|

Vài cảm nghĩ nhân đọc bài “Phật Giáo Việt Nam”

Ông Đoàn cũng nhấn mạnh, đạo Phật đã ra đời cách đây hơn hai ngàn rưỡi năm, cũng đã trải qua bao biến đổi tồn vong, hưng phế, dưới nhiều hình thái và hoàn cảnh khác nhau. Trong khi đó, đạo Phật nhắm tiến đến cái Tính Không (rỗng lặng) như một chân lý giải thoát cùng tột. Hơn thế, đối với tinh thần truyền thừa của Phật giáo, ngôn ngữ chỉ được xem là phương tiện “hữu lậu” (lỏng lẻo, rơi vãi, không mô tả hết được bản chất đích thực), dễ gây ra nhiều hiểu lầm và biên kiến nhất. Ông cũng nói đức Phật không phải là một đấng thần linh, và đạo Phật cũng không tin vào một Thượng Đế. Đạo Phật chỉ giúp cho con người giác ngộ (enlightment), mà không phải là sự cứu rỗi (salvation). Đạo Phật chủ trương vô ngã (nonself), cũng như phủ nhận sự hiện hữu của linh hồn bất biến, thường tại. Đạo Phật không chinh phục, và cũng không thuyết phục người theo bằng bùa chú, tín điều, hay phép lạ. Bởi vì Phật giáo chủ trương Duyên khởi, tức tất cả đều quay theo vòng sinh diệt của quá trình thành, trụ, hoại, không, từ vô thủy đến vô chung.

Ông cũng nói, trong giáo lý nhà Phật, con người cũng như mọi loài có sinh có chết, đều tồn tại dưới một dạng năng lượng “chủng tử”, và biến hiện không ngừng trong dòng sinh diệt đó. Như thế, Thượng Đế của đạo Phật (nếu cần phải gọi theo kiểu ngôn ngữ quy ước của lý tính phương Tây), thì đó chính là Duyên khởi. Tức vũ trụ, vạn vật vốn được tạo nên, hay hủy diệt, là do duyên khởi, và duyên hợp hay duyên tan, là qua vô số các hình tướng hợp thể mang tính giả tạm, tuyệt đối không hề có một tự tánh thường hằng, bất biến. Có nghĩa, đạo Phật phủ nhận một nguyên nhân đầu tiên sáng tạo ra muôn vật, và hệ luận tất nhiên là không hề có một Đấng thần linh uyên nguyên và chủ tể nào vốn đứng ra sáng tạo muôn vật, muôn loài như thế. Bởi vậy, trong sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh, Đạo Phật không hướng lên trên, không vọng ra ngoài để cầu xin ơn cứu rỗi của một tha lực đầy quyền năng hay tối thượng nào đó cả, mà chỉ chủ trương quay vào bên trong để tìm tòi, soi rọi, nhận ra, và tiếp cận với “Đấng” cao cả nhất nằm trong chính mình, đó là Chân tâm, là Phật tánh, là Bản lai diện mục, là Tự tánh thường hằng, là Thật tánh tuyệt đối.

Ông Đoàn cũng dẫn chứng một trí thức cư sĩ Phật giáo nói là có không ít những trí thức Phật giáo Việt Nam hiện nay càng có cái Tâm quy ngưỡng đạo Phật mạnh mẽ chừng nào, họ lại càng tìm cách quay lưng với việc ‘Phật sự’ ở các chùa chiền người Việt chừng ấy. Thậm chí, họ xa lánh chư Tăng, Ni, và bạn đạo, bởi họ không còn chịu đựng nỗi nữa cái cảnh chùa chiền bị biến thành những trung tâm quyên tiền, gây quỹ, còn thô phàm hơn cả cảnh thương mãi ngoài đời. Có nhiều trí thức Phật giáo khác thất vọng và giảm lòng quy phục đối với các ‘trưởng tử Như Lai’ kiểu như thế đó. Ông Đoàn cũng nói, theo nhận định của Allen Carr trong bài điểm sách nói trên, thì các nhà truyền giáo Tin Lành đang gặp phải những bức tường bảo vệ kiên cố của đạo Hồi ở Trung Đông, châu Phi, “vòng đai thánh kinh” đã có sẵn ở châu Mỹ, chiếc nôi đạo Chúa ở châu Âu, nên hướng tiến còn lại của những binh đoàn truyền giáo lắm của nhiều người, chính là Á châu. Nơi mà đa số người dân theo đạo Phật, với đời sống tâm linh từ bi, hiếu hòa, bất bạo động.

