm của những cây Tuyết tùng Thiêng liêng. Nó làm họ nhớ tới các ngôi đền bằng đồng và đá cẩm thạch trắng đứng trang nghiêm vững chắc và tới đàn nai đang gặm cỏ trong các thung lũng. Còn tôi, đêm đó, tôi thấy Li-băng như giấc mơ với đôi mắt của kẻ làm thơ.

Như thế, vẻ ngoài của vạn vật biến đổi theo cảm xúc, và như thế, chúng ta thấy sự kỳ diệu và cái đẹp ở nơi chúng trong khi thật sự, sự kỳ diệu và cái đẹp ở bên trong chúng ta.

Khi ánh trăng chiếu lên khuôn mặt, lên cổ và lên hai cánh tay của Selma, nàng trông như thể một pho tượng bằng ngà được tạc nên bởi một tín đồ nào đó thờ phượng Ishtar, nữ thần của cái đẹp và tình yêu. Vừa nhìn tôi nàng vừa nói:

“Tại sao anh im lặng? Tại sao anh không nói với em điều gì đó về thời đã qua của anh?”

Và khi tôi nhìn thẳng vào mặt nàng, cơn câm nín của tôi tan biến. Tôi mở môi mình ra và nói:

“Em có nghe những gì anh đã nói khi chúng ta tới vườn cây trái này? Tinh thần từng nghe tiếng thì thầm của hoa và tiếng hát của thinh lặng cũng có thể nghe tiếng la hét của linh hồn anh và tiếng gào thét của tâm hồn anh.”
Nàng đưa hai bàn tay lên ôm mặt và nói với giọng run rẩy:

“Có, em có nghe. Em đã nghe một giọng nói đến từ lồng ngực của ban đêm và tiếng gào thét thịnh nộ trong trái tim của ban ngày.”

Tôi trả lời nàng, trong lãng quên quá khứ, quên cả hiện hữu của tôi, quên hết mọi sự, chỉ còn biết tới Selma:

“Selma ạ, anh cũng đã nghe em. Anh đã nghe tiếng nhạc hưng phấn đang đánh nhịp rộn ràng trong không khí và đang làm khắp vũ trụ run rẩy.”

Vừa nghe những lời ấy, Selma khép mắt và trên môi nàng tôi thấy một nụ cười sung sướng pha với buồn bã.

Nàng thì thầm dịu dàng:

“Giờ đây, em đã biết có cái gì đó cao hơn trời, sâu hơn biển và lạ thường hơn sự sống, cái chết và thời gian. Giờ đây em đã biết cái trước đây mình không biết.”

Vào khoảnh khắc đó, Selma trở nên thân thiết hơn một bằng hữu, gần gũi hơn một cô em gái và yêu thương hơn một người tình. Nàng trở thành một ý nghĩ tối thượng, một giấc mộng tuyệt vời, một cảm xúc áp đảo đang sống động trong tinh thần tôi.

Thật lầm lạc khi nghĩ rằng tình yêu đến từ một cuộc kết bạn dài ngày và kiên trì theo đuổi. Tình yêu là kết quả của mối quan hệ tinh thần, và nếu mối quan hệ ấy không phát sinh trong khoảnh khắc, nó sẽ không thể được tạo ra theo năm tháng hoặc thậm chí qua nhiều thế hệ.

Kế đó, Selma ngẩng đầu lên, đăm đăm nhìn chân trời nơi núi Sunmin gặp bầu trời, và nói:

“Hôm qua, đối với em, anh như người anh em, một kẻ sống gần gũi với em, cùng ngồi tĩnh lặng bên em trong sự chăm sóc của cha em. Lúc này, em cảm thấy có sự hiện diện của cái gì đó rất lạ lùng, ngọt ngào hơn tình cảm anh em, một sự hòa trộn đầy ngỡ ngàng của yêu thương và sợ hãi, làm tâm hồn em tràn ngập xót xa và hạnh phúc.”

Tôi đáp lại:

“Cảm xúc này, làm chúng ta sợ hãi và run rẩy khi nó đi qua tâm hồn mình, là định luật của thiên nhiên dẫn đường cho mặt trăng đi quanh quả đất và mặt trời đi quanh Thượng đế.”

