|

Những con chó làng tôi

(Tác giả mến tặng 6 thanh niên Bắc Giang bị bắt giữ ngày 25/7/2010)

Làng tôi ở ven sông Hồng phía tả hạ lưu, như bao làng khác miền đồng bằng. Có cây đa già rễ cuốn xù xì quanh cổng làng làm gạch vỡ toác loác từng kẽ lớn. Bụi bám trong kẽ nứt làm chỗ cho rêu mọc. Bọn trẻ chúng tôi hay tìm trứng thằn lằn trong các kẽ nứt đó. Quả trứng nhỏ như đầu đũa màu trắng, đập ra thấy chú thằn lằn con đầu to, mắt lồi thành cục được bao bằng một cái bọc nước trắng nhờ nhờ. Ở gốc đa có những hốc to đầy vết chuột chạy. Bọn trẻ dẫn chó đánh hơi rồi lấy rơm hun khói, lùa chuột chui vào những cái rọ cắm ở miệng hốc khác. Những con chuột trong mùa gặt béo múp, dội nước sôi cạo lông, mổ bụng nhồi lá chanh. Luộc hay nướng đều đạt cả, béo và ngon. Thịt chuột có vị gần giống thịt lợn lại có vị giống thịt gà. Đầu chuột thì vất cho bọn chó gặm. Bọn trẻ xé thịt chuột nướng chấm muối ớt ngồi ăn ngay dưới gốc đa.

Người lớn trong làng đi qua cổng thấy vậy bèn mắng

- Cha bố chúng mày, ăn toàn cái ngon, để xương xẩu cho bọn chó à?

Bọn trẻ hốt hoảng vội vàng vất những thân chuột nướng thơm phức, béo múp đang gặm dở trên tay cho lũ chó. Chúng vừa nhìn người lớn đầy vẻ sợ hãi, vừa liếc lũ chó nhai rau ráu thân chuột nướng màu mật ong mà tiếc nuối.

Sự thật là ở làng tôi bọn chó được kính trọng như vậy, dân làng không ai ăn thịt chó bao giờ. Con nào chết thì đem chôn tử tế như là truy điệu liệt sĩ. Chó sinh sôi phát triển đầy làng, nhà nào ít cũng dăm con. May là ở làng bên có bọn trộm chó không thì làng tôi người cũng chết vì có gì ăn đều dành hết nuôi chó. Tuy được tôn trọng, nhưng chó thì vẫn là chó thôi, tuy bề ngoài hung tợn. Động một tí là thi nhau sủa váng cả làng. Người lạ vào làng bất kể ai là chúng hùa nhau cắn ông ổng, như ai cũng đều là kẻ gian đáng nghi ngờ hết. Bọn trộm tinh ranh chỉ cần mang mồi ngon đến câu. Nhiều con ngu bị bắt lên huyện vào hàng cầy tơ 7 món. Bọn còn lại là những con chó khôn ngoan, dày dạn kinh nghiệm sống. Chúng chẳng đi đâu, chỉ quanh quẩn trong làng để hưởng sự cung phụng của dân làng từ bao đời nay. Bọn chó từ đời trước bằng cách nào đó đã gửi lại cho bọn sau thông điệp là giống chó mình ở đây được hưởng quyền nhận sự cung phụng của người dân. Những con chó mới đẻ vài tháng đã khệnh khạng sủa đòi ăn bên mâm cơm người.

Trong đình làng, bên cạnh ngai thờ vị thành hoàng làng còn có một bầy chó bằng đất nung. Và sự kính trọng bọn chó này gắn liền với huyền thoại xây dựng làng của ông thánh kia. Bất cứ nhà nào từ trẻ con đến ông già đều thuộc lòng sự tích lấn đất, mở làng và những chiến công đánh đuổi bọn cướp đất từ thiên hạ kéo đến của vị thánh làng cùng với lũ chó. Câu chuyện được kể hàng ngày, mỗi đứa trẻ sơ sinh chào đời, hay một đứa trẻ bước vào tuổi tính suất đinh hay lấy vợ chồng, giỗ tết là dịp câu chuyện huyền thoại ấy được ôn lại như những trang sử hào hùng.

Những ngày mưa to gió lớn, không ra đồng hay xuống vạt rau để hái bán buổi chợ sáng, những ông già ,bà già lại ngồi kể cho con cháu nghe câu chuyện huyền thoại về lũ chó trong đình làng.