Ông cũng đặt câu hỏi, là trong dụng công tiếp cận với bất cứ nhóm dân tộc theo Phật giáo nào, Hattaway cũng đều tìm thấy khả năng đầy triển vọng cho việc vận động quần chúng tập thể bỏ đạo Phật, để cải sang đạo Chúa. Nếu vậy, thì đạo Phật sẽ phải có một ngày bị tàn đi hay không ? Tuy vậy, ông lại lạc quan khẳng định, có một chân lý khách quan đã được khẳng định trong tiến trình tất yếu của sự “thành, trụ, hoại, diệt”, hay Duyên khởi của đạo Phật là một sự biến tướng của sinh khởi trùng trùng, bất tận, chứ chẳng có gì còn, mà cũng chẳng có gì là mất cả. Và để kết luận, ông Đoàn nói, trước những nguồn thông tin khá sôi nổi về chuyện truyền đạo, cải đạo ở quê nhà, đặc biệt là những vùng quê, vùng cao, vùng sâu nghèo khổ, phản ứng của giới Phật tử trong và ngoài nước, tuy rất khác nhau về mức độ, nhưng tựu trung lại cũng rơi vào một trong hai tuyến chính, là tuyến bảo thủ, và cấp tiến. Khuynh hướng bảo thủ thì dè dặt và vô ngại. Những vị theo khuynh hướng nầy cho rằng, đạo Phật lấy tinh thần từ bi, hỷ xả làm đầu, nên cứ hoan hỷ chấp nhận bất cứ sự việc nào xảy ra, và nên “thương hại” những thế lực nào muốn ra tay đánh phá Phật giáo.

Chẳng hạn như lời nhận định của một cư sĩ cho rằng từ bi mà thiếu trí tuệ thì thường đưa tới thái độ dễ dãi thỏa hiệp bề mặt, nặng tính trình diễn, hơn là phát khởi từ chánh niệm. Chánh niệm không phải chỉ là ngồi yên, gỏ mõ tụng khinh, mủ ni che tai, mà phải biết dụng công, cải tà quy chánh, dụng chánh để đuổi tà. Trái lại, khuynh hướng cấp tiến thì xông xáo, quái ngại. Những vị theo khuynh hướng này vẫn cho rằng cải đạo là vi phạm quyền tự do tâm linh của con người, vì vậy họ đề nghị những phương tiện nhằm “phản công” chống lại sự cải đạo, như phát hành tài liệu sách báo và vận động dư luận quốc tế nhằm chống cải đạo. Như có cư sĩ bảo cổ thư có dạy muốn giữ thành cho vững thì phải giữ vững lòng tin của người trong thành trước đã. Nên khi tăng già hòa hợp, tứ chúng đồng tu, thiền môn thanh tịnh, thì đạo Phật hưng thịnh. Và khi đạo Phật hưng thịnh, làm sáng niềm tin, thì khi đó chẳng cần chống ai cả, mà những vọng ngữ và vọng động phi Phật giáo đều sẽ tự lụi tàn.

Và để gút lại, ông Đoàn nói, thái quá và bất cập đều dễ đưa tới cực đoan, vọng động và vọng nghiệp. Con đường phong quang và tinh túy nhất của đạo Phật, chính là Trung Đạo. Phải có trí tuệ để nhìn đúng, mới biết làm đúng. Có từ bi để thương yêu, mới biết cách sống cho và sống với. Có hỷ xả để vui, mới giữ được tâm an lành và hạnh phúc. Hoa sen vẫn nở được trong biển lữa. Hỷ xả có được trong mọi hoàn cảnh để giữ cho tâm bồ đề kiên cố, phát huy năng lực hoằng pháp, độ sanh bất thối chuyển, đó chính là cái hạnh dũng tuyệt vời trong tam pháp hạnh gồm Bi, Trí, Dũng của người Phật tử. Đặc biệt, bản chất từ bi, chánh kiến hòa bình, và tinh thần an lạc của Phật giáo, vẫn là vốn quý của nhân loại toàn cầu, trong một thế giới dẫy đầy chiến tranh, bạo loạn và thường xung đột như ngày nay. Cho nên ông kết luận là nếu nói về mặt triết lý thì sự lụi tàn hay khởi sắc của vạn pháp chỉ là sự biến tướng do nhu cầu hình tướng bên ngoài. Đó chỉ là ảo ảnh. Mọi sự cố xảy ra đều do duyên khởi. Tánh Phật là Tánh Không. Không có tự tánh thì lấy gì để còn hay mất, khởi sắc hay lụi tàn.

