|

Kinh tế Hoa Lục: Thành tựu và viễn cảnh (phần 1)

Đôi dòng về  tác giả.

Lê Văn Bỉnh, cựu sinh viên Đốc sự khóa 10, Cao Hoc 2 Ban Kinh Tế Tài Chánh, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Saigon.  Du học Hoa Kỳ (1972-74), xong M.A. (Economics).Về nước, phục vụ tại Khu Chế Xuất Saigon và dạy học tại Đại Học Kinh Thương, Đại Học Cửu Long v.v…

Ông là tác giả một số bài viết kinh tế giá trị đã đăng trên các báo Việt ngữ và điện tử hải ngoại. Dưới đây là một bài viết công phu của ông  về kinh tế Trung Cộng.

(Trọng Đạt)

————————————————————

Trong mấy năm vừa qua, dư luận người Việt trong và ngoài nước vô cùng quan tâm về ảnh hưởng chính trị, quân sự và kinh tế của Hoa Lục đối với Việt Nam. Thực ra không những Việt Nam, mà cả những nước nước láng giềng châu Á, châu Âu, châu Mỹ — nói chung, cả thế giới — đều chú ý đến “yếu tố Trung Hoa”, vừa lo ngại vừa ngưỡng mộ.

Trung Quốc ngày nay

Thế giới lo ngại, thì không có gì đáng ngạc nhiên. Với quá khứ xâm lược, lịch sử xung đột biên giới, cùng thái độ trịch thượng và ngạo mạn gần đây đối với các cuộc cuộc tranh chấp về hải đảo, Hoa Lục càng ngày càng tỏ rõ ý chí bá quyền khu vực của mình. Đối với nhân dân mình, nhà cầm quyền Hoa Lục đã có không biết bao hành động dã man, đàn áp, sẵn sàng thách đố dư luận thế giới, nhất là qua cuộc đàn áp Thiên An Môn, Tây Tạng, việc cầm tù những nhà tranh đấu dân chủ, và gần đây nhất lại đe dọa các nước đang làm ăn với Hoa Lục là “phải chịu hậu quả” nếu cử đại diện dự lễ trao giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2010 cho công dân Lưu Hiểu Ba, đang còn ở trong tù vì tranh đấu cho dân chủ, thì các nước láng giềng e dè, lo ngại là có lý do chính đáng.

Hoa Lục là một thành viên thường trực có quyền phủ quyết của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc; có chân trong mọi tổ chức quan trọng của LHQ; được G-20 xem như một trong vài quốc gia hàng đầu của các nước đang phát triển và cho thêm nhiều quyền hạn trong việc quyết định chính sách của Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Điều sau này chứng tỏ vai trò của Bắc Kinh càng ngày càng quan trọng đối với cộng đồng thế giới.  Được chấp cánh kinh tế, Hoa Lục có tiềm năng là một bá quyền thế giới đang lên mà Hoa Kỳ ý thức là phải kiềm hãm và cạnh tranh ráo riết. Xưa kia, Hoàng đế Nã Phá Luân đã từng e ngại con rồng Trung Hoa bị đánh thức.

Về phương diện ngưỡng mộ, thì rõ ràng hầu như cả thế giới đều tự hỏi làm thế nào mà kinh tế Hoa Lục tiến nhanh và tiến mạnh như vậy. Ngày nay khi đi mua sắm, quả thật đâu đâu người ta cũng thấy hàng tiêu dùng “Made in China” do các công ty nổi tiếng trên thế giới đặt Hoa Lục gia công, cũng như sản phẩm từ các địa phương Hoa Lục được các công ty nước ngoài phân phối. Người viết còn nhớ là vào năm 1973 khi đang theo một chương trình tu nghiệp về kinh tế tại một đại học miền Nam California, đã xuống phố chợ (downtown)  Los Angeles xem một phòng trưng bày sản phẩm Hoa Lục. Ngoài đồ sứ, áo lụa, sơn mài, tức các sản phẩm “ruột”, và các sản phẩm đặc trưng khác như thuốc Bắc, đũa, quạt vv., sản phẩm “tiên tiến” nhất trong phòng là một chiếc máy ảnh, trông rất thô kệch, kém xa chiếc máy ảnh Canon Net 1.9 mang theo được người viết mua ở tiệm Long Biên đường Tự Do Saigon năm 1966. Người viết đã đi xe bus đến viếng phòng triển lãm chỉ vì tò mò muốn xem vị giáo sư kinh tế quốc tế của mình nói có đúng không: “Hoa Lục chẳng có gì để chúng tôi mua. Chúng tôi không dùng đũa, trong khi đó họ cần thuốc aspirin. Mỗi người dùng một viên mỗi ngày, chúng tôi cũng kiếm được khá nhiều lợi nhuận.”

Ngày nay, sự thật lại trái ngược hẳn: Năm 2009, Hoa Lục xuất cảng sang Mỹ trị giá 296.374 triệu đô la trong khi chỉ mua hàng Mỹ trị giá 69.497 triệu, tức Hoa Lục xuất siêu 226.877 triệu đô la.  Ký giả Sara Bonjiorni đã thú vị tường thuật lại những cảnh khó khăn vất vả mà gia đình 4 người của bà đã phải gặp trong suốt một năm dài, sau khi họ quyết định tẩy chay hàng hóa mang nhãn hiệu “Made in China.” Lý do: Hàng hóa Hoa Lục xuất hiện ở hầu hết mọi nơi mà gia đình bà định đến mua sắm! *(1)

Sức mạnh của Hoa Lục, cũng như sức mạnh của các cường quốc xưa nay đều bắt nguồn từ kinh tế. Đây là sự thực hiển nhiên, khó chối cãi được –Hoa Kỳ từ Thế Chiến thứ Nhất đến nay là trường hợp điển hình. Suất số tăng trưởng kinh tế trung bình gần10% mỗi năm trong ba thập niên vừa qua đã đưa Hoa Lục lên địa vị cường quốc kinh tế thứ nhì thế giới, sau Hoa Kỳ, nghĩa là Hoa Lục đã lần lượt vượt qua Pháp và Anh (2005), Đức (2008) và Nhật (6/2010). Tuy nhiên theo tài liệu của World Bank, tổng sản lượng quốc nội theo đầu người (GDP per capita) của Hoa Lục vẫn còn quá thấp đối với nhiều nước trên thế giới: chỉ là 3.678 đô la (đứng hàng thứ 98) so với Hoa Kỳ (46.381 đô la, đứng hàng thứ 9) và Nhật (39.731 đô la, đứng hàng thứ 17). Theo lý luận Maxít, “nhiều lượng biến thành chất” (phẩm), thì vị thế kinh tế mới này cũng làm thỏa mãn phần nào tự ái của một dân tộc đã từng chịu “một thế kỷ nhục nhã” (Century of Humiliation) – do chính người Hoa đau đớn đặt ra để gợi nhớ sự xấu hổ vì bị xâu xé bởi các liệt cường Tây phương hồi thế kỷ 19 – và bị Nhật Bản tàn sát diệt chủng tại nhiều nơi (chỉ riêng ở Nanjing đã có 300.000 bị giết và 20.000 phụ nữ bị hãm hiếp, Nanjing Massacre) giữa  Đệ Nhị Thế Chiến.