- Hồi nhỏ tao nghe ông tao kể rằng (họ cũng chỉ là người nghe lại mà thôi, chả ai rõ xuất xứ thật của chúng là khoảng thời gian nào) dạo ấy dân làng ta không ai đi làm xa bao giờ cả, toàn làm chăn nuôi, trồng trọt trong làng. Mọi thứ thì có bọn lái buôn trên kinh thành mang hàng hoá về đổi lấy những gì mà dân làng làm ra như ngô, khoai, đỗ, lạc. Thấy dân làng ngu, bọn lái buôn bắt tay với đám quan lại trong làng, bắt chẹt đổi chác với giá rẻ mạt suốt một thời gian dài. Mãi đến khi cậu Thảnh quyết chí lên kinh kỳ làm thuê, mới hiểu được thủ đoạn của bọn lái buôn. Mất hàng chục năm lăn lộn làm thuê nơi đất khách quê người, cậu Thảnh đã trở thành một ông già. Nhưng ông Thảnh đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình để biết hết mọi ngóc ngách, điểm yếu của bọn lái buôn. Lúc ông trở về thì dân làng gặp phải dịp thiên tai, mất mùa, đói nheo nhóc, khối người chết vì đói. Ông Thảnh len lỏi vào từng nhà để nói cho mọi người nghe vì sao họ đói, đó là bóc lột, bất công, người dân làng vốn chậm hiểu được ông giải thích rằng, chúng ta làm việc quần quật mà không đủ ăn, bọn lái buôn và quan lại trong làng thì no say phè phỡn, thử hỏi có bất công không. Làm gì có trời, đất nào để trừng phạt chúng đâu. Tự chúng ta phải dành lấy công bằng cho mình, phải đánh đổ bọn cường hào, đuổi cổ bọn lái buôn, phá kho tàng của bọn chúng mà dùng. Chẳng lẽ chúng để thóc gạo mục nát trong kho mà chúng ta chết đói hay sao?

Bấy giờ đói kém lắm! (Bà cụ kể chuyện vuốt nước trầu đỏ sẫm như máu chảy hai bên mép, âu yếm nhìn mấy con chó ngoài sân). Dân làng phải nhờ bọn chó để đi bắt chuột, đào khoai lấy cái mà ăn. Bọn chó như là lực lượng lao động chính trong mỗi nhà. Cụ Thảnh dạy rằng:

Lũ chó việc chính là giữ nhà, chống trộm. Nay trong nhà chúng ta chả còn cái gì để lo mất trộm nữa, chúng phải dùng nanh vuốt để đi tìm cái ăn, ngược đời quá lắm rồi. Không chịu nổi được nữa, con giun xéo mãi phải quằn. Nhất định chuyến này không chịu làm công cụ để bọn người độc ác bóc lột. Hỡi mọi người trong làng, ai có dao dùng dao, ai có gậy dùng gậy, kể cả gạch đá ngoài đường cũng là vũ khí. dùng bọn chó làm lực lượng nòng cốt quyết chiến một phen với bọn người tham lam, độc ác. Hãy nhìn kìa, chúng béo tốt, phì nộn. Hãy nhìn lại xem chúng ta gầy còm mức nào.

Câu so sánh cuối cùng ấy của ông Thảnh giá trị hơn bất kỳ lời thuyết phục nào. Ngay đêm ấy, người dân trong làng cầm gậy gộc đi sau lũ chó tiên phong, lũ chó đói ăn lâu ngày giờ trước những ngôi nhà có nhiều thức ăn, bỗng trở thành hung hãn táo tợn. Chúng xông vào cắn cổ những tên lái buôn, những thằng cường hào, ác bá giàu có. Không phải là con chuột nhỏ bé xấu xí nữa, cái hàm răng của bọn chó tha hồ ngập vào đám thịt dày nạc của bọn lợn, gà nuôi đầy trong chuồng. Chúng ăn uống, phá phách, cắn xé và hú lên những tiếng rùng rợn như khúc khải hoàn báo mừng thắng lợi. Bọn độc ác đứa thì chốn chạy, đứa thì bỏ mạng dưới nanh chó. Đứa bị dân làng bắt trói lại chờ ngày xét xử đền tội. Đến sáng hôm sau thì mọi việc đã tươm, ông Thảnh đứng giữa làng tuyên bố từ nay dân làng đã được tự do, thoát khỏi cảnh người bóc lột người. Bà con hãy tập trung làm ăn, yên chí vì mình làm cho mình hưởng. Không có cảnh thủ đoạn, lừa lọc bót lột nữa

-  Thế từ trước là mình làm cho bọn con buôn, quan lại hưởng à?

