|

Trung Quốc muốn chia đôi Thái Bình Dương?

Lời người dịch: Trong số mới nhất của tờ Foreign Affairs, một tờ báo phát hành bởi Hội Đồng Ngoại Giao Hoa Kỳ (Council on Foreign Relations) Giáo sư Seth Cropsey dựa vào lời tuyên bố mới đây của Đô đốc Robert Willard Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương dự đóan rằng Trung quốc không những chỉ muốn làm chủ Biển Đông mà còn muốn làm chủ Thái Bình Dương hay ít nhất chia đôi quyền hoạt động trên Thái Bình Dương.Seth Cropsey là một khuôn mặt thuộc giới cực hữu xuất thân từ đại học Harvard – St. George ở Chicago và lấy bằng MA tại đại học St. John’s College ở Boston. Ông từng phục vụ trong chính quyền của tổng thống Reagan và tổng thống George H.W. Bush (Bush lớn) cũng như tại các cơ sở cực hữu như Heritage Foundation, American Enterprise Institute

… Trong chính phủ George W. Bush (Bush nhỏ) ông làm giám đốc Cơ quan Phát Thanh Quốc tế (International Broadcasting Bureau). Ông hiện dạy học tại Đại học Chicago (University of Chicago). Quan điểm của ông là Hoa Kỳ phải mạnh và phải hành động mạnh. Nhưng cái khó bó cái khôn. Vấn nạn là “tiền đâu?”.

Trong một bài báo nhan đề: “Keeping the Pacific Pacific: The looming U.S. Chinese Naval Rivalry” (tạm dịch: Cuộc tranh quyền làm chủ Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và  Trung Quốc) giáo sư Seth Cropsey viết:
———————————————–
Khi thăm viếng Nhật Bản cuối tháng Tám vừa qua, Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương nói với các nhà báo rằng Trung quốc gần như đã sẵn sàng cho Hỏa tiễn đạn đạo đánh tàu thủy (anti-ship ballistic missile – ASBM) hoạt động. Đây sẽ là thứ vũ khí đầu tiên trên thế giới. Vũ khí đánh tàu trên biển như cruise missile (hỏa tiễn bay ngang) xưa nay không hiếm nhưng tốc độ chỉ bằng 1/10 tốc độ của hỏa tiễn đạn đạo, và tầm hoạt động tối đa là 600 dặm, có sức công phá ít hơn và do đó ít nguy hiểm. Trái lại, theo một tài liệu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ hỏa tiễn ASBM của Trung quốc có tầm 1000 dặm.

Các nhà hoạch định sách lược của Trung quốc dự tính rằng ASBM có khả năng đánh chìm những mẫu hạm lớn của Hoa Kỳ khi những mẫu hạm này còn rất xa bờ biển Trung quốc, xa ngoài tầm của các phản lực cơ chiến đấu tối tân sắp chế tạo có tầm hoạt động 600 dặm. Do đó ASBM sẽ thực hiện được mục tiêu chiến lược của Trung quốc là không cho Hải quân Hoa Kỳ hoạt động một cách an toàn tại phía Tây Thái Bình Dương, cách bờ biển châu Á 1000 dặm.

Sự tranh chấp giữa Trung quốc và Đài Loan là mối đe dọa lớn nhất cho Hải quân Hoa Kỳ hoạt động ở Tây Thái Bình Dương. Nếu Trung quốc có ASBM thì Hoa Kỳ không có khả năng giữ lời cam kết bảo vệ Đài Loan nếu bị Trung quốc tấn công. Hải quân Hoa Kỳ chưa có vũ khí chống ASBM và không có chương trình chế tạo.  Trong trường hợp này ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Á châu đương nhiên bị giảm sút. Hậu quả là chính sách làm bá chủ trong vùng của Trung quốc trở nên một thực tế và sẽ tạo ra một cuộc chạy đua vũ trang trong vùng.

Các nước đồng minh của Hoa Kỳ đặc biệt ba nước Úc châu, Nhật Bản và Nam Hàn tự hỏi phải làm gì khi Hải quân Hoa Kỳ không còn hoạt động tự do trong vùng Tây Thái Bình Dương để duy trì hòa binh tại đó như Hoa Kỳ đã làm trong nhiều thập niên qua, mà thí dụ điển hình nhất là năm 1995 và 1996 tổng thống Clinton đã cho các mẫu hạm đặc nhiệm vào eo biển Đài Loan và giải quyết được sự căng thẳng giữa Trung quốc và Đài Loan.