BỐN YẾU TỐ PHÁT TRIỂN

Nói một cách  tổng quát, mô thức phát triển của Hoa Lục là tận dụng lao động; huy động tối đa tư bản qua đầu tư trong nước và đầu tư từ nước ngoài; đặt trọng tâm vào công nghiệp chế biến để ưu tiên xuất cảng lấy ngoại tệ mua máy móc nguyên liệu, cũng như dự trữ phòng thân, sau đó mới dành ra cho tiêu thụ nội địa; và nhà nước can thiệp vào các hoạt động kinh tế qua các kế hoạch ngũ niên, cũng như sự chỉ đạo hằng ngày của Đảng Cộng Sản qua các chương trình phát triển, dự án đầu tư địa phương cũng như tiền tệ ngân hàng, mặc dầu vẫn khuyến khích cạnh tranh để tăng phẩm chất và hạ giá thành sản xuất qua kỹ thuật chế biến tiên tiến hơn.

Hai câu hỏi thường được đặt ra là: Nhờ đâu mà kinh tế tăng trưởng nhanh như thế, và Hoa Lục có thể giữ mãi suất số tăng trưởng này hay không, và chính sách phát triển kinh tế của Hoa Lục sẽ ảnh hưởng thế nào đối với các nước đang phát triến về phương diện chính trị trong hoàn cảnh suy thoái của kinh tế Hoa Kỳ và Tây Phương?

Dưới đây là 4 yếu tố thường được đưa ra phân tích để trả lời câu hỏi thứ nhất.

Lao Động Rẻ

Trả lời câu hỏi thứ nhất, nhiều người nghĩ ngay rằng kinh tế Hoa Lục tiến nhanh là nhờ lao động rẻ, được cung cấp bởi một dân số khổng lồ. Điều đó đúng. Diện tích tuy nhỏ hơn Hoa Kỳ chút ít, nhưng dân số Hoa Lục lại trên 4 lần nhiều hơn.  Theo CIA, dân số Hoa Lục năm 2009 ước tính là 1.339 triệu, trong đó 72,1% thuộc lứa tuổi 15-64, thường được xem là lứa tuổi làm việc, đặc biệt ở nông thôn.*(2) Theo một dự phóng, dân số Hoa Lục sẽ tiếp tục tăng trong 20 năm nữa, lên đến1.391 triệu người năm 2030; rồi sau đó mới xuống từ từ. Điều này có nghĩa là lao động Hoa Lục vẫn còn tiếp tục rẻ và nhờ đó hàng hóa Hoa Lục vẫn còn có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trong thời kỳ những kế hoạch ngũ niên dưới thời Đặng Tiểu Bình, đại đa số dân chúng đều ít học, do ảnh hưởng cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Mao. Theo thống kê năm 2000, trong số dân tuổi từ 15 trở lên, có đến 15,6% chưa từng đến trường hay chưa xong tiểu học; 35,5% xong chương trình tiểu học; 34% xong một phần chương trình trung học; 11,1% xong trung học; xong hoặc chưa xong 3,6% hậu trung học. Từ 1986 trở đi, chính sách cưỡng bách giáo dục được áp dụng cho trẻ em. Ngân sách giáo dục năm 2004 lên đến 2,79% GDP. Cùng năm có 20 triệu sinh viên bậc đại học mà con số theo ngành kỹ sư nhiều hơn Hoa Kỳ 4 lần, tuy số theo học chương trình cao học và tiến sĩ chỉ bằng phân nửa. Trong thập niên 1980 đã có hằng chục ngàn sinh viên Hoa Lục du học Bắc Mỹ và trở về. Việc bãi bỏ chế độ hộ khẩu giúp cung ứng hàng trăm triệu lao động thiếu kỹ năng cho kỹ nghệ chế biến trong các khu công nghiệp đặc biệt và thành thị. Nói chung, người Hoa là một dân tộc cần cù — một đặc tính mà người Việt chúng ta cũng thường hãnh diện khi nói về mình. Khi Bắc Kinh mở cửa, đầu tư nước ngoài đổ xô vào kỹ nghệ chế biến sử dụng nhân công ít kỹ năng với giá rẻ. Trong hai thập niên sắp tới, tỷ lệ của số người trong hạn tuổi sản xuất sẽ sụt giảm chút ít, nhưng vẫn còn đông. Và số người có trình độ học vấn khá hơn sẽ tăng thêm, khiến cho năng suất nhân công cải tiến hơn hiện nay.

Trong hai năm vừa qua, xuất cảng không còn cao như trước vì nhu cầu nhập cảng của ngoại quốc giảm do cuộc khủng hoảng kinh tế tài chánh. Mặc dù chính quyền ra tay trợ giúp các ngành sản xuất để tăng cường tiêu thụ nội địa, nhưng hàng trăm ngàn xí nghiệp phải đóng cửa và hàng chục triệu công nhân phải trở về quê quán.  Với dân số càng ngày càng đông do tỷ lệ tử vong càng ngày càng nhỏ, nếu muốn duy trì mức sống như hiện nay thì trong những năm sắp tới, suất số tăng trưởng kinh tế hằng năm phải ít nhất là 7%. Đây quả là một thử thách lớn đối với Bắc Kinh.

Bắc Kinh đã đi khắp cùng thế giới, dùng mọi phương cách và ảnh hưởng kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá vv. nhằm bảo đảm nguồn nhiên liệu và nguyên liệu, nhưng liệu Hoa Lục có còn duy trì được mức tăng trưởng hiện nay hay không? Trong việc đi mưu tìm nguồn nguyên và nhiên liệu này, Hoa Lục chắc khó tránh khỏi xung đột với các cường quốc kinh tế khác cũng như đối với các nước cung cấp, đặc biệt là các nước lân bang.