Anh Tư người cuối làng hỏi ông Thảnh vậy, vì anh thấy mọi người bảo đi đến nơi có gạo để lấy. Đang đêm hôm, đói rách, nghe vậy thì đi thôi. Chưa được nghe rõ nguồn cơn.

Ông Thảnh lại phải giải thích một hồi. Sau đó ông đề nghị chọn người làm trưởng làng. Chẳng cần phải nói nhiều, ở cảnh đấy thì tất nhiên không ai khôn hơn ông Thảnh để mà giữ cương vị trọng đại đó. Ông Thảnh xin mảnh đất làm nơi ở, có ao, có vườn và nếp nhà xinh. Ông bàn với bà con ghi nhớ công lao của lũ chó, hãy để chúng được hưởng những ân huệ tại đình làng, nơi có nhiều thức ăn thừa thãi do người làng có việc như phạm tội, dựng vợ, gả chồng, tái giá, ly hôn phải bày cỗ đãi làng. Anh Tư được giao trách nhiệm chăm lo lũ chó. Lâu ngày nhiều con chó quen đình, coi đấy là nhà mình, anh Tư, ông Thảnh là chủ của chúng. Thảng khi ở đình không có gì ăn, chúng mới nhớ ra mò về nhà sủa dai nhách đòi ăn.

Sau ông Thảnh mất đi, Anh Tư trông đình mới làm bức tượng ông Thảnh, thay vào chỗ vị thành hoàng làng cũ. Dân làng thấy vậy cũng là chuyện thường, họ có việc đến đình, dâng hương cho ông như dâng ông thánh cũ.

- Ai ở trong đình thì mình chả phải lễ!

Bọn chó càng ngày càng tự tung tự tác. Nhác thấy bóng khách lạ vào làng, chúng nhòm ý những người coi đền thấy không bằng lòng là cả lũ đồng loạt cắn như cắn kẻ gian. Bạn bè phương xa đến thăm nhà ai, dáng lắm tiền nhiều của, không chịu qua đình làm lễ y rằng lũ chó coi như giặc hay hậu duệ của bọn con buôn, quan lại hồi xưa. Cháu ông chăn vịt rời làng từ lâu, đi phương xa kiếm ăn lập gia đình ở đó. Lúc sắp chết nhớ quê hương, sai con cháu mang xác về quê. Phải cúng mất vài mâm ngoài đình và mớ tiền lo phí đất mộ. Nhìn lũ chó béo tốt, dân làng thì áo rách, vai gầy. Bọn con cháu nhà chăn vịt cất lời nhạo báng.

-  Mẹ, đâu có chuyện ngược đời. Người là chủ, chó là loại tôi tớ. Ở đây thì ngược lại. Chó béo tròn quay, án ngữ từ cổng làng đến sân đình, lễ lạt, ma chay, việc họ hàng tiên tổ gì tự nhiên phải lễ chó vài mâm. Nó thương tình xơi cho thì còn là phúc. Gặp lúc ươn mình, khảnh ăn chúng quay đít lại ra điều liêm khiết, thế là lại phải lạy lục van xin. Chúng động mõm cho thì làm gì mới được làm. Người thì càng ngày càng héo hon, Chó càng ngày béo múp, ngược đời thật.

Bọn giữ đình biết vậy, bèn xua chó tống cổ cái đám con nhà lão chăn vịt đi. Lại thu được số quà của đám ấy mang về biếu người quen. Trưng ra làm bằng chứng lũ con nhà ấy là tay sai của bọn con buôn trên kinh kỳ về phá hoại, âm mưu làm xáo trộn sự thanh bình của làng ta, hòng làm tinh thần đoàn kết trong làng suy yếu để trả thù xưa và hòng một lần nữa bóc lột dân làng ta.