Selma đặt tay lên đầu tôi, đan các ngón tay trong tóc tôi. Vẻ mặt nàng rạng rỡ. Từ đôi mắt nàng, những giọt nước mắt ứa ra và chảy xuống như những gịot sương rơi trên cánh lá hoa huệ. Và nàng nói:

“Kẻ nào tin câu chuyện của anh với em – kẻ nào tin rằng vào giờ này chúng ta đã vượt qua những chướng ngại của nghi hoặc? Kẻ nào tin rằng tháng Nisan đã mang chúng ta tới với nhau lần đầu tiên và là tháng bắt chúng ta đứng lại ở chốn Cực thiêng liêng của cuộc đời?”

Trong khi nói những lời ấy, bàn tay của Selma vẫn để yên trên đầu tôi và tôi không muốn một vương miện hay một vòng hoa lộng lẫy nào khác thay cho bàn tay dịu êm ấy, với những ngón tay đang đan trong tóc tôi.

Tiếp đó, tôi trả lời nàng:

“Người đời sẽ không tin câu chuyện của em với anh vì họ không biết rằng tình yêu là đóa hoa duy nhất đâm chồi và kết nụ mà không cần sự hỗ trợ của các mùa, nhưng có phải tháng Nisan mang chúng ta tới với nhau lần đầu tiên và có phải giờ khắc này đã túm bắt chúng ta tại chốn Cực thiêng liêng của cuộc đời? Không phải bàn tay của Thượng đế đã mang linh hồn của hai chúng ta tới gần nhau từ trước ngày chào đời và biến chúng ta thành tù nhân của nhau suốt ngày ngày đêm đêm sao? Cuộc đời con người không bắt đầu từ trong cung lòng của người mẹ và không bao giờ kết thúc dưới huyệt mộ. Và bầu trời đầy ánh trăng này cùng các ngôi sao kia không bị bỏ hoang phế bởi những linh hồn đang yêu và những tinh thần trực cảm.”

Khi Selma rút bàn tay ra khỏi tóc tôi, tôi cảm thấy có sự rung động như luồng điện ở chân tóc mình, quyện với gió nhẹ ban đêm. Như một tín đồ ngoan đạo tiếp nhận ân sủng bằng cách hôn bàn thờ trong thánh điện, tôi cầm bàn tay của Selma và đặt lên trên đó đôi môi nóng bỏng của mình, cho nó một chiếc hôn thật lâu mà tới hôm nay, hồi ức về nó vẫn làm tan chảy trái tim tôi và sự dịu ngọt của nó đánh thức toàn bộ đức hạnh của tinh thần tôi.

Một giờ đi qua với mỗi phút dài bằng một năm yêu thương. Trời đêm thanh vắng, ánh trăng, các đoá hoa và cỏ cây làm chúng tôi lãng quên thực tại, chỉ còn nhớ tới tình yêu. Rồi bỗng nhiên tôi nghe có tiếng vó ngựa và tiếng bánh xe nghiến xào xạc. Bị đánh thức khỏi cơn mê lịm thú vị và bị lao mình từ thế giới mộng mơ xuống thế giới đa đoan và khốn khổ, chúng tôi thấy ông cụ đang trở về nhà sau khi làm xong một nhiệm vụ. Chúng tôi đứng lên, đi qua vườn cây ăn quả để tới đón ông.

Khi chiếc xe ngựa tới lối vào hoa viên, Farris Effandi bước xuống. Ông cụ đi rất chậm về phía chúng tôi, oằn người tới trước như thể trên vai đang vác một gánh rất nặng. Ông tới gần Selma, đặt cả hai bàn tay lên vai con gái và nhìn nàng chằm chặp. Trên hai gò má nhăn nheo của người già, nước mắt tuôn xuống thành dòng, và trên đôi môi ông run rẩy một nụ cười khổ sở. Ông cụ nói với giọng đứt quãng trong cổ họng:

“Selma thương yêu của cha, con sẽ rất sớm bị lấy đi khỏi vòng tay của người cha này để tới hai cánh tay của một người đàn ông khác. Số phận sẽ rất sớm mang con từ ngôi nhà quạnh quẽ này tới chiếc sân mênh mông của thế giới, vườn hoa này sẽ nhớ mãi tiếng bước chân con và cha sẽ trở thành người lạ đối với con. Tất cả đã định; xin Thiên Chúa ban ơn phước cho con”

Nghe những lời ấy, vẻ mặt của Selma tối sầm, hai mắt nàng lạnh lẽo như thể cảm giác điềm báo trước cái chết. Rồi nàng thét lên như chim bị bắn rớt, đau đớn run lẩy bẩy, và nàng hỏi với giọng uất nghẹn:

“Cha nói cái gì? Cha có ý nói gì? Cha định đưa con đi đâu?”