Bấy lâu nay, Hoa Lục chủ trương sản xuất để xuất khẩu, tiết kiệm rồi tái sản xuất, đè nén tiêu thụ. Khi cuộc khủng hoảng tài chánh thế giới khởi đầu năm 2009, Hoa Lục tung một số tiết kiệm lớn tương đương 585 tỷ đô la để kích nền kinh tế. Con số này tuy nhỏ so với 700 tỷ đô la của Hoa Kỳ, nhưng lại là một con số to tát đối với kinh tế Hoa Lục, và được dùng vào các công trình tân tạo hay tái thiết hạ tầng cơ sở như đường xe lửa, đường bộ, cầu cống, hệ thống điện, nhà máy, vv. cũng chủ yếu dùng cho sản xuất. Nói chung, tiêu dùng chiếm một tỷ lệ càng ngày càng nhỏ đi: chỉ 35% nền kinh tế năm 2009 so với gần 50% hồi năm 2000; trong khi đó đầu tư tăng từ 35% lên 44%. Trong tương lai không xa, nếu không tiếp tục bị đè nén, thì tỷ lệ tiêu thụ sẽ tăng lên, đặ biệt về giáo dục, y tế và hưu trí: Hiện nay các chi phí này chỉ là 5 – 6% GDP, so với 25% ở các nước Tây phương. Trước áp lực của dân chúng và đồng thời nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, tỷ lệ này sẽ phải tăng nhanh, do đó và Hoa Lục khó có thể giữ lâu dài tỷ lệ đầu tư hiện nay.

Cũng cần nói thêm, với dân số lớn lao, Hoa Lục — cũng như 3 quốc gia đang lên khác trong nhóm BICS (Brazil, India, China, South Africa, được các kinh tế gia xem là 4 nền kinh tế lớn đang lên) — là thị trường tiêu thụ quốc nội rất thuận lợi cho việc phát triển của nhiều ngành công nghiệp nhẹ cũng như công nghiệp nặng trong nước. Không cần phải trông cậy vào xuất cảng, các nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng, máy công cụ, xe hơi, phi cơ vv. đã có sẵn thị trường tiêu thụ trong nước, để cho các nhà máy tiếp tục hoạt động bình thường trong nhiều thập niên. Đó là một trong những điều kiện phát triển lý tưởng mà các kinh tế gia thường mơ ước trước khi kinh tế toàn cầu hoá xuất hiện.

Khi nói tới dân số, nhiều người chỉ xem nó như một yếu tố sản xuất, hay số cầu tổng gộp như trên, nhưng chúng ta cũng đừng quên đó là cũng những miệng ăn, hoạt động nhiều lần một ngày! Hoa Lục có trên 1,3 tỷ miệng ăn, trong lúc đất khả canh lại hạn chế. Trong mấy năm vừa qua, chính quyền khuyến khích đa loại hóa thực phẩm, chẳng hạn luân canh trồng thêm nhiều khoai tây, bắp giữa các mùa lúa hầu tăng cường lương thực. Như chúng ta thường biết, tại hầu hết các nước nông nghiệp trên thế giới thực phẩm chiếm 30-35% lợi tức gia đình. Hoa Lục cũng là một xứ nông nghiệp (như sẽ phân tích sau), hằng trăm triệu người có lợi tức thấp phải dành 60-70% lợi tức gia đình cho thực phẩm, cho nên mỗi khi giá thực phẩm trong nước tăng trung bình 5% — nghĩa là 20-25% đối với hằng trăm triệu người này, thì cả nước sẽ không dễ gì yên. Hoa Lục không phải là một nước mưa thuận gió hòa; thiên tai vẫn thường xảy ra. Chỉ cần một khu vực nông nghiệp quan trọng nào đó bị thất mùa hay bị dịch gia cầm xảy ra như mấy năm trước, thì chính quyền chắc chắn sẽ gặp không ít khó khăn về phương diện cung cấp lương thực. Đó là mặt khá bất lợi của tình trạng đông dân của Hoa Lục.

Đầu Tư Ngoại Quốc

Với vô số mặt hàng Made in China, nhưng lại mang nhãn hiệu của các công ty nổi tiếng thế giới, người ta thường nghĩ rằng kinh tế Hoa Lục phát triển chủ yếu là nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investment, FDI). Điều đó chỉ đúng phần nào. Thật vậy, sau khi Hoa Lục mở cửa, đầu tư nước ngoài bước vào, tuy có tăng dần, nhưng với tốc độ dè dặt vì các nhà đầu tư chưa tin tưởng ở sự ổn định chính trị của Bắc Kinh, cũng như khá nản lòng về thủ tục rườm rà, bắt chẹt của nhà cầm quyền các cấp. Khởi đầu với 1,3 tỷ đô la năm 1984, mỗi năm FDI chỉ tăng lên vài trăm triệu. Phải đợi đến năm 1992, tức sau biến cố Thiên An Môn và cam kết tiếp tục cải cách của Bắc Kinh, FDI mới vọt lên 11 tỷ, tức hơn gấp đôi con số 4,4 tỷ năm truớc. Rồi sau khi Hoa Lục được gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (World Trade Organization) năm 2001, FDI tăng rất nhanh, lên đến 92,4 tỷ năm 2008. Từ nhiều năm qua, Hoa Lục vẫn là nước dẫn đầu thế giới trong việc thu hút FDI.*(3)