Dân tình nghe xuôi tai, duy có ông đồ nho bây giờ chả ai học vì đói quá phải đi làm đầu tắt mặt tối. Ông đồ nho thất nghiệp đâm ra ăn nói lăng nhăng rằng:

- Gớm, ai mà thù lâu thế chuyện từ đời nảo đời nào. Chúng nó không có bụng ấy đâu. Còn bóc lột á, bọn nó lấy đi thúng ngô thì cũng nhả hộp chỉ. Chứ như bọn chó trong làng, nó ăn xong ỉa cho bãi cứt chua loét. Bón ruộng cũng chả xong. Cái số làng này là phải bị đè dầu cưỡi cổ, mãi mà chả thoát ra được, tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa.

Nhưng dân làng còn đang mải kiếm ăn, ai hơi đâu mà nghe lời láo nháo của lão đồ nho rách việc nói càn. Lão đồ gàn sau một đêm mơ thấy ác mộng, bọn chó biến thành người, duy chỉ có cái đầu là vẫn chó. Mặc quần áo lính, áo quan đến điệu cổ lão đi. Đến sân đình dùng cực hình tra tấn một trận. Lão đau đớn không kêu nổi thành tiếng. Bỗng thấy tượng ông Thảnh cười sằng sặc, giật mình tỉnh giấc mới biết mình bị trúng gió, đi chầu ông vải luôn đêm ấy.

Đám ma ông ấy, lũ chó chả được gì vì nhà ông quá nghèo. Chúng bực bội đứng thành đoàn tru tréo từng hồi như mạt sát kẻ ngu si và gàn dở ấy.

Năm ấy hồn ma ông Thảnh hiện về họp nhau với lũ chó ngoài đình. Lúc đêm đã khuya, những ánh lân tinh leo lét trên bãi tha ma đằng ngoài cánh đồng hiện nhiều hơn so với mọi đêm, như đám lính canh cho buổi họp giữa âm hồn và súc vật. Anh Tư bận bịu suốt từ sáng tổ chức cho buổi họp ma chó này, ông Thảnh đã hiện về ắt có chuyện quan trọng an nguy đến làng xã, việc tày trời chứ không chơi. Anh Tư dạo này bị bọn dân làng kháo  nhau về gia phả nhà anh. Họ bảo anh sửa gia phả chứ chẳng ai làm chứng cao tằng tổ phụ nhà anh ở làng này. Mà nếu họ cứ nghĩ vậy thì nguy. Dù sao ông Thảnh cũng về với đất từ lâu. Cái uy của ông để lại dùng mãi cũng mòn. Có thằng lại căn cứ vào cách nói dấu ngã thành dấu hỏi của anh để chứng minh anh là người mạn Thanh Hoá, Nghệ An. Thế mới bỏ mẹ không cơ chứ. Tranh thủ buổi họp này anh cũng xin đưa vấn đề của anh ra trước hồn ma ông Thảnh và lũ chó tìm cách giải quyết. Vì nếu anh mà bán sới đi khỏi đình, thì lấy ai vun vén hương khói cho tiền nhân.

Đã họp ngoài đình thì cỗ bàn phải tươm tất, xôi, gà ,cá, lợn được trưng thu từ đầu tháng nay do đám dân nấu, đã bày biện tươm tất. Lũ hầu này còn phải đợi họp xong mới được về. Họ ở lại phòng khi thiếu thốn, cần gì còn sai bảo. Anh Tư cho chúng ngủ ở gian nhà kho đằng sau hậu cung của đình. Đám dân gầy, nam có nữ có, được bữa ăn no, ngủ say như chết, có đứa còn ngáy khò khò, nước dãi chảy đầy hai bên mép.

Giờ Tý đã sang, anh Tư thắp chùm nhang cùng lũ chó kính cẩn chờ hồn ông nhập tượng, một vệt sáng bay vụt từ ngoài vào, bỗng mắt ông Thảnh mở ra, mỉm cười độ lượng nhìn đám đàn em trung thành, ánh mắt ông hiền hoà ve vuốt làm lũ ấy cảm thấy tự tin. Con chó già chột mắt cất tiếng đầu tiên:

- Thưa đức ngài, dạo này thiên hạ có nhiều biến động, lũ dân đi buôn bán xa, học nhiều cái bất lương, đem về làng dạy nhau. Chúng đã có ý coi thường truyền thống của làng ta, thậm chí có đứa đem những việc đánh bọn buôn lậu, cướp đồ, đuổi bọn khai thác quặng ra bảo là sai lầm.