Tất nhiên ông Trần Kiêm Đoàn đã nhận xét chính xác khi nói việc bàn đến sự liên quan của thần thánh và con người đã xảy ra từ 9.000 năm trước, trong kinh Vệ Đà của Ấn giáo, và trong các thần thoại cổ Hy lạp và La Mã. Nhưng hình ảnh một Thượng Đế mang hình ảnh con người, hay con người mang hình ảnh Thượng Đế, chỉ đã xuất hiện trong tín lý của đạo Hồi, đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa. Tuy trong Áo Nghĩa Thư, ngôn từ chính yếu để nói về Thương Đế, là “Neti Neti”. Có nghĩa “không phải cái nầy, mà cũng Chẳng phải cái khác”. Nhưng cho đến nay, chỉ có đạo Thiên Chúa La Mã là đã hình tượng hóa Thượng Đế qua hình ảnh của con người. Và cả 3 tôn giáo Hồi, Do Thái và Thiên Chúa, đều xác định sự hiện hữu của Thượng Đế bằng sự xác lập mối tương quan giữa đấng cứu rỗi (Thượng Đế) và kẻ được cứu rỗi (con người). Có một ý trong Tân Ước mà ông Nguyễn Hữu Liêm đã trích dẫn về lời Chúa Jesus, “các ngươi đều là Thượng Đế”, vốn đã được nhà thần học Irenaeus xứ Lyon sống vào thế kỷ thứ II minh giải rằng “Cha là Thiên Chúa, Con cũng là Thiên Chúa, vì bất cứ ai sinh ra từ Thiên Chúa là Thiên Chúa”. Tức con người do Thượng Đế sinh ra, nên mang bản thể của Thượng Đế, chứ không thể nào chính con người là Thượng Đế.

Trên đây là tóm lược những ý chính trong bài viết của tác giả Trần Kiêm Đoàn mà tôi đã nhận được. Qua đó người đọc tất cũng hiểu được tinh thần bài viết của ông Nguyễn Hữu Liêm cũng như ý nghĩa các tài liệu liên quan mà cả hai ông này đã đề cập. Dĩ nhiên theo tôi thấy, ông Đoàn có hiểu rất sâu sắc về đạo Phật cũng như ý nghĩa những vấn đề có liên quan hiện nay của nó. Tôi không rõ ông Đoàn có là Phật tử không, nhưng tinh thần của ông cho thấy đúng là người Phật tử, và ngôn ngữ của ông đúng là ngôn từ rất hàm súc và rất chuyên sâu của những người trong đạo Phật. Các tác giả liên quan kia cũng vậy, tôi không biết họ có là Phật tử không, nhưng chí ít tôi nghĩ họ cũng là những người có quan tâm hoặc có cảm tình nào đó đối với lý thuyết nhà Phật. Như ông Liêm chẳng hạn, được ông Đoàn cho biết hiện nay là một luật sư và đang giảng dạy triết học. Điều này đối với tác giả bài viết này cũng là một sự trùng hợp, có nghĩa về nghề nghiệp và mục đích làm tư duy triết học, ông Liêm quả cũng có nét giống tôi. Riêng các ông Allen Carr và Hattaway, tôi nghĩ họ là người nước ngoài, chắc là người phương Tây, nên tất nhiên cái nhìn của họ về đạo Phật không thể nào hoàn toàn giống được với ông Đoàn, ông Liêm cũng như nhiều người khác. Dù sao, ý nghĩa của họ cũng là thiện chí mà không phải có ý làm phương hại gì đến đạo Phật.