Tuy con số tuyệt đối lớn, nhưng trong những thập niên vừa qua FDI chỉ chiếm khoảng 5-7% tổng đầu tư tại Hoa Lục – cùng tỷ số như Thái Lan và Mã Lai. Phần đầu tư còn lại là do tiết kiệm quốc nội – tức từ các xí nghiệp quốc doanh và tư nhân. Theo truyền thống, trong các nước thiếu an sinh xã hội, khi hưu liễm không đủ nuôi tuổi già, thông thường người ta đành phải lo tiết kiệm. Vả chăng, với số tiêu thụ phẩm sản xuất quốc nội ít ỏi và chính quyền chỉ cho nhập cảng hạn chế, dân chúng không còn cách nào hơn là phải tiết kiệm vậy. Hoa Lục cũng ở trường hợp đó. Trong các thập niên 1970 và 1980, tỷ lệ tạo lập tư bản cố định (fixed capital formation) đã là 30% TSLQN; tăng lên 35% trong thập niên 1990 và 40% trong thập niên 2000. Khoảng 80% tiết kiệm của dân chúng nằm trong 4 ngân hàng quốc doanh lớn. Năm 2004, Hoa Lục tự đầu tư 1.500 tỷ đô la, tức 50% TSLQN. Như vậy, suất số tăng trưởng 9.5% mỗi năm không phải là điều đáng ngạc nhiên. Nói chung, suất số tăng trưởng cao là nhờ đầu tư nhiều, chứ không phải do hiệu quả đầu tư cao. Lại một lần nữa, “nhiều lượng biến thành chất!” Hai nước Nhật và Nam Hàn cũng không trông cậy vào đầu tư ngoại quốc trong thời gian đầu phát triển, cũng như sau khi đã phát triển, nhưng hiệu quả đầu tư lại cao hơn. Trong trường kỳ, 10 năm nữa chẳng hạn, mức tiết kiệm của dân chúng sẽ không còn cao như hiện nay; và sự lệ thuộc vào tiết kiệm của các xí nghiệp quốc doanh và số ngân hàng quyền lực nói trên sẽ ảnh hưởng không tốt cho đầu tư và phát triển Hoa Lục, nhất là khi xảy ra khủng hoảng tài chánh tương tự như trường hợp ở Á châu thập niên 1990; và suy thoái kinh tế như trong hai năm vừa qua.

Năm 2007, ngoại quốc đầu tư vào Hoa Lục 75 tỷ đô la (84 tỷ theo CIA), trong khi Hoa Lục đầu tư ra ngoại quốc 118 tỷ. Đến cuối tháng 4/2009, Hoa Lục đã tích lũy 2.000 tỷ đô la (2 trillion), dùng một phần không nhỏ mua công khố phiếu Hoa Kỳ –gián tiếp tài trợ cho thị trường địa ốc Hoa Kỳ khiến cho giá nhà đất Hoa Kỳ rẻ hơn so với các nước khác trước khi nó bị suy sụp. Sự thặng dư đô la khổng lồ nhờ xuất cảng của Hoa Lục khiến chính giới Hoa Kỳ nhiều lần phản kháng, cho rằng Bắc Kinh đã sử dụng mánh lới (manipulate) để giữ cho đồng nhân dân tệ ở giá thấp so với đồng đô la. Thậm chí ngày 29/09/10 vừa qua, Hạ Viện đã ra dự luật “Currency Reform for Fair Trade Act” (với 348 phiếu thuận trong đó có 100 phiếu của dân biểu Cộng Hòa, và 79 phiếu chống) để nhằm thúc ép Bắc Kinh tăng giá đồng nhân dân tệ, nhưng lập trường Bắc Kinh vẫn không tỏ ra suy suyển mấy, với dẫn chứng là trong thời kỳ 2005-2008, đồng nhân dân tệ tăng giá 21%, mà cán cân mậu dịch vẫn nghiêng về Hoa Lục. Bắc Kinh lại còn lý luận rằng đồng nhân dân tệ mạnh sẽ giúp Hoa Lục tăng tiêu thụ, nâng cao đời sống nhân dân xứ này –có nghĩa là “chúng tôi” sẽ nhập cảng nhiều thêm từ khắp nơi trên thế giới kể cả từ Hoa Kỳ — và đẩy mạnh sản xuất toàn cầu. Một lý luận nghe có sức thu hút và có thể thuyết phục được nhiều người!

Trong những tháng gần đây trên Hoa Lục đã xảy ra nhiều cuộc đình công đòi tăng lương ở vài các công ty lớn ngoại quốc – dĩ nhiên với sự đồng ý của Đảng ủy và chính quyền — rồi có thể sẽ xảy ra tại các công ty ngoại quốc nhỏ, đồng thời với những đòi hỏi các công ty ngoại quốc phải chuyển nhượng kỹ thuật quan trọng, Bắc Kinh cho thấy đã đến lúc ngoại quốc cần Hoa Lục, chứ không còn cảnh Hoa Lục phải nài nỉ xin xỏ ngoại quốc nữa.

Tuy tỷ lệ giữa FDI và tổng đầu tư không cao, nhưng đầu tư nước ngoài đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng: nó kích thích sự canh tân và cải tiến kỹ thuật trong nước (kể cả việc bắt chước, giả mạo, ăn cắp bản quyền vv), đầu óc kinh doanh, cạnh tranh vốn có sẵn của người Hoa đã bị kiềm chế dưới thời Mao Trạch Đông. Hoa Lục còn được sự yểm trợ của Hoa Kiều rải rác khắp thế giới, một cái gạch nối hữu hiệu cho việc huy động vốn vào và phân phối sản phẩm ra ngoài nước.

Trình Độ Khoa Học Kỹ Thuật

Nếu tố thứ ba giúp kinh tế Hoa Lục tăng nhanh là trình độ khoa học kỹ thuật của mình. Hoa Lục sản xuất bom hạt nhân, vệ tinh, hỏa tiễn, phi cơ chiến đấu. Điều đó chứng tỏ họ có trình độ khoa học kỹ thuật quân sự cao. Dĩ nhiên trình độ khoa học kỹ thuật trong các pham vi khác cũng ở một mức độ nào đó, chứ không thể gọi là quá kém.  Điều may mắn cho họ là khi khoa học kỹ thuật được toàn cầu hóa, trình độ khoa học kỹ thuật của Hoa Lục đủ khả năng giúp họ tiếp thu và sử dụng khá tốt cho kỹ nghệ chế biến; bởi lẽ, nếu không thì không mấy công ty toàn cầu thuê mướn họ chế biến sản phẩm để sau đó không thể tiêu thụ trên thị trường thế giới do thiếu tiêu chuẩn.  Có thể nói về thời gian tính, Hoa Lục may mắn hơn Liên Xô trước khi tan rã ; và về trình độ khoa học kỹ thuật, Hoa Lục có đủ trình độ để chụp lấy cơ hội  hơn một số nước khác châu Á, châu Mỹ Latin và châu Phi. Mấy năm trước đây, Hoa Lục đã mua một bộ phận của IBM, định từ đó tung máy tính điện tử mang nhãn hiệu Lonovo của mình trên toàn thế giới, nhưng họ đã không thành công và đành rút lui ngược trở về lục địa. Nếu trước đây, Nhật thuyết phục được thế giới về trình độ kỹ thuật của mình bằng sản phẩm nhỏ đặc trưng Walkman, thì cho đến hôm nay, Hoa Lục vẫn chưa làm được việc đó. Mặc dầu đi đâu cũng gặp hàng “Made in China”, giá từ vài chục xu, tới vài ngàn đô la, nhưng đó chỉ là những mặt hàng Hoa Lục gia công cho các công ty lớn nhỏ Tây phương. Nhân tiện đây, nếu có độc giả nào thích bia Tsingtao và cho đó là “đặc sản” của Hoa Lục, thì xin nghĩ lại: hãng bia này được người Đức thành lập năm 1903; bị cách mạng vô sản tịch thu năm 1949 và được “chỉnh huấn” năm 1993 cùng với cuộc cách mạng toàn cầu hóa, nên mới được chút ít tiếng tăm như ngày nay!