Ông Thảnh ngồi nhìn lũ đệ tử béo múp míp, con nào con nấy tròn quay, hai bên sườn thịt cứ lần lẫn, không còn dấu tích của lũ chó đói khát từ dạo theo ông làm cuộc biến động năm xưa. Có con đang họp nhưng theo thói quen vẫn thè lưỡi liếm đám lông vốn đã bóng mượt lại càng mượt thêm. Kể ra mình để lại cho chúng cũng nhiều lộc, ông gật gù nghĩ thầm, nhưng ở đời này phải dựa vào nhau mà sống. Ông biết giá như chúng mà đói, thì khỏi cần dân làng, chính chúng sẽ là lũ đầu tiên coi ông như bèo. Với bọn này luôn phải thấy miếng ngon xơi đuợc thì chúng mới nghe. Và ông chính là thiên tài. Thiên tài khi chỉ rõ cho lũ đói khát thấy chỗ có cái chúng cần, chừng nào chúng còn xơi lộc của ông để lại, chừng ấy ông vẫn là ông thành hoàng làng vĩ đại. Chúng còn đồng thanh sủa những bài ca ngợi ông. Chả thế mà các cụ lại có câu ”khéo giữ chùa thì được ăn oản”. Con chó già chột mắt đã ngừng phát biểu, nó ngồi xuống ve vẩy cái đuôi, hai tai gióng thẳng chờ lời chỉ bảo từ bức tượng đang ngự trên cao kia. Thấy tiền nhân còn đang trầm ngâm, nó rít khẽ một tiếng đánh động làm ông bừng tỉnh.

Ông Thảnh khẽ bảo bọn chó lần lượt phát biểu ý kiến. Sau hồi láo nháo tranh nhau báo công, lũ chó bắt đầu kể các khó khăn phát sinh và nài nỉ ông cho ý kiến chỉ đạo.

Đây lại là lúc ông Thảnh cần phải đưa ra một quyết sách trọng đại, ông Thảnh nghiêm trang cất lời:

- Lũ ngươi nghe đây, tình hình thời thế đã có nhiều biến động. Cái thời mà chó tung hoành đã hết từ lâu. Con người dần dần sẽ lấy lại những gì của họ. Các ngươi hưởng thụ thế là quá đủ rồi…

Nói tới đó, ông ngừng lại lấy hơi. Lũ chó xôn xao ở dưới:

- Thế chúng ta ra rìa à? Khéo bọn người ngả thịt chúng ta làm món nhậu cũng nên.

Đợi cho cơn hoang mang, sợ hãi lan dần trong đám chó, ông Thảnh mới cất lời. Đấy là nghệ thuật dẫn dắt mà ông học được từ hồi bôn ba tứ xứ .

- Các ngươi phải đổi mới, đổi mới thành vóc người. Có vậy thì mới làm dân tin được. Đã đến lúc phải thay cái vỏ để dân chúng khỏi dị nghị. Hoà mình vào lốt dân để trị dân. Đấy là phép thuật biến hoá khôn lường rất cao thâm. Cái căn bản là thay màu như kỳ nhông vậy. Chúng bay sẽ chết dần từ hôm nay nhưng linh hồn các ngươi sẽ đầu thai thành người. Cuộc đời này có sinh ắt có tử. Các ngươi sống cũng đã lâu, ngày tận cũng đến gần. Giờ thoát xác lột da sang đóng kiếp người để đời con cháu thay nhau hưởng thụ. Nay có đám dân đang ngủ mê mệt kia, chú Tư đã bỏ thuốc cho chúng không biết gì, các người vào mà hành sự.

Lũ chó bừng tỉnh khỏi cơn sợ hãi, lối thoát hiểm đã mở, chúng quỳ xuống rập đầu hô vang:

- Ngàn đời ghi ơn, tạc dạ công lao của Hoàng Thành Thảnh.

Sau đó lũ chó chen nhau chạy vào căn phòng tối om om đằng sau, giành nhau hối hả làm cái việc truyền giống, bất kể kẻ đang ngủ là nam hay nữ.

Một năm sau, làng tôi có năm đứa trẻ ra đời một lúc. Chúng khóc vang khắp thôn xóm.  Cái đêm mà chúng sinh ra, những ngôi sao trên trời sáng lấp lánh chuyển sang màu vàng ệch. Có kẻ biết thiên văn chép miệng:

- Trời lại giáng hoạ xuống dân.

© Vần Vũ

Phản hồi