|

Vũ Huy Quang – Nguyễn Huệ Chi: Dị biệt và Tâm giao

Thứ hai, 25 tháng 10, 2010

Quốc lộ 1 lượn cong cong, trải dài một đường cung vòng theo triền đồi, một bên là núi một bên là biển trắng xóa với những làn sóng bạc đầu xô dạt vào bờ. Pacifica 1 mile: biển chỉ đường cho biết điểm hẹn sắp đến.

“Thưa thầy, nhìn cảnh thần tiên này thầy!” Giáo sư Nguyễn Huệ Chi bừng mắt dậy:

“Đẹp quá, đẹp quá! Chúng ta còn ở San Francisco không?”

“Dạ không, mình cách San Francisco khoảng 12 dặm về phía Nam, thầy ạ!”  với tốc độ cao, chiếc xe lao vun vút xuống dốc như có thể bay được trên khoảng không đáp xuống mặt biển. Khoảng 10 phút sau chúng tôi rẽ phải vào đường Crespi. Trời hôm nay trong xanh, chẳng bù với ba hôm trước mưa sa, mây mù, gió bão khắp vùng Bắc Cali. Gọi điện cho anh Vũ Huy Quang báo tin đã đến nơi, chúng tôi ra khỏi xe, lững thững bước nhìn phong cảnh hữu tình. Mùi mặn và tanh của nước biển tràn ngập hai buồng phổi mang lại sinh khí cho hai người.

“Thầy thấy có khoẻ không?”

“Khoẻ chứ, hôm qua chỉ ngủ được ba tiếng. Nắng ấm tốt quá!” Ngồi trước cửa khu chung cư dành cho người hưu trí một chặp thì di động reo.

“Anh Quang gọi!”

“A, đây rồi, ngồi khuất thế này làm sao mà thấy được.” Anh Quang bước tới, ta thán. Nguyến Huệ Chi và Vũ Huy Quang tay bắt mặt mừng. Nom thấy mái tóc hoa râm và gương mặt suy tư rất ư là đạo mạo của anh Quang, tôi buột mồm: “Trông anh còn có vẻ già hơn ông Chi đấy nhé!”

“Mười năm rồi còn gì!” ông Chi nói. “Này, mình hàn huyên với nhau một chặp rồi cho tôi đi thăm cụ nhé?”

“Được, được.”

Chúng tôi dùng thang máy lên từng thứ tư, đi gần cuối một hành lang có cửa sổ cho thấy cảnh trong xanh của nước bể đằng xa.

“Có biển xanh là ta vẫn còn hy vọng,”  tôi nói. Anh Quang mở cửa đưa chúng tôi vào căn hộ. Vừa bước vào bên trong là hơi thuốc lá đã xông vào mũi, nồng nặc. Căn hộ gồm hai gian, phòng khách và nhà bếp chia nhau một gian ngoài, với cửa kính ở cuối phòng đưa hướng nhìn xuyên qua các mái nhà ra đến vùng biển núi đằng xa. Bên trong là phòng ngủ và một buồng tắm. Đặc điểm của căn hộ là cửa kính nhìn ra núi và biển.

“Ông có biết chỗ này người ta gọi là gì không?” Anh Quang hỏi giáo sư Chi.

“Không.”

“Ngoạ hổ tàng long. Núi gặp biển thế kia, tôi ở đúng vào một nơi địa lý hiểm trở đấy!” Vũ Huy Quang vừa nói xong là cả hội cười. Gian ngoài gồm cái giường futon và một cái bàn nhỏ kê sát quầy, chia phòng khách và bếp, ở trên bàn có sách vở và một số chai rượu và lọ gia vị. Đặc biệt là kệ sách mà hơn 90 phần trăm là sách về chủ thuyết và luận cứ Cộng sản. Gặp anh một đôi lần, tôi cũng nghe tiếng Vũ Huy Quang là một Trotkyist thiên tả.