Nếu Hải quân Hoa Kỳ không còn bảo vệ được Tây Thái Bình Dương các nước trong vùng  phải tìm cách tự vệ. Tháng Bảy vừa qua, lần đầu tiên sau 36 năm kể từ khi chấm dứt Thế chiến 2, Nhật Bản tuyên bố sẽ tăng cường lực lượng tàu ngầm. Mùa Xuân năm 2009 Úc châu cũng công bố chương trình tăng cường hạm đội tàu ngầm và mua thêm nhiều chiến hạm tối tân. Nam Hàn cũng đang tối tân hóa Hải quân và lực lượng đổ bộ của mình. Nam Hàn còn một bận tâm khác là câu hỏi: Nếu Trung quốc bảo đảm với Nam Hàn sẽ không xâm lăng Nam Hàn với điều kiện Nam Hàn yêu cầu quân đội Mỹ rút quân ra khỏi Nam Hàn thì Nam Hàn sẽ tính sao?

Cho đến lúc này các nhà hoạch định sách lược Hoa Kỳ chưa xem sự phát triển khả năng hỏa tiễn của Trung quốc là một đe dọa – vì Hoa Kỳ đang dồn sức vào chiến tranh trên bộ mà quên vai trò quan trọng có tính lịch sử của Hải quân.

Sau nhiều tháng quan sát chính sách ngọai giao có tính bành trướng của Trung quốc, Đô đốc Wiillard mới lên tiếng bày tỏ sự lo lắng về khả năng đánh chìm các mẫu hạm của Hoa Kỳ.

Tháng Ba vừa qua Bắc Kinh tuyên bố Biển Đông là vùng “quyền lợi thiết yếu” (core interest) của Trung quốc. Biển Đông là một vùng biển quốc tế chạy dài từ Trung quốc đến  Phi Luật Tân, xuống tận vùng biển rộng hơn giữa Mã Lai Á và Việt Nam. Biển Đông là hải lộ thương mãi nối liền Đông Á và Trung Đông, trong đó dầu thô là chính yếu. Biển Đông có nhiều đảo nhỏ các nước chung quanh như Brunei, Mã Lai Á, Phi Luật tân, Việt Nam đang tranh giành chủ quyền với Trung quốc. Khi tuyên bố Biển Đông là “vùng quyền lợi thiết yếu” Trung quốc muốn nói Biển Đông là vùng biển của mình và sẽ bảo vệ nó bằng sức mạnh quân sự.

Giữa tháng 7/2010, bốn tháng sau lời tuyên bố độc quyền trên, Tân Hoa Xã trích lời một giới chức quân sự cao cấp trong ngành nghiên cứu của Trung quốc nói rằng Hoàng Hải (Yellow Sea), vùng biển nằm giữa bán đảo Triều Tiên và Trung quốc là  “vùng quyền lợi thiết yếu có tính sinh tử của Trung quốc (pivotal core interest) chẳng những thiết yếu về  phương diện hàng hải mà còn thiết yếu cho an ninh của Trung quốc”.

Đầu tháng 9, tại Hoàng Hải xẩy ra vụ đụng chạm giữa Nhật Bản và Trung quốc khi Hải quân Nhật bắt giữ một tàu đánh cá của Trung quốc vào quá gần quần đảo Senkaku. Quần đảo Senkaku hiện trong tay Nhật nhưng Trung quốc cho là đảo của mình.

Tháng Tám Trung quốc loan tin một tàu ngầm nhỏ của Trung quốc có người lái đã cắm cờ của Trung quốc dưới đáy Biển Đông, ý nói Biển Đông thuộc chủ quyền mình. Lời tuyên bố “vùng quyền lợi thiết yếu” và việc cắm cờ chủ quyền đều là những hành động vừa vi phạm luật quốc tế vừa  có tính khiêu khích.