Về phương diện chuyển nhượng kỹ thuật, ngay từ những năm đầu mở cửa đón đầu tư ngoại quốc, Hoa Lục đã đòi hỏi các công ty nước ngoài chuyển nhượng nhiều kỹ thuật tân tiến cho địa phương. Gần đây, sự thôi thúc lại càng mạnh mẽ quyết liệt hơn. Nhưng bù lại, các đối tác địa phương sẵn sàng ký hợp đồng liên doanh, hoặc chính quyền địa phương dành cho nhiều thuận lợi. Do đó nhiều công ty Tây phương, vì lợi nhuận hấp dẫn, đã thiết lập cơ xưởng sản xuất cũng như bộ phận nghiên cứu ở Hoa Lục. Nói cách khác, Tây phương vừa tạo công ăn việc làm cho dân Hoa Lục, vừa giúp Hoa Lục tiến bộ nhanh về khoa học kỹ thuật — tự đào huyệt chôn mình về phương diện cạnh tranh trong tương lai. Đại công ty Hoa Kỳ Intel có lẽ vì không đồng ý chuyển nhượng, hoặc không muốn kỹ thuật bị đánh cắp, nên mới xây dựng nhà máy sản xuất thứ 7 của mình tại Saigon với phí tổn 1 tỷ đô la, mở cửa vào cuối tháng 10 năm nay, dùng đến 4000 công nhân khi toàn dụng, trong đó có hàng chục kỹ sư Việt Nam mà Intel đài thọ du học tại Portland, vì ngay từ đầu giáo dục Việt Nam đã không cung cấp đủ vài chục kỹ sư có đủ trình độ chuyên môn cũng như về Anh ngữ. Trong khi đó, General Electric đã sản xuất tại Hoa Lục nhiều bộ phận của động cơ sử dụng sức gió, công ty Applied Materials nổi tiếng thế giới, chuyên cung cấp khí cụ làm các panel năng lượng mặt trời cũng đã di chuyển phòng nghiên cứu và thí nghiệm sang nước này vv. *(4)

Với đà chuyển nhượng kỹ thuật này, nhiều người lo ngại là không bao lâu nữa, Hoa Lục sẽ thành một nước công nghiệp tiên tiến. Hiện nay, mặc dầu là một cường quốc kinh tế, nhưng trình độ kỹ thuật cũng chưa thể so với Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nhật vv. Tuy tỷ lệ đóng góp của khu vực công nghiệp vào TSLQN càng ngày càng tăng, từ 32% năm 1990, lên 42% năm 1995 và sau đó càng ngày càng tăng dần, lên đến 46% năm 2004 – so với tỷ lệ đóng góp của khu vực nông nghiệp giảm dần, từ 29% năm 1990, xuống 13% năm 2004 – trong khi nông thôn chiếm 45% lực lượng lao động toàn quốc, nhưng sự đóng góp này chủ yếu do kỹ nghệ chế biến, 35% vào năm 2004 *(5)

Đối với sản xuất, người ta thường đề cập đến năng suất của các yếu tố sản xuất (factor productivity), tức mối quan hệ giữa sản phẩm hay dịch vụ và các yếu tố được dùng sản xuất ra chúng (đất đai, tư bản, lao động). Sự đo lường năng suất tổng gộp của các yếu tố sản xuất (total factor productivity, TFP) của một nền kinh tế được coi là khó trên thực tế, vì tỷ lệ đóng góp của các yếu tố sản xuất để sản xuất ra một sản phẩm hay dịch vụ thường thay đổi theo thời gian, và thành phần của mỗi yếu tố đối với sự thay đổi của xuất lượng cũng khó mà phân cách ra được. Theo GS Pranab Bardhan của UC Berkley, tuy TFP của kinh tế Hoa Lục tăng 3,1 % trong thời kỳ 1978-1993 và gấp đôi trong thời kỳ 1994-2004, nhưng phần lớn hàng chế biến lại là lắp ráp, chế biến vật liệu và các bộ phận. Theo ông, thì giá trị phụ thêm của khu vực chế biến của kinh tế Hoa Lục đối với toàn cầu chỉ là 9%, khá thấp so với Nhật (21%) và Hoa Kỳ (24%), và cũng luôn luôn thấp hơn Đài Loan và Đại Hàn trong suốt 26 năm từ ngày đổi mới. Cũng theo GS Bardhan, trong hơn 2 thập niên vừa qua, sự tăng trưởng của TFP, tức sự tiến bộ của kỹ thuật, là nhờ chuyển từ khu vực quốc doanh sang khu vực tư doanh, nơi mà TFP cao hơn nhiều *(6)

Từ nhiều năm nay, Hoa Lục không ngừng tăng cường công tác gián điệp công nghiệp và vi phạm quyền sáng chế phát minh nước ngoài để vừa làm vừa học. Nay đến lúc họ thấy cần phải đạt chú trọng nhiều hơn vào các công nghiệp với kỹ thuật cao (high tech).  Do đó, họ sẵn sàng trả lợi nhuận hấp dẫn để chiêu dụ các công ty kỹ thuật tiên tiến ngoại quốc như đã đề cập ở trên. Mặt khác, Hoa Lục buộc phải dành một khoản kinh phí cao cho công tác nghiên cứu và phát triển (Research & Development). Tương lai của kỹ thuật tiên tiến của Hoa Lục tùy thuộc không ít vào kết quả công tác của lãnh vực này, một lãnh vực tốn hao và nhiều rủi ro, dễ đưa đến thất bại. Nếu không thành công trong lãnh vực này, Hoa Lục –cũng như Ấn Độ– chỉ là “những anh khổng lồ thức tỉnh, chân bằng đất sét” (awakening giants, feet of clay) như GS Barhan phân tích.