“Anh ở Mỹ mà theo Cộng Sản không sợ người ta gọi là phản động à?” Tôi đùa.

“Tôi chẳng theo ai. Ở Mỹ, đảng Cộng Sản vẫn được phép hoạt động chính thức cơ mà. Chính ra tôi là Trotsky, tranh đấu suốt đời…” Anh còn lơ lửng thì ông Chi đỡ lời:

“Anh Quang thuộc phe Đệ Tứ thì đã bị phe Đệ Tam diệt cả rồi, tranh đấu gì được nữa!” Chúng tôi lại cười ồ.

“Nói thật với anh nhé, bọn chống Cộng ở đây chả biết cóc gì về Cộng sản, ngay cả đám Cộng sản trong nước họ cũng chẳng hiểu gì về Cộng sản, có ai chịu đọc sách, học hỏi tư tưởng bác Hồ, Marxist-Leninist bao giờ đâu!”

“Anh nói thế về ông Hồ thì tôi không đồng ý, người ta ai cũng biết tư tưởng của cụ là thế nào chứ.”

Tôi lại chêm vào: “Anh Quang à, lý thuyết Cộng sản của anh thì chỉ có trong sách vở!”

“Ở đây có người Việt ờ không?” Giáo sư Chi hỏi.

“Tôi là người Việt duy nhất ở đây. Xin lỗi, mấy tên Bolsaviks (Bolsa được xem là thủ phủ chống Cộng máu nhất ở Cali) thì có thớ gì mà vào được đây, có thành thạo tiếng Anh đâu, có nói chuyện, am hiểu được người Mỹ đâu mà sống trong vùng này. Họ chỉ sống trong vũng lầy của họ thôi.”

Lan man một hồi với nhiều giai thoại về những người đồng lứa, những người bạn xưa cũ, những người mà nay Vũ Huy Quang cho rằng sự thành công của họ được đong bằng tiền của, nhưng không vượt lên trên ý thức gì xa xôi hơn, theo anh:

“Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn – nói xin lỗi – từ fermeture/zipper/giải rút quần trở xuống chân và giầy dép. Đ.M., nói chuyện với họ chỉ năm mười phút là tôi chán chẳng còn chuyện gì để nói. Cái đầu họ chẳng có tí gì.” Nói chuyện người khác rồi lại nói đến chuyện mình, Vũ Huy Quang như gặp đúng người để trút bầu tâm sự của mình. Khi giáo sư Chi hỏi thăm về người bạn năm xưa, khơi mào chuyện than trách về cuộc tình cũ của anh, một người mà anh cho là hiền lành và dại dột không biết lượng thời thế. Muốn giúp cho Vũ Huy Quang bớt đắng cay vì “Chàng cay nghiệt lắm, chàng oan trái nhiều” giáo sư Nguyễn Huệ Chi bèn phê một câu:

“Chi ấy chịu đựng được anh bao nhiêu năm nay thì đúng là chị ấy khôn rồi!”

“Chú nói thế không đúng, vì chịu đựng anh ấy được bao nhiêu năm nay nên ta phải nói là chị ấy dại nhất trần đời!” Lời nói thẳng thừng không đắn đo suy nghĩ của tôi làm ông Chi cười ha hả và anh Quang cũng đỏ mặt cười theo không phản đối tí gì. Anh Quang cũng là người độ lượng không chấp nhất những lời châm chọc của tôi. Trái lại, anh cho tôi biết trong đời anh sợ và mến nể nhất là những người trẻ, những người ít tuổi nhưng nhiều hiểu biết và nhiều khi chính anh có lỗi với họ nhưng họ vẫn không giận, vẫn tử tế, giúp đỡ anh. “Thí dụ như cô Cầm nhé nó chịu đựng tôi đủ điều, nạt nộ la hét vô lối, nhưng chẳng bao giờ cô ấy để ý hay giận tôi. Cả đời tôi biết ơn và nể trọng những người như thế.”