Riêng đối với ông Liêm, tôi nghĩ chắc ông làm việc ở nước ngoài lâu, lại có nhiều hiểu biết về triết học phương Tây, thành cái nhìn về đạo Phật và nhận thức về Phật giáo dường như không hẳn đã mang tính chất bản lai diện mục về đạo Phật như ông Liêm cũng đã nhìn thấy và phần nào phê phán. Bởi tôi nghĩ mỗi nền triết học vẫn có các đặc thù riêng, nếu nhận thức về các đạo giáo, các tư tưởng phương Đông lại thuần túy bằng phạm trù tư duy suy lý như kiểu phương Tây thì thật sự có thể có nhiều thiếu sót và khó có thể đạt tới được nhứng mặt sâu lắng, những ý nghĩa trực nhận mà chính những người trong bản thân của ý thức nhận thức đó bắt buộc phải có. Nhất là nếu ông Liêm lại “chơi” triết học ứng dụng (applied) theo lối Anh Mỹ, kiểu như Wittgenstein để đánh giá hoặc hiểu về đạo Phật thì tôi e rằng có thể có những phần nào đó rất phiến diện. Bởi ai cũng biết rằng mọi khía cạnh của ngôn ngữ diễn đạt hình thức luôn có phần hạn chế, mọi tư duy theo kiểu lô-gích duy lý bề ngoài có thể nhiều khi rất xa với trực giác hay những trực nhận bản thân của người khác mà chính người nhắm đến đo không thể nào diễn đạt được hoàn toàn trọn vẹn hay đầy đủ được. Đây cũng chính là ý nghĩa của triết học Phật giáo, được trải nghiệm bởi chính bản thân đức Phật, mà nếu chỉ phê phán nó thuần túy bằng các suy nghĩ, các phạm trù nhận thức phương Tây, các lý luận lô-gích hình thức bề ngoài, có khác gì nhìn một trái cây bề ngoài có bao giờ biết ra được các bản thân mùi vị bên trong của nó được. Nên nói tóm lại, hình ảnh về cái bình ruồi của Wittgenstein là có phần hời hợt và không xác đáng.

Pages: 1 2 3

11 Phản hồi cho “Vài cảm nghĩ nhân đọc bài “Phật Giáo Việt Nam””

  1. Võ Trang says:

    Tôi nhớ hình như tôi có đọc bài của ông Nguyễn Hữu Liêm ở đâu đây – Talawas? nhưng tôi bỏ qua vì tôi cho là ông Liêm không hiểu Phật Giáo hay biện luận về Phật Giáo qua 1 lăng kính của triết lý Tây Phương. Tôi tin là 1 số các bậc chân tu Phật Giáo có thể chỉ cho ông Liêm rõ hơn về những giáo lý căn bản của Phật Giáo nhưng tôi không thấy ai lên tiếng. Phải chăng họ cũng bỏ qua như tôi hay hơn tôi họ hiểu rất rõ rằng 1 sự “giác ngộ” trong Phật Giáo là cái không thể nói được?
    Ở đây, tôi chỉ muốn nhân cơ hội này gởi đến độc gỉa 1 vài cảm nghĩ để nếu có thể được đánh tan những nhận thức sai lầm của những phát biểu như vậy.
    Thay vì nói đến 1 sự suy đồi trong biểu hiện bề mặt của số lượng tín đồ hay phát triễn của đền đài, thiền tự, ông Liêm đi xa hơn đến nguồn gốc của sự suy đồi này vì chính cái giáo lý của Phật Giáo – 1 sự phủ nhận của thượng đế và linh hồn

    (… Ông Liêm cho rằng động lực làm cho đạo Phật Việt Nam thoái trào, là vì giáo lý nhà Phật xa vời, khó hiểu, giống như một hiện tượng biểu dương chữ nghĩa, không đáp ứng được khát vọng tri thức cũng như nhu cầu tâm linh của những con người trong thời đại mới. Ông viết : “Có nhiều lý do cho sự thoái trào này. Nhưng trong bài này tôi chỉ nêu lên hai vế của một vấn đề về khái niệm và ngôn ngữ : cái gọi là “Tính Không” và “Thượng Đế”. Khi giáo lý nhà Phật – vốn được hiểu bởi quần chúng – phủ nhận “Thượng Đế” và “linh hồn”, thì đối với tâm thức khát khao niềm tin của con người thời đại, Phật giáo không còn hấp dẫn đối với họ. Trên phương diện học thuật, khi “Tính Không” trở thành một đối thể tri thức cho trí thức Phật giáo, khi trò chơi ngôn ngữ nay đã trở thành một “bình ruồi” (nói theo Wittgenstein) mà kẻ tham dự không thoát ra được, Phật giáo chỉ còn là một hoài niệm, hay là một tự ái bản sắc cá nhân… ”.)