Đường Lối Phát Triển

Yếu tố thứ tư giúp kinh tế Hoa Lục tăng trưởng nhanh là đường lối phát triển kinh tế của của Bắc Kinh mà nhiều người cho là thích nghi. Dĩ nhiên dù là kinh tế tư bản hay kinh tế chỉ huy thì nhà nước vẫn có vai trò của nó. Vấn đề đặt ra là qua đường lối chính trị độc đảng, suất số tăng trưởng cao còn có thể tiếp tục đến bao lâu, và nhất là đời sống của đại bộ phân dân số có được tốt đẹp hơn hay không? Trong mục này, người viết xin phép dài dòng hơn để cùng ôn lại một chút lịch sử cận đại của Hoa Lục.

Sau cái chết của Mao Trạch Đông, đảng Cộng Sản và nhân dân Hoa Lục cũng như thế giới vẫn không thể nào quên được những hậu quả kinh hoàng của 3 cuộc vận động chính trị, kinh tế và văn hóa mà Hoa Lục đã trải qua. Trước hết, là cuộc vận động “Trăm Hoa Đua Nở” (Let a Hundred Flowers Bloom and a Hundred Schools of Thought Contend, khởi đầu năm 1957) dụ dỗ những nhà trí thức tôn trọng tư tưởng truyền thống văn hóa Khổng giáo, Lão giáo vv. mạnh dạn phát biểu tư tưởng của mình hòng tranh thủ sự chú ý và nâng đỡ của chính quyền địa phương, cũng như cho phép giáo sư, sinh viên phát biểu ý kiến, hay viết ra cảm nghĩ ra giấy và dán trên tường.  Để rồi sau đó có bằng chứng về tư tưởng bị cho là hữu khuynh và bị thanh trừng (the Anti-Rightist Campaign). Kế đến là cuộc vận động “Bước Tiến Nhảy Vọt” (Great Leap Forward 1958-1961) mà mục tiêu của Mao là biến Hoa Lục thành một nước công nghiệp với những “lò luyện thép” từ thành thị đến xóm làng hẻo lánh. Hậu quả là nạn đói giết không dưới 20 triệu người, khiến ở một vài vùng thôn quê người ta đành trao đổi nhau con nhỏ của mình để cùng có thịt mà ăn! Rồi đến“Cuộc Cách Mạng Văn Hóa” (Cultural Revolution, 1966-1968), qua đó Mao dùng Hồng Vệ Binh để thanh toán, tù đày những đối thủ chính trị dám chống lại đường lối kinh tế của mình, trong đó có Đặng Tìểu Bình, một đảng viên kỳ cựu theo Mao từ thời kỳ chống Tưởng Giới Thạch, chỉ vì ông ta đã dám tuyên bố “Mèo trắng mèo đen chẳng có gì quan trọng, miễn bắt được chuột.” Cuộc vận động văn hoá này còn kéo dài dai dẳng tới 1975: tù đày trí thức, phá hủy hệ thống giáo dục (mở cửa lại trường học với chương trình “giáo dục cách mạng”, đào tạo “bác sĩ chân đất” cho vùng quê vv.) cũng như làm hỏng đi các tổ chức kinh tế hiện hữu (công nhân chia sẻ quyền điều hành nhà máy, tưởng thưởng vật chất bị bãi bỏ vv.). Giai đoạn 1966-1975 được người dân Hoa Lục gọi là “thế kỷ bị đánh mất” (the lost decade).*(7)

Tuy nhiên, bên cạnh những hậu quả tàn hại trên, Mao cũng để lại những đóng góp tích cực làm nền móng cho cuộc cải cách kinh tề sau này với các kế hoạch ngũ niên mà hiện nay Bắc Kinh vẫn còn chủ yếu sử dụng như công cụ phát triển.*(A) Sau cuộc cải cách ruộng đất (1950-52) nhằm tái phân ruộng đất cho nông dân nghèo, Mao đưa ra Kế Hoạch Ngũ Niên Thứ Nhất (1953-56) với sự trợ giúp của 6000 chuyên viên kinh tế và kỹ thuật Liên Xô nhằm xây dựng cơ sở cho kỹ nghệ nặng với những nhà máy luyện thép, nhà máy phát điện sử dụng than đá, nhà máy sản xuất xi măng, vv. Những kế hoạch sau đó nhằm xây dựng hạ tầng cơ sở (đường hỏa xa, đường bộ, các nhà máy sản xuất phân bón, hàng tiêu dùng vv.). Nói chung, những công trình này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế về sau. Từ giữa thập niên 1970, Hoa Lục là một trong 10 nước sản xuất dầu hỏa hàng đầu thế giới, mỗi năm sản xuất đến 1 triệu barrels dầu thô, lúc đó dư dùng và xuất cảng lấy ngoại tệ để nhập cảng máy móc công cụ. Từ 1952 đến 1978, sản lượng nông nghiệp tăng trung bình 3, 2%/năm, trong đó sản lượng ngũ cốc tăng 2,4% trong khi dân số chỉ  tăng 2,2%/năm (từ 575 triệu lên 963 triệu), thặng dư chút ít để xuất cảng hầu nhập cảng máy móc yểm trợ khu vực công nghiệp. Có thể nói người nông dân trong giai đoạn này phải chịu nhiều thiệt thòi, không được phép tiêu dùng ở mức độ phải chăng và phải nuôi thành thị; phải thực hiện “các nghĩa vụ lao động xã hội chủ nghĩa” khác, như xây các đập nước, đường sá, cầu cống vv. vào những lúc giao mùa, ngay cả vào những mùa đông rét buốt chết người.

Khi nắm thực quyền, Đặng Tiểu Bình khôn khéo duy trì hình ảnh và những đóng góp tích cực của Mao để nhằm duy trì đoàn kết nội bộ đảng – 78 triệu đảng viên hiện nay – cũng như đối với dân chúng. Chủ trương này tương đối thành công. Đại Hội Đảng lần 3 (tháng 7/1978) ủng hộ chính sách của họ Đặng “tìm kiếm sự thật qua sự kiện” (“seeking truth form facts”).  Thủ Tướng Lý Quang Diệu, với hy vọng là các doanh gia Singapore sẽ được chấp nhận là những nhà đầu tư ngoại quốc tiền phong vào Hoa Lục, đã trải thảm đỏ mời họ Đặng, và sau đó lần lượt hàng trăm cán bộ Hoa Lục khác, đến viếng Singaopore để biết thế nào là kinh tế thị trường.Mãi đến Đại Hội Đảng lần thứ 11(tháng 7/1981), những sai lầm của Mao mới bị công khai phê phán. Hoa Quốc Phong tuyên bố chủ trương “Bốn Hiện Đại Hoá” (Four Modernizations, gồm 4 lãnh vực canh nông, kỹ nghê, quốc phòng và khoa học kỹ thuật); Hồ Diệu Bang thay Hoa kêu gọi “cải cách và cởi mở” (reform and opening up). Nhiều kinh tế gia Tây phương, trong đó có Giáo Sư Milton Friedmon của University of Chicago, giải Nobel Kinh Tế Học 1976, được mời sang diễn giảng về kinh tế thị trường. Sách của ông cũng như của Friedrich Von Hayek và nhiều kinh tế gia Tây Phương khác được dịch ra tiếng Hoa và bán rất chạy. (Trong khi đó, ở Việt Nam thì mãi đến 1989-90, Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch mới cho dịch quyển sách giáo khoa kinh tế nhập môn  Economics của Paul Samuelson xuất bản lần thứ 9 sang tiếng Việt. Hồi đầu thập niên 1960, GS Nguyễn Cao Hách và Nguyễn Ngọc Linh đã dịch ấn bản lần thứ 5).