Nguyễn Huệ Chi và Vũ Huy Quang. Ảnh NKTA

Vũ Huy Quang cho thấy lý do anh sống xa cách nơi phồn hoa đô hội cũng chẳng phải là do cây thông của Nguyễn Công Trứ: “Kiếp sau xin chớ làm người/Làm cây thông đứng giữa trời mà reo!” mà cũng chẵng phải vì anh là nhà thơ nhiều mơ mộng: “Buồn trông cửa bể chiều hôm/Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?” như Kiều của Nguyễn Du, hay một người mẫn cảm như trong ca dao: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.”

Anh kể lại chuyện tình với một người anh gọi là cô du kích, tình cờ một hôm chở cô đi chơi lạc vào vùng Pacifica, đường núi ngoằn ngoèo, sương mù lại kéo xuống giăng kín đường về, phải tá túc lại một đêm ở motel. Sáng hôm sau, đi ngang đến chỗ này anh thấy biển và núi nên thơ hữu tình, thích quá nhưng sợ ngoài tầm tay với của mình anh định không vào, nhưng được cô du kích phán cho một câu chí lý: “Anh cứ vào hỏi đi, không được thì thôi, có ai giết mình đâu mà sợ.”

Và như người Mỹ thường nói: “Phần còn lại là chuyện đã rồi. And the rest is history.” Sau đó chúng tôi lên xe đi thăm bà cụ thân sinh anh Quang mà giáo sư Nguyến Huệ Chi đã gặp khoảng mười năm trước. Trên chiếc xe Volvo đời cũ của anh, tôi vớ được một quyển sách:

“Trong tất cả các sách của anh, em chỉ thích nhất là quyển này!”

“Quyển gì đó?”

“Elmore Leonard’s Ten Rules of Writing/ Mười điều răn về viết văn của ông Leonard Elmore.”

“Anh tặng Thái Anh đó!”

“Cám ơn anh nhiều nhé.”

Sau khi đi ăn, đi ngao du vùng biển chúng tôi về nhà anh, kết thúc buổi gặp gỡ bằng một vài bí quyết làm bếp. Quân tử há phải xa lọ bếp núc?

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

Ở đời có nhiều cơ duyên tình cờ dun rủi cho mình được gặp những hiền tài, những người mến mộ từ lâu – những người đã gợi lên trong ta chuyện ‘quốc hồn, quốc túy’. Đến nửa tuổi đời, tôi như một thằng bé đi tìm cái hay trong ý nghĩa cuộc sống của thân phận người. Chẳng may đó là thân phận, số kiếp của dòng giống Lạc Việt, trải qua hàng nghìn năm hiện hữu mà có khi nào trong suốt chiều dài lịch sử đó, đã có ai phải tự hỏi trong thời điểm họ đang sống: “Có phải đất nước ta đang đứng trước một hiểm họa tương lai vô tiền khoáng hậu không?” Ít ra chân lý tầm sư học đạo của một người xa quê hương như tôi còn tìm được những bậc tri kỷ để chia sẻ chuyện tâm giao, an ủi được những lúc mình cố quên đi số phận Việt của mình.”

Hơn tuần nay bàng hoàng vì quyết định đóng cửa của talawas, tôi suy nghĩ nhiều về mấy câu phỏng vấn của Phạm Thị Hoài. Đối với tôi, điều hệ trọng nhất là sự hiện diện của khúc ruột ngàn dặm, khoảng ba triệu người Việt hải ngoại, họ chính là tiềm năng lớn của đất nước. Làm thế nào để nhà nước thực sự cải tổ, để những người con xa nhà vẫn có thể đóng góp cho quê hương. [Không hiểu ý tưởng này quá xa rời thực tế không: Nếu chẳng may nước Việt Nam trở thành một quận huyện của Trung Quốc thì những con dân hải ngoại giống như những người Do Thái một ngày kia sẽ trở về khôi phục lại giang sơn? Hay là lúc đó người Việt đã bị đồng hóa cả hai chiều, trong nước họ sẽ trở thành một sắc tộc của người Hoa, ở hải ngoại họ sẽ trở nên những người Âu Mỹ gốc châu Á?]