Những lời tuyên bố mới đây của Trung quốc cho thấy Trung quốc không có thái độ nhượng bộ. Trong tháng Bảy sau khi chính quyền tổng thống Obama (qua lời tuyên bố tại Hà Nội của bà Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton) đề nghị giải pháp thương thuyết đa phương để giải quyết cuộc tranh chấp tại Biển Đông, ông Bộ trưởng Ngoại giao Trung quốc Dương Khiết Trì (Yang Jiechi) nói với một nhà ngoại giao Singapore rằng, “hãy nhìn vào thực tế Trung quốc là một nước lớn và các nước khác chỉ là những nước nhỏ” (China is big country and other countries are just small countries, and that’s just a fact) (1)

Người ta đặt câu hỏi: không biết Trung quốc sẽ hành xử như thế nào khi trở thành bá chủ trong vùng. Sức mạnh quân sự lớn mạnh theo cấp số nhân đe dọa ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Đông Á, cùng những lời tuyên bố mạnh miệng của Trung quốc cho thấy một tương lai khó khăn cho những nước trong vùng từ trước đến nay vẫn ủng hộ lập trường của Hoa Kỳ là: duy trì sự tự do lưu thông trên biển; không có tham vọng đất đai; và ngăn không cho nước nào trở thành bá chủ trong vùng Á châu.

Người Á châu có kinh nghiệm để biết rằng “sức mạnh tạo ra quyền lực và hải lực có thể tạo ra sức mạnh”. Hạm đội của Tây Ban Nha chiếm Phi Luật Tân trong thế kỷ thứ 16, và trong suốt thế kỷ thứ 19 và phần đầu của thế kỷ 20 Hải quân của đế quốc Anh làm chủ vùng biển Tây Thái Bình Dương.

Nhưng đối với Trung quốc bài học biến hải lực thành sức mạnh chính trị là bài học Nhật Bản. Lịch sử bành trướng của Nhật trong mấy thập niên sau của tiền bán thế kỷ 20 cho thấy Á châu sẽ bị đe dọa như thế nào khi có một nước có nhiều tham vọng trở thành bá chủ trong vùng.

Sau khi Hải quân Nhật kiểm soát toàn bộ vùng Tây Thái Bình Dương Nhật đã xâm lăng, uy hiếp và đàn áp các nước chung quanh. Với khả năng chuyên chở binh sĩ bằng đường biển Nhật đã đe dọa an ninh từ Ấn Độ đến Hawai.

Điều này không có nghĩa khi mạnh như Nhật (vào thời đó) Trung quốc sẽ hành động như Nhật Bản. Nhưng hiện nay khi thấy Trung quốc tăng triển lực lượng hải quân, chế tạo ASBM và tuyên bố chủ quyền những vùng biển quốc tế các nước Úc, Ấn Độ và Việt Nam đều lo và tìm cách tăng cường hải lực của mình. Sự chạy đua vũ trang này chứng tỏ sự  an  ninh và ổn định tại Tây Thái Bình Dương trước đây nhờ sự hiện diện của hạm đội Mỹ sẽ không còn nữa.

Hỏa tiễn ASBM của Trung quốc là một đe dọa. Nhưng Hoa Kỳ cũng có thể giảm thiểu mối đe dọa này bằng cách đóng nhiều những mẫu hạm nhỏ hơn và tăng tầm hoạt động của các phản lực cơ cất cánh từ mẫu hạm. Lúc này với tình trạng ngân sách thâm thủng Hoa Kỳ khó thực hiện việc đóng tàu và chế tạo máy bay tốn kém này. Mặt khác ông Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates cho rằng trong tương lai Hải quân không còn là tượng trưng của sức mạnh.

Vì vậy hiện nay chính phủ Hoa Kỳ áp dụng chính sách khả dĩ nhất là: tăng cường mối quan hệ liên minh với các nước trong vùng Tây Thái Bình Dương và giúp hình thành một thỏa thuận chung để giải quyết sự tranh chấp biển đảo trong Biển Đông.

Ngoài ra Hoa Kỳ nên mở rộng các cuộc thao dượt hải quân chung với các nước đồng minh trong vùng. Hoa Kỳ cần giữ lịch trình tập trận ngoài biển chung với Nhật Bản vào tháng 12 năm nay chung quanh quần đảo Ryukyu, một quần đảo  nằm trên vùng ranh giới phía đông của biển Đông Trung quốc (East China Sea).

Chính phủ Obama nên bỏ lệnh ngầm cấm các giới chức Hải quân Hoa Kỳ công khai nói lên sự đe dọa của sự lớn mạnh của Hải quân Trung quốc. Sự  “nói lên” này có thể làm cho Quốc hội quan tâm và thay đổi chính sách giảm ngân sách của hải quân Hoa Kỳ hiện nay.
Nếu Hoa Kỳ không có một lực lượng an ninh hùng mạnh và một chính sách ngoại giao cứng rắn tại Đông Á thì Hoa Kỳ sẽ mất tư thế một nước có vai trò hàng đầu trong vùng Thái Bình Dương. Điều này sẽ làm thiệt hại quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ và sự an ninh của gần một nửa dân số thế giới.