Tiến trình cải cách kinh tế của Hoa Lục bắt đầu từ tháng 10/1978. Bước đầu là khu vực nông nghiệp, lúc đó chiếm 80% dân số. Nông sản được nhà nước thu mua với giá cao hơn hẳn. Các hợp tác xã và nông trường nông nghiệp lần lượt bị bãi bỏ. Các hộ dân được ký hợp đồng sử dụng ruộng đất tập thể ngắn hạn lúc ban đầu, và về sau thành hợp đồng dài hạn, thậm chí còn được phép cho người khác thuê lại, chỉ phải giao nộp một phần cho nhà nước, phần còn lại được cho phép bán trên thị trường tự do. Do sự cởi trói này và nhờ thời tiết thuận lợi đầu thập niên 1980, nông dân được trúng mùa và đời sống được cải tiến hơn.

Trong lãnh vực công nghiệp nhẹ, cũng từ đâu thập niên 1980, một số khu kinh tế đặc biệt (special economic zones) đã được thiết lập ở một vài tỉnh duyên hải phía Nam: Zhuahai và Shantou (tỉnh Quảng Đông, Guangdong), Xiamen (tỉnh Phúc Kiến, Jujian) và toàn bộ tỉnh đảo Hải Nam (Hainan). Đến năm 1984, thêm nhiều khu kinh tế đặc biệt cũng được phép mở cửa tại 14 thành phố duyên hải khác, trong đó có cả Thượng Hải (Shanghai), một thành phố được thế giới biết đến như là một trung tâm công nghiệp, thương mại và văn hóa lâu đời là nơi mà Bắc Kinh trước đó vì lý do uy tín chính trị cương quyết không mở cửa cho người ngọai quốc vào kinh doanh. Tại những nơi này, chính quyền địa phương ưu tiên cung cấp hạ tầng cơ sở: đường sá, cơ xưởng, điện nước, bến cảng vv. cũng như tạo các điều kiện dễ khác trong việc thu dụng nhân công từ thôn quê chẳng hạn bãi bỏ chế độ hộ khẩu (hukou), hay miễn giảm thuế trong những năm đầu kinh doanh. Tất cả đều nhằm mục đích thu hút các công ty nước ngoài hoặc tự mình hoặc liên doanh với các công ty địa phương để kinh doanh, chế biến sản phẩm, để chủ yếu xuất cảng lấy ngoại tệ.  Đó cũng là nơi hàng ngàn cán bộ chuyên viên trong nước đến học tập rút kinh nghiệm; chấm dứt thời kỳ tự lực cánh sinh do Mao chủ trương. *(B)

Kế đó là sự cải cách công nghiệp nội địa: các nhà máy quốc doanh được cung cấp nguyên liệu nhưng chỉ phải giao nộp cho nhà nước một tỷ lệ sản phẩm, số còn lại được phép bán ra thị trường tự do. Nhũng lạm xảy ra: sản phẩm giao nộp có phẩm chất tồi, còn sản phẩm bán ra thị trường thì tốt hơn nhiều để bán với giá cao, ban quản lý có nhiều tiền bỏ túi, ăn xài phung phí sau khi đã chia chác cho công nhân.  Đồng thời, khi chính quyền thả nổi giá cả để cho thị trường định đoạt, lạm phát lên đến 20% khiến cho đời sống thị dân trở nên khó khăn. Công nhân xí nghiệp và nông trường lo sợ mất việc cũng như những quyền lời kèm theo như nhà ở, y tế, giáo dục đã trở nên bất mãn, muốn quay về thời đại của Mao. Tham nhũng, bất công xảy ra đều khắp trong nước. Trí thức, sinh viên và dân chúng đòi cải cách và trừng trị tham nhũng. Chính phủ hứa sửa sai nhiều lần, nhưng đâu vẫn vào đấy. Nhân đám tang của Hồ Diệu Bang (Hu Yobang (4/1989), người đã kêu gọi Hoa Lục nghĩ lại chủ nghĩa Maxít (9/1985) và phải từ chức một tháng sau cuộc biểu tình của sinh viên (12/1986), sinh viên lại biểu tình ở Thiên An Môn. Ngày 4-5-1989 — đúng 70 năm trước đó, sinh viên Đại Học Bắc Kinh đã biểu tình đòi “khoa học và tự do”. Ban đầu cuộc biểu tình chỉ nhằm đòi hỏi cải tổ đời sống, trừng trị bất công, tham nhũng, nhưng sau đó với sự ủng hộ nồng nhiệt của dân chúng, cuộc biểu tình chuyển hướng sang đòi hỏi dân chủ, với khẩu hiệu “Hello, Mr. Democracy” bằng tiếng Hoa và Anh. Cao điểm là khi bức tượng “Nữ Thần Dân Chủ” (Goddess of Democracy, phối hợp gương mặt hiền từ của nữ thần Guanyin mà người Việt gọi là Phật Bà Quan Âm, và Nữ Thần Tự Do của Mỹ) cao 10 mét làm bằng nhựa xốp (styrofoam) do sinh viên Học Viện Mỹ Thuật Trung Ương dựng lên. Bốn ngày sau, tức vào ngày 4/6/1989, xe tăng của “quân đội nhân dân” tiến vào. Bức tượng bị nghiền nát.  Hàng trăm sinh viên và người ủng hộ bị cán giết dã man. Địa điểm tốt của Học Viện tọa lạc nơi trung tâm thành phố sau đó được bán cho nhiều nhà thầu xây cất, và HọcViện phải dời ra ngoại ô. *(8) Nhiều tháng sau đó là những cuộc bắt bớ giam cầm âm thầm lặng lẽ tại nhiều đô thị, thành phố đã có biểu tình cùng lúc; những phần tử chống đối khác. Dĩ nhiên không có tin trên báo chí, truyền thông truyền hình. Đúng là chủ trương diệt tận gốc!