Hôm tiễn biệt giáo sư Nguyễn Huệ Chi ở phi trường, nhìn quyển hộ chiếu màu nâu tím của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tôi bèn hỏi ông: “Chú có biết cháu có một lợi điểm hơn chú ở chỗ nào không?”

“Không biết, cháu nói cho chú nghe.”

“Dù gì đi nữa thì cháu cũng còn quốc tịch Mỹ, còn hơn phải mang quốc tịch Tàu. Cái lợi điểm của người Việt hải ngoại cũng chính là cái khó của họ, lúc nào họ cũng còn Hoa Kỳ để nương tựa, cho nên ít khi nào họ tranh đấu đến cùng cho sự sống còn của Việt Nam. Còn trường hợp những người trong nước thì khác, chú có đồng ý không?” Ông chỉ gượng cười nhưng không nói.

Khoảng tuần lễ nay tôi có nhiệm vụ làm tài xế cho giáo sư Nguyễn Huệ Chi. Năm nay ngoài 70, nhưng người còn tráng kiện, rắn rỏi, dáng người nhỏ, da ngăm ngăm. Tôi cảm thấy mình có diễm phúc được biết đến một con người khả kính và bình dị như ông, thâm sử Việt lại sành Hán văn. Có hôm tôi ngồi say mê nghe ông nói chuyện với những bậc đàn anh về Lý-Trần, về Cao Bá Quát, về công việc lùng kiếm những bia cổ, chuyện đốt sách của Minh Thành Tổ. Kể cả khi ông được đi nghiên cứu ở Trung quốc, nói chuyện khí tiết với một học giả và cán bộ phiên dịch Trung Hoa làm anh ta xấu hổ vì bị ông vạch mặt ý đồ của tổ tiên họ, chuyện họ muốn diệt văn hóa Việt cũng như đồng hóa Việt Nam. Một hôm đưa ông đến nhà một anh bạn sưu tầm đồ gốm cổ Việt Nam, ông đã bỏ gần ba tiếng đồng hồ để ngắm nghía, đọc và chú giải những hàng chữ Nôm, chữ Hán trên những đồ cổ bằng sành, sứ.

“Chú ơi vào đây xem, sách vở của anh Peter như thế này thì khiếp quá.” ông Chi bước theo tôi vào phòng sách của giáo sư sử Peter Zinoman (thuộc đại học Berkeley) Cả một gian phòng mà ba bức tường đều kê bằng những kệ sách, vừa Việt vừa Anh, lại có một số sách bằng Pháp văn. “Thế này thì chưa thấm vào đâu, Thái Anh phải đến xem sách của chú ở Hà Nội.” Anh Peter cũng bước vào, nói tiếng Việt với giọng Hà Nội: “Chú nhiều sách thế à, cháu còn sách ở phòng này nữa.” Anh Peter vừa nói vừa đưa chúng tôi sang một phòng khác. Cô Cầm cũng đi theo. “Đây đúng ra là phòng làm việc của Cầm,” Peter nói. Lại hai bức tường kê rất nhiều sách. Giáo sư Chi không bỏ dở cơ hội, rà soát những quyển sách cổ và quý của Việt Nam, kể cả Pháp. Từ Kiều đến Phạm Quỳnh, đến các tác giả thời Tự Lực Văn Đoàn, đến những quyển sử ký quý của Việt Nam. Nhiều sách ông chưa cầm đến đã biết do ai soạn, xuất bản năm nào, sai sót điều gì. Ngay cả khổ sách ông cũng biết. “Sách này hẳn đã in lại, sách chính nguyên bản làm gì có khổ lớn như thế này!”