ASBM của Trung quốc chưa phải là thứ vũ khí đáng sợ đe dọa tương lai của Hoa Kỳ. Cái đe doạ Hoa Kỳ chính là ở chỗ Hoa Kỳ không huy động được nội lực để  duy trì sức mạnh của mình.

©Trần bình Nam (Bản tiếng Việt)

© Đàn Chim Việt
—————————————————
(1) ý rằng lớn nhỏ không thể ngồi chung với nhau cá mè một lứa được.

3 Phản hồi cho “Trung Quốc muốn chia đôi Thái Bình Dương?”

  1. ForgetMeNot Đặng says:

    Đọc thêm bài lược dịch này của Ông TBN làm tôi cảm thấy sự ra đi của ông Robert Gates là không đúng lúc và đáng tiếc….
    Nước Mỹ lúc này đang cần thêm nhiều người tài ba, có một khối óc và trái tim mẫn cảm như bà Hillary Clinton và ông Robert Gates.
    Đàn bà dễ có mấy người được như bà Hillary Clinton ! Bà là người có khả năng đối ngoại thật bén nhạy và thông minh. Ngay cả việc tề gia, tư cách của bà đã giúp cho chồng giữ được thể diện và đứng vũng ở vị trí lãnh đạo một nước siêu cường cho đến ngày mãn nhiệm kỳ. Dù cho thâm ý của Bà muốn tạo cho mình 1 thế đứng về sau như thế nào đi nữa, cũng phải khen bà biết cách “tề gia” trước rồi mới xăn tay áo ra trị quốc. Còn việc có bình thiên hạ hay không, tính sổ sau……
    Nỗi lo mất nước VN dưới tay đại hán, nay lại thêm mối ưu tư cho quê hương thứ 2 đang ngụp lặn trong giông bão “kinh tế và an ninh quốc gia” . Xin có thêm nhiều bài bình luận hay nữa.

  2. Huỳnh ngọc Tuấn says:

    Cám ơn tác giả và dịch giả.Cám ơn danchimviet.
    Hiểm họa TC nếu không nhận thức đúng đắn thì sẽ là bi kịch cho tất cả nhân loại,kể cả Mỹ.
    Chỉ cần 10 năm nữa tương quan lực lượng sẽ thay đổi nghiên về phía TC,lúc đó sẽ là quá muộn

  3. Trung hoàng says:

    Những tuyên bố đòi hỏi chủ quyền trên biển cuả Trung Quốc, sẽ không bao giờ ngừng lại theo cách dần dần lấn tới từng bước, đúng với sách lược ‘Tầm Ăn Dâu” hay “Vết Dầu Loang” thường thấy như từ trước tới nay. Chiếm đoạt Hoàng Sa cuả Việt Nam năm 1974, hơn 35 năm xây dựng làm cứ điểm để từ đó làm bàn đạp chiếm một số đảo Trường Sa 1988. Với “Cái Lưỡi Bò” Trung Quốc tự biên tự diễn, để rồi đi đến tuyên bố ngang ngược “Biển Ðông là quyền lợi cốt lõi” cuả Trung Quốc.

    Lấn chiếm dần từng bước, thực hiện cho bằng được chính sách bá quyền bành trướng trong khu vực, từ đó làm bàn đạp tạo ảnh hưởng rộng ra trên khắp thế giới. Nếu Hoa Kỳ và các nước ASEAN, không có được sự kết hợp toàn diện, từ chiều rộng ngoại giao kinh tế chính trị, đến chiều sâu an ninh quốc phòng, mối nguy cơ bành trương bá quyền sẽ tạo bất ổn khu vực là chuyện khó tránh khỏi. Chẳng riêng gì Hoa Kỳ-ASEAN, mà các nước trên thế giới có quyền lợi liên hệ với khu vực nầy, cũng phải có chung hướng hành động ngăn chận làn sóng đó.

    Những động thái xích lại với Trung Quốc gần đây cuả Nga và Úc, cũng như sự lưu tâm cuả vài nước như Pháp, cũng chỉ là muốn làm diụ bớt những căng thẳng từ phiá Trung Quốc, trước các cuộc diễn tập cuả Hoa Kỳ với đồng minh trong vùng như Nhật và Nam Triều Tiên, nhất là Ðệ Thất Hạm Ðội hiện diện ở cưả Ðà Nẳng Việt Nam, chận bít cưả ra vào tàu ngầm muốn tiến ra Biển Ðông, để thè “Cái Lưỡi Bò“ Trung Quốc răn đe các nước. Các động thái có tính đấu diụ trong giai đoạn, hơn là muốn họp tác lâu dài.