Đó là vì Bắc Kinh đã tuân theo Bốn Nguyên Tắc Hồng (Four Cardinal Principles) mà Đặng Tiểu Bình đã khởi xướng từ 1979: (1) theo đường lối xã hội chủ nghĩa; (2) củng cố chuyên chính dân chủ nhân dân; (3) đảng cộng sản lãnh đạo; và (4) tư tưởng Mac-Lenin-Mao dẫn đường. Ai chống lại các nguyên tắc này được coi là phản động và phải bị trừng trị nhanh chóng và thẳng tay. Sự đàn áp đó là một chỉ dấu cho nhân dân trong nước biết rằng mọi người được quyền làm giàu, nhưng không được quyền phát biểu chính kiến trái với chủ trương của Đảng và Nhà Nước; và cho người nước ngoài biết rằng Hoa Lục theo “tư bản chủ nghĩa với các đặc trưng Tàu … Cộng (“capitalism with Chinese characteristics”) mà Đặng Tiểu Bình đã vừa hãnh diện vừa chống chế tuyên bố. Biến cố này khiến ngoại quốc phẫn nộ, cắt đứt giao thương với Hoa Lục trong một thời gian.

(Còn tiếp)

© Lê Văn Bỉnh

© Đàn Chim Việt

———————————————————–

Ghi Chú Liên Quan Đến Kinh Tế Việt Nam

*(A) Kế hoạch kinh tế ngũ niên là công cụ được các nước cộng sản xem là hữu hiệu sử dụng để phát triển kinh tế. Miền Bắc trruớc 1975 vẫn nói đến các kế hoạch ngũ niên mỗi lần có Đại Hội Đảng, nhưng thật ra không có một quyển kế hoạch ngũ niên nào được in ra thành sách cả, mà chỉ là các tài liệu phổ biến 2-3 số trên nhật báo Nhân Dân mà thôi.  Trước đây Ấn Độ cũng thích thú với các kế họach kinh tế của mình. Tại miền Nam, tuy có sự khuyến cáo của các cố vấn kinh tế Hoa Kỳ là nên sử dụng các dự án phát triển kinh tế vừa thực tiễn và vừa linh động hơn, Bộ Kế Hoạch và Phát Triển Quốc Gia sau khi thành lập, đã phối hợp tích cực và chặt chẽ với các Phủ, Bộ khác (trong đó có nhiều cựu sinh viên HVQGHC phục vụ tại Tổng Nha Kế Hoạch) và một chuyên viên điện toán được USAID biệt phái giúp đỡ về số liệu. Hơn một năm sau, đã cho ra đời quyển Kế Hoạch 4 Năm (1972-1975) nhằm chứng tỏ với dư luận trong và ngoài nước ý chí cương quyết phát triển lâu dài của mình. Bản thảo đầu tiên của Kế Hoạch đã được Tổng Trưởng Lê Tuấn Anh (tiền nhiệm của TS Nguyễn Tiến Hưng) đệ trình trong một phiên họp của Hội Đồng Tổng Trưởng giữa tháng 9 năm 1972.

Nhân tiện cũng xin mở thêm dấu ngoặc: Sau khi Chương Trình Kinh Tế Hậu Chiến của Giáo Sư Vũ Quốc Thúc – Lilienthal (một chuyên gia phát triển kinh tế nông nghiệp kỳ cựu xuất thân từ Tennessey Valley Authority, TVA,  thời kỳ Great Depression thập niên 1930) kết thúc, Hoa Kỳ đài thọ chương trình du học đào tạo chuyên viên kinh tế để làm việc cho thời kỳ hậu chiến: 8 trung hạn (6 tháng), 8 dài hạn (MA), tất cả đều trở về nước trước 4/75 – trong đó có gần phân nửa là cựu sinh viên QGHC– và 1 PhD lúc đó chưa kịp hoàn tất chương trình đã kẹt lại Hoa Kỳ (sau này trở thành political appointee của  Tổng Thống Bush 41 và Bush 43).

*(B) Đặc Khu Kinh Tế là một mô thức phát triển rất thành công trong công cuộc phát triển phát triển kỹ nghệ nhẹ. Ở Á châu, Đài Loan áp dụng đầu tiên, tăng cường xuất cảng vượt bực giúp đảo quốc này sở hữu một số ngoại tệ cao nhiều thứ nhì thế giới, chỉ sau Tây Đức, hồi thập niên 1970.  Tại Miền Nam, Khu Chế Xuất tại Tân Thuận Đông (Nhà Bè, gần Kho 18 Thương Cảng Saigon) trong loạt Sắc Luật được ban hành năm 1973.  Chỉ tiếc là khi chuyến tàu chở nguyên liệu để gia công cho đơn đặt hàng đầu tiên của công  ty Sears Hoa Kỳ trên đường đến thương cảng Saigon thì Buôn Mê Thuột bị mất;  toán Cố Vấn thượng thặng của Các KCX Đài Loan phải lên đường về nước khá trễ (26/4/75). Và chúng ta không nhìn thấy được hiệu quả kinh tế của mô hình phát triển kinh tế này tại Miền Nam.

———————————————————–

Ghi Chú Tài Liệu Tham Khảo

*(1) Sara Bogiorni, A Year Without “Made in Chnia”, John Wiley & Sons, Inc.,  2007

*(2) Central Intelligence Agency, CIA, The CIA World FactBook 2010,

Skyhorse Publishing, 2009

*(3) Chinabilty, FDI inflows into China 1984-2009,

http://www.chinabilty.com/FDI.htm)

*(4) Rana Mitter, Modern China: A Very Short Introduction, Oxford Univerity Press, 2008

*(5) Barry Naughton, The Chinese Economy: Transitions and Growth, MIT

Press, 2007

*(6) Pranb Bardhan, Awakening Giants, Feet of Clay: Assessing the

Economic Rise of China and India, Princeton University Press, 2010).

*(7) Christopher Hudson, The China Handbook, Fitzroy Dearborn  Publishers, 1997)

*(8) Michal Sullivan, The Arts of China 5th ed.,University of California Press, 2008

Phản hồi