    Tính không là bản thể của vạn vật. Nhưng tánh không là 1 điều mà người ta có thể cảm nhận được bằng 1 suy luận logic, nghĩa là bằng khả năng của con người thật sự chứ không phải là 1 khái niệm siêu hình mà con người phải chấp nhận như 1 quyền năng của thượng đế. Ở đây tôi không tranh luận về sự hiện hữu của 1 thượng đế vì có lẻ không 1 ai trong chúng ta có đủ thẩm quyền để xác định sự hiện hữu này. Nhưng cái hệ lụy của nó mới là vấn đề: tại sao phải có 1 niềm tin tuyệt đối như thế? Đây chính là cái điễm “khó nuốt” của đạo Phật. Trong khi con người dễ dàng hiểu cái định luật Nhân – Quả, mấy ai trong chúng ta dễ dàng chấp nhận nó? Khi chúng ta lầm lỗi, thậm chí nặng nề như giết người, mấy ai trong chúng ta dễ dàng chấp nhận đền mạng? Trong tuyệt vọng và với cái bản năng vốn yếu đuối của con người chúng ta mong cầu 1 sự cứu rỗi mà ở đó sự hiện hữu của 1 đấng có đầy quyền năng là cần thiết và có khi những lỗi lầm như thế lại được diễn dịch như là ý muốn của chính đấng tối cao đó.

    Trong đời sống tâm linh, tu dưỡng theo tinh thần đạo Phật, cái đích cuối cùng (giải thoát) có thể khó hiểu, nếu hiểu theo nhân gian nhưng nó là cái không thể diễn tả bằng chử nghĩa chứ không phải là 1 hiện tượng biểu dương chử nghĩa hay là 1 trò chơi của ngôn ngữ. Giác ngộ, Kiến Tánh là cái không thể nói được. Và ở đây, 1 lần nữa, cái mong cầu cuối cùng này là cái mà chính con người phải tìm ra chứ không phải là 1 phần thưởng hay ân huệ của thượng đế.

    Khởi đầu của đạo Phật là 1 mong cầu giải thoát – 1 giải thoát triệt để và tận cùng – chứ không phải là 1 mong cầu được cứu rỗi. Cho đến khi tìm được chân lý, trên trọn con đường này, con người chịu tất cả trách nhiệm về những hành xữ của nó. Như vậy, đạo Phật là đạo đưa con người đi vào cuộc đời của chính nó, trong tỉnh thức và trách nhiệm mà những định nghĩa như thực dụng, thời đại, tri thức mới chính là những trò chơi của ngôn ngữ.

    Tôi không hiểu tâm thức khát khao niềm tin của con người thời đại là (loại ngôn ngữ) gì và ai có thẩm quyền đặt để nó. 1 trí thức thật sự là người phải biết tiêu hóa tư tưởng của nhân loại để biến nó thành nhận thức của chính mình và khai phóng mình thành 1 con người mỗi ngày một mới chứ không phải chỉ là những cái đuôi dù là những cái đuôi của Hegel, Wittgenstein, Heidegger, Dewey và Marx…

  2. Builan says:

    Sau khi góp với ngài Cư Sĩ _ Tôi không cần có ” phép thần thông” – thậm chí chưa đọc – không cần đọc. tôi cũng thừa biết ông VHT là tín đồ cuả tôn giáo _”ĐỒNG ĐAỌ” với tôi _ khỏi cần đoán mò như ông CS !

    Nay thì xin thưa :tôi đã đọc _ đọc đến 2 lần !
    Theo tôi : Bài viết cuả ông VHT gần như không có ý kiến cuả riêng mình- Chỉ phân tích -bình luận- mở rộng quan điễm cuả những TRÍ THỨC thứ thiệt ! Đúng và thật sát nghiã “Vài cảm nghĩ nhân đọc bài “Phật Giáo Việt Nam”” – Có vẽ đạc biệt thân tình – đậm đà với ông TKĐ !
    Nhờ qua “vài cảm nghĩ” tôi có thể rụt rè ,góp một chút “đồng tình” _ tôi cho là chính xác và RẤT THẬT – không sợ CHẠM với cư sĩ ! hay những ai cùng baỏ thủ như cư sĩ !!

    “…Hai là do hệ thống tổ chức của giáo quyền tan rã và bất lực, bởi mỗi chùa có một vị trú trì, một đạo tràng riêng, có sự độc lập về mọi mặt tổ chức, kinh tế, tài chánh, lễ nghi, tu học, mà nếu cần, cũng có thể tự đặt tên, xưng danh, và sinh hoạt như một “Giáo hội” riêng biệt, hoàn toàn hợp pháp trong bối cảnh xã hội phương Tây.
    Thứ ba là hiện trạng tăng già chống báng nhau, làm Phật tử mất niềm tin và nản lòng. Bốn là truyền thống lễ nghi, lễ nhạc của Phật giáo Việt Nam đang bị “phát huy” một cách tùy tiện, tự phát, và mang nặng tính trình diễn hời hợt, do hàng tăng ni cao niên và tuổi trẻ thiếu sự hợp tác cần thiết, cả trong vai trò chủ động lễ nghi tôn giáo, trong lúc nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt và tu học lại đang cần đến, tức sử dụng phương tiện nghi thức, lễ nhạc hài hòa, thống nhất và đồng bộ, để hoằng dương Phật pháp. Sau chót, sự bế tắc đối với một khả năng hóa giải về những dị biệt trong cộng đồng tăng lữ, vì mặc cảm (tự tôn là chính), và định kiến (khuynh hướng chính trị, viễn kiến bảo thủ và cấp tiến). Tuy thời đại mới, nhưng bản chất vẫn cũ, không chấp nhận và thỏa hiệp đối với sự khác biệt để hóa giải, cứ khăng khăng bảo thủ, cho cái riêng của mình là đúng. “