Dứt câu hỏi, nàng nhìn cha với tia mắt xuyên suốt, cố gắng khám phá cho ra bí mật của ông. Lát sau, nàng nói:

“Con hiểu, con hiểu hết mọi sự. Giám mục đòi hỏi con ở nơi cha và đã chuẩn bị xong chiếc lồng cho con chim gãy cánh này. Thưa cha, có phải đó là ý muốn của cha?”

Câu trả lời của Farris Effandi là một tiếng thở ra rất dài. Ông dịu dàng dẫn Selma vào nhà trong khi tôi vẫn đứng nơi hoa viên với các đợt sóng bối rối vỗ ào ạt lên mình như cơn bão đánh tan tác lá mùa thu. Kế đó, tôi đi theo họ vào phòng khách. Và để tránh tình cảnh lúng túng, tôi bắt tay ông cụ rồi nhìn Selma ngôi sao xinh đẹp của tôi, và ra khỏi nhà.

Khi tới cuối hoa viên, tôi nghe tiếng ông cụ gọi mình. Tôi quay lại gặp ông. Ông cầm tay tôi và nói với vẻ xin lỗi:

“Con trai ơi, hãy tha thứ cho ta. Ta đã phá hỏng buổi tối của con khi để cho dòng nước mắt này chảy. Nhưng xin con vui lòng tới gặp ta khi ngôi nhà này thành nơi vắng vẻ và ta cô độc tuyệt vọng. Tuổi trẻ, con trai của ta ơi, không sóng đôi với tuổi già như ban mai không gặp ban đêm, nhưng con hãy đến với ta để gợi cho ta nhớ lại những ngày tươi trẻ đã trải qua với cha của con. Và con sẽ kể cho ta nghe tin tức về cuộc đời mà giờ đây không còn tính ta vào trong số con cái của nó nữa. Con có sẽ đến thăm ta khi Selma đã ra đi và ta bị bỏ lại đây trong quạnh quẽ không?”

Trong khi ông nói ra những lời đau đớn ấy tôi im lặng bắt tay ông và cảm thấy những giọt nước mắt ấm rơi từ mắt ông xuống bàn tay tôi. Run rẩy với xót xa và tình hiếu thảo, tôi cảm thấy tim mình thắt lại với sầu khổ. Khi tôi ngẩng đầu lên và ông cụ thấy những giọt lệ trong mắt tôi, ông chúi người tới trước, chạm lên trán tôi bằng đôi môi của ông:

“Tạm biệt, con trai, tạm biệt.”

Nước mắt của người già hiệu nghiệm hơn nước mắt của người trẻ vì nó là phần còn lại trong hình hài đang yếu dần của họ. Nước mắt của người trẻ như giọt sương trên cánh hoa hồng trong khi nước mắt người già như lá vàng rơi theo gió lúc trời sắp sang đông.

Khi tôi rời tòa nhà của Farris Effandi Karamy, tiếng nói của Selma vẫn rung động trong tai tôi, nhan sắc của nàng đi theo tôi như một hồn ma và những giọt nước mắt của thân phụ nàng khô chầm chậm trên bàn tay tôi.

Lần ra đi này của tôi như cuộc xuất hành của A-đam từ vườn Địa đàng, nhưng nàng Eva của trái tim tôi không cùng đi với tôi để làm cho toàn bộ thế giới trở thành một chốn thần tiên. Đêm đó, trong khi được sinh ra thêm lần nữa, tôi cảm thấy mình vừa thấy bộ mặt của thần chết lần đầu tiên.

Như thế mặt trời vừa làm sống động vừa giết chết các đồng ruộng bằng sức nóng của nó.

Pages: 1 2 3

Phản hồi