    Cho rằng vì Trung Quốc có ASBM, Hoa Kỳ không thể có khả năng giử lời cam kết bảo vệ Ðài Loan, trước một sự tấn công cuả Trung Quốc nếu có; điều đó hoàn toàn không đúng hẳn như vậy, bởi vì Hoa Kỳ vẫn phải còn đặt ra vấn đề Ðài Loan cũng có thể xáp nhập lại với lục điạ, sự dè dặt mà Hoa Kỳ không thể nào không nghĩ tới, nhất là việc bán vũ khí tiên tiến cho Ðài Loan. Chấp thêm cánh cho hổ là điều mà Hoa Kỳ không dạy gì để làm điều đó, trong khi Triều Tiên cũng vẫn có thể thống nhất, biển Hoàng Hải chưa hẳn luôn là cái sân sau cuả Trung Quốc trong tương lai.

    Sự đối đầu Nhật-Trung ở đảo Senkaku hay Ðiếu Ngư, sẽ cho phép Nhật tự bảo vệ và trang bị quốc phòng cần thiết trong tương lai. Võ trang lực lượng tàu chiến bảo vệ lảnh hải chủ quyền cuả Nhật là điều hợp lý, nâng cao tiềm lực hải quân sẽ làm Trung Quốc khó chiụ, nhưng Hoa Kỳ chắc hẳn cũng rất hài lòng. Sự nguy hiểm khi Nhật võ trang, cũng đã làm cho Nga đến gần với Trung Quốc trong thời gian vưà qua, đã cho thấy Nga không muốn thấy một lực lượng hải quân Nhật hùng mạnh trở lại.

    Bề dầy kinh tế Trung Quốc mong manh như bọt nước bong bóng rất dể vở, bởi vì tuyệt đại đa số kỹ thuật tiên tiến phải dưạ vào tư bản nước ngoài, nếu có sự đồng loạt rút ra thì các xí nghiệp sẽ bị ngưng trệ, hàng xuất khẩu sẽ giảm sút trầm trọng, đồng thời sự thất nghiệp cuả công nhân gây nên bất ổn trong xã hội sẽ phải đến. Lo sợ sự nổi loạn trong xã hội, Trung Quốc luôn gây hấn bên ngoài để phô trương sức mạnh, thúc đẩy lòng tự tôn tự đại cho người dân, làm giảm bớt áp lực đối kháng trong nước.

    Với Hoa Kỳ, nếu không huy động được sức mạnh nội lực, sẽ không thể duy trì được quyền lợi chung trên khắp thế giới là sự thật hiển nhiên. Cho dù luôn lo sợ khủng bố trong nước, nhưng cũng không vì thế mà có cái nhìn quá khắt khe với các thành phần Hồi Giáo, từ trong nước cho đến cả thế giới, Hoa Kỳ trong giai đoạn sắp tới phải có được một đường lối hoà dịu hơn với Hồi Giáo, sự hoà diụ cần thiết cho một đường lối mới, trước bối cảnh thay đổi không ngừng trên toàn cầu ngày nay.

    Thêm bạn bớt thù là đường lối cuả nhà chính trị khôn ngoan, trong khi xoá bỏ tinh thần tôn giáo là đường lối cố hữu cuả thể chế CS, sự thất bại và xụp đổ cuả các thể chế nầy là một kinh nghiệm cho các nước trên thế giới. Trong số nước CS còn lại, tôn giáo là một mặt trận luôn đối kháng với chính quyền, nên các tôn giáo luôn là thành phần đồng minh tin tưởng được, dân chủ và nhân quyền được phát triển rộng khắp thế giới, cũng qua sự truyền đạt biến thông từ các tôn giáo.

    Hãy biến tự bên trong các Linh Mục cũng là nhà tu Phật Giáo hay Hồi Giáo, các nhà tu Phật Giáo hay Hồi Giáo cũng là các Linh Mục trong bản chất tinh thần, sự hoà đồng rất cần thiết cho nền Ðại Ðồng Thế Giới. Không cần tiêu diệt CS, mà CS sẽ tự xoá sổ trên khắp năm châu.

    Xin trân trọng.

Phản hồi