    KHÔNG giáo luật, giáo quyền ! GIÁO CHỦ
    Chỉ cần mỗi caí máy bơm cuả cư sĩ !

    ” Sau cùng Quảng Tịnh tôi xin kính chúc các chư bạn đồng tu, thân tâm an lạc, công đức tròn đầy, đạo hạnh thêm tăng tiến. Chúng ta hãy vững tin vào một ngày không xa, Phật giáo Việt nam sẽ phát triển rực rỡ hơn hôm nay gấp trăm ngàn lần.
    Nam mô A-Di-Đà Phật.
    Nam mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật.
    Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ-Tát Ma-Ha-Tát thùy từ chứng giám.
    Trân trọng vô vàn:
    Cư sỹ Quảng Tịnh

    AMEN !

  3. Trung Hoàng says:

    Đạo Phật là con đường tự giải thoát cho tất cả mọi người, con đường tự lực để trở về tính thánh thiện nguyên thuỷ, tính mà Thượng Đế đã ban sự bình đẳng cho mỗi người như nhau. Đó là điều mà Đức Thích Ca đã tuyên xướng là tất cả mọi người đều có Phật Tính, tự giác là chính mỗi người sẽ phải tìm trở về chơn tính đó. Sẽ không có một vị Phật Thánh nào cứu rỗi được mình, nếu mình không chiụ tự mình bước lên đường để tìm thấy lại nó.(“Coi rồi phải THÂN MÌNH TỰ TRỊ,/Chẳng độ xong Phật khó dắt dìu./ Thả thuyền từ bến giác nâng niu,/Kẻ hiểu đạo mau mau bước xuống.”).

    Đời sống vô thường là chơn lý vĩnh hằng cuả đạo Phật, lý thành trụ hoại diệt là chu trình bất biến trong chơn không. Sự biến dịch không ngừng cuả trời đất sẽ không bao giờ ngừng lại ở một điểm nào, lý vô thường luôn hoạt dụng trong nguyên lý sắc tức thị không, không bất dị sắc. Thị hiện trong hiện hữu nên có pháp, mà pháp đó có cũng như không chẳng khác, do từ sự biến hiện cuả tâm mà có. Đã có sanh tất là phải có diệt, sanh sanh diệt diệt không ngừng, nhưng cũng vẫn không thể nào vượt ra ngoài chơn không pháp giới, nơi nhà Phật còn có tên gọi là Chơn Không Bát Nhã, mẹ cuả tất cả Chư Phật và Chư Bồ Tát Mười Phương và khắp Ba Mươi Sáu Cõi.(Nam Mô Tây Phương Cực Lạc, Tam Thập Lục Vạn Ức, Nhứt Thập Nhứt Vạn, Cửu Thiên Ngũ Bá, Đồng Danh Đồng Hiệu, Đại Từ Đại Bi, Tiếp Dẫn Vong Linh…A Di Đà Phật.).

    Cho là Đạo Phật không có Thựợng Đế hay từ bỏ Thượng Đế là điều sai lạc, Đấng Tạo Hoá hay Đấng Tối Cao chẳng lẻ khác với Thựơng Đế hay sao. Nhưng, với sự hiểu biết cuả phàm phu, thì ai là kẻ có thể thấy được Thượng Đế, hay chẳng qua cũng giống như kẻ mù rờ voi không khác.(“Nỡ sao lại vày bưà đồng loại,/ Cũng gốc người Thượng Đế xuống trần. Quày đầu nghe tiếng chuông ngân,/ Trở về nơi củ cho gần Phật Tiên,”). Đã bao thời nhân danh Thượng Đế để vày bưà đồng loại là sự đã từng thấy qua, cho những người không theo đạo cuả mình là mê tín và tà đạo, tưạ như con chồn hoang có bao giờ thấy được cái đuôi bông lai cuả mình, lại luôn cười cái đuôi dài cuả loài cáo gian xão.