“Sao, cháu có quen chị T. à, chị ấy dạo này ra sao, còn đẹp và hiền thục như khi xưa không?” hoặc, ” Còn cô T.V. nữa, cấm cố tu thân thật à?” ông hỏi han tất không sót một người nào. ” Còn mẹ anh Quang, ngày xưa đã từng chăm sóc chú tử tế lắm, bà chính là người báo tin cho chú cuộc tấn công Tháp Đôi ở New York ngày 9/11 … Ta phải gọi điện, hẹn ngày đến thăm họ ngay.” Ông không để tôi quên một người nào.

Ông cũng dí dỏm không kém, một hôm đưa ông vào khuôn viên đại học Berkeley, đi qua Sproul Hall nơi tụ họp đình đám của các nhóm sinh viên phản chiến vào thập niên ’60-’70, tôi hỏi ông có muốn theo tinh thần Free Speech của Berkeley đứng ở giữa các bậc cấp lấy loa rao giảng không? “Thôi mình Free Speech với kiến nghị ở trang BauxiteVN như thế đủ rồi!” Tôi bật cười: “Lấy kiến nghị của Mỹ nữa chứ!” Ông trả lời: “Mấy nghìn chữ ký lại có lão thành cách mạng nặng ký ở Việt Nam như bà Nguyễn Thị Bình ký thì Mỹ nào sánh bằng?”

Để trả đũa, lúc vào tiệm sách Cộng sản trong Durant Square ở Berkeley, tôi giới thiệu ông với cô hàng sách người Mỹ trắng, bảo rằng: “Ông này là giáo sư ở xứ Việt Nam Cộng Sản sang thăm các đồng chí đây!”

“Ấy chết ai lại nói thế?!” Ông cười nhẹ nhàng phản đối. Ai ngờ bắt đúng tần số, cô Mỹ trắng lại biện minh cho nhà nước thân yêu:

“Việt Nam không thể nào gọi là một nước Cộng sản được, anh nói thế không đúng, v.v.. và v.v..”

Khi đi qua các hội sinh viên bày biên bàn ghế, băng-đơ-rôn quảng cáo những việc làm của họ, ông cũng rất vui. Gặp các em trong hội sinh viên Việt Nam ông mừng rỡ khi nghe những em còn nói được tiếng Việt, ông khuyến khích và cổ động các em gìn giữ ngôn ngữ, văn hóa, hỏi thăm thân thế của các em rất chân tình.

Tất cả những điều thâm thúy về văn học sử của giáo sư Nguyễn Huệ Chi đương nhiên được hun đúc bằng những năm nghiên cứu, học hỏi dài lâu, nhưng có lẽ sự quý hóa về con người của ông đã được bổ túc bằng những đức tính nhân nghĩa, đối xử bình dị, thân thương và rất trọng tình nghĩa của phong thói Việt Nam. Ông nhớ mãi những tiểu tiết của mười năm trước, những cử chỉ, những hành vi tốt lành, một lời nói chí tình, một ánh mắt, một nụ cười đôn hậu. Trong một hoàn cảnh đất nước, cái thiện cái ác lẫn lộn, khi nhân nghĩa, đạo đức có vẽ như bị suy đồi thì văn hóa, tình người thuần Việt của cha ông ta có lẽ còn tồn đọng ở những người như ông, chưa mất.

© NKTA

13 Phản hồi cho “Vũ Huy Quang – Nguyễn Huệ Chi: Dị biệt và Tâm giao”

  1. hoang dung says:

    Tôi vẫn thường coi trọng ông Nguyễn Huệ Chi, nhưng nếu ông thâm giao với ông Vũ Huy Quang này và thấy ông đã không có ý kiến với cái nhìn miệt thị những người khác ( vô học, không biết tiếng Anh… ) của người bạn “thâm giao” này thì tôi cũng hơi buồn.. Tôi mong rằng ông Chi im lặng vì ông coi trọng ý kiến của người bạn “thâm giao, hơn là những lý do xấu khác như: “ngậm miệng ăn tiền hay “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” ….

Phản hồi