    Chồn hoang cười cáo đuôi dài,
    Chồn nào thấy được đuôi lai của mình.

    Xin trân trọng.

  4. Hồng Lĩnh says:

    Đạo Phật ở VN đang bị “mục nát bên trong” trầm trọng . Lý do vì đảng cộng sản len lõi, mua chuộc, hoặc cử người nắm giữ các chùa – biến nơi thờ phượng thành nơi buôn thần bán thánh – xây chùa hoành tráng là để thu hút khách du lịch, chiêu dụ tín đồ đến cúng bái, đóng góp tiền.

    Đạo nào cũng vậy, chỉ lo “xây bên ngoài” thì sẽ lụi tàn theo năm tháng .

  5. p says:

    Hiện nay tôi thấy ở VN đạo phật xây chùa rất to và nhiều đạo hữu đông , thầy đông nhưng đạo phật hiện giờ các thầy không thấy đến chùa thuyết pháp, trong các ngày lễ… rằm tháng 4 , rằm tháng 7 . Mà chỉ thấy các thầy thích đi xế hộp , xai dế hạng sang , thích ngồi phòng lạnh …Khi kinh kệ cho các gia đình đạo hữu , phật tử có tang gia cũng phải chi trả theo giá cả thị trường …. Người dân và xã hội VN nhìn đạo phật với câu nói đạo QD . Trong trường hợp này có nhiều chùa ko QD thì bị cô lập , bên đạo Thiên chúa giáo cũng tương tự nhưng mật độ ít hơn . Ở ĐÀ NẴNG có ông nguyễn bá Thanh bí thư thành phố ĐN đi coi thầy Hông kong xây cho được 4 chùa Linh Ứng , nay đã xây được 1 chùa L Ư tại núi BÀ NÀ VÀ 1 CHÙA Linh Ứng tại núi SƠN TRÀ ĐÀ NẴNG đễ được phát lộc và làm quan to .ông Thanh có ý định xây tại Làng Vân ” làng phong ” dưới chân phía nam đèo HẢI VÂN đễ được hưởng bỗng lộc và thăng quan tiến chức …Tiền chúng sanh cúng dường có người của ông NBT đứng ra thu hồi đễ hoàn vốn và kiếm lãi hihihi

  6. ĐắcKhông says:

    Có, không, mà sợ mất, còn ?!,
    Mây bay, nước chảy, xoay tròn miênman…
    Hãy dừng lại, kẻ langthang,
    Trầmluân chìm nổi, vôvàn thờigian !!!

  7. Chúng tôi đã đọc kỹ Bài viết “Phật giáo Việt Nam đang lụi tàn hay khởi sắc” là bài viết ngày 23/02/2011 (Mùa Xuân Tân Mão), tại Napa-Sacramento của ông Trần Kiêm Đoàn và bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Liêm vừa mới được đăng trên Báo điện tử Phật giáo Việt Nam, xuân Tân Mão 2011, nhan đề “Tính Không và Thượng đế, vài cảm nghĩ nhân đọc bài “Phật Giáo Việt Nam” và bài báo mới đây của tác giả Võ Hưng Thanh với nhân đề:” Vài suy nghĩ về đạo Phật” cùng bài viết thật cảm động của cư sỹ Nhất Nam đang được bạn đọc đón nhận. Tôi xin có vài lời tâm sự như sau:
    Thứ nhất: Như tác giả Võ Hưng Thanh nói ông không phải là Phật-tử nhưng là người có cảm tình với đạo Phật thì bạn đọc chắc chắn qua bài này cũng chẳng cần có các phép thần thông cũng biết ông là người đạo nào rồi dù ông có nói lời cảm tình với Phật giáo thì chúng tôi đó là điều không có gì làm lạ, vì cả thế giới này đều có cảm tình và yêu quý Đạo Phật. Đó là lẽ đương nhiên, vì đạo Phật là đạo của lòng từ bi, của Giác ngộ và trí tuệ cho nên uy và đức bao trùm tất cả, có sức cảm hóa nhiếp phục mọi chúng hữu tình trong đó có một chút phần dư lại của ông ( vì các cụ thủy tổ và các cụ đời xưa của ông là theo đạo Phật. Vì sao nói vậy? Vì ông là người Việt nam, mà đọc nghĩa khí nghe như không có duyên với Nho giáo và Khổng giáo nên có thể nói các cụ tổ xưa của ông theo đạo Phật và chỉ có ông bây giờ là đang theo đạo khác hoặc đứng ở nơi không Đạo mà thôi.
    Con như ông và mấy tác giả này nhận định nay đạo Phật suy tàn và nhiều người ở Việt nam theo đạo khác như tinh lành, Thiên chúa giáo. Chúng tôi thấy nhận định này sai hoàn toàn và hình như các quý vị có nhãn quan nhìn lệch thấy 1 hóa 100, hay ngàn rồi đâm ra lẫn lộn. Các vị sống ở Việt nam hay ở đảo lẻ đại dương nào vậy mà chẳng hiểu gì về đạo Phật Việt nam?
    Tôi thấy nhận định của thầy Nhất Nam đã quá rõ ràng nên xin trích chút ra đây kẻo mất thời gian viết thêm. Thầy nói: “Chúng ta ai cũng biết! Ngay sau năm 1975 đất nước một dải thì đạo Phật như bừng giấc mộng, lan khắp mọi nơi đến từng thôn xóm. Chúng ta hãy xem tất cả chùa chiền đều được xây dựng tu bổ lại nhanh chóng trang nghiêm đẹp đẽ. Kinh điển Phật nhất là pháp môn Tịnh độ được in ấn hàng triệu triệu bản để đến tay mọi người. Mỗi dịp đầu tháng hay rằm thì dòng người đổ về chùa theo thầy tụng Kinh niệm Phật say sưa? Có những nơi không còn có chỗ để ngồi nữa như chùa Hoằng Pháp hay Yên tử Trúc lâm. Hay mỗi dịp xuân về thì không thể nói số người đi lễ chùa tính kể là bao nhiêu? Trẻ có, già có, người quan chức, kẻ dân thường khắp nơi nuờm nượp đổ về như thác. Chúng ta hãy nhìn dòng người trên thuyền đầy cả sông để đến chùa Hương Tích hay lên đỉnh non mờ Yên tử thì mới thấy hết sự lớn mạnh của Phật giáo Việt nam. Hay các bạn nếu có dịp về các khoá lễ của chùa Hoằng Pháp phía Nam hay Sơn tây Hà nội thì sẽ thấy càng rõ hơn, hàng ngày có hàng ngàn Phật tử với áo già lam, tràng hạt trang nghiêm ngồi nghe các bậc trí-thức giảng về giáo lý nhà Phật, đêm đến nên thắp sáng cả một vùng trời để niệm Phật A-Di-Đà. Những điều này trước đây không bao giờ có, hay nếu có quy mô và hình thức, chất lượng sao có thể được như vậy?”
    Hay ngày nay bên ngoài cổng chùa có các hiện tượng dem giết thịt thú vật để bán cho khách hành hương, hay tệ đốt vàng mã v.v…Điều này thầy Nhất Nam đã phân tích rất chí lý là: “ Hiện nay có hiện trạng là có những người đem đạo này để nói xấu đạo kia hay đem những nhận thức chủ quan, thành kiến, đem những hiện tượng bên ngoài, những tập tục lạc hậu gán cho đạo Phật mà đặt ra câu hỏi đầy hoài nghi rằng đạo Phật ở Việt nam khởi sắc hay lụy tàn chưa cần ai nói họ lấy vài hình ảnh tiêu cực mà kết luận đọa Phật ở nước ta sẽ tàn lụi. Họ kể ra nhìn thấy lễ hội chùa Hương hay Yên-tử người ta vẫn mê tín dị đoan đốt vàng mã, bán thịt sát sinh thú vật mở quán ăn bên đường v.v…Vậy những cái đó có phải là từ bản chất của đạo Phật không? Đó là nhận định sai lầm không đúng.
    Nếu mọi người đều được học giáo lý nhà Phật thì ngay thấy rõ, tính mạng một con kiến, con sâu cho đến cỏ cây đều được người Phật tử nâng nịu trâng trọng bảo vệ huống là lấy mạng sống của thú vật làm món ăn nuôi sống chính mình? Cho nên đây là nhận định sai lầm và đầy thành kiến không tốt có dụng ý xấu.
    Việc đốt vàng mã là tập tục của nhân gian, đạo Phật không có những khuyến khích và thói quyen này và cho rằng nó sẽ làm tốn đi tiền của và công sức làm ô nhiễm không gian mà thôi. Nhưng tập tục đó đã có nhiều đời thì nhà chùa không ngăn cấm mà sau khi học giáo lý nhà Phật, những người đó sẽ tự nhận biết để làm hay không làm nữa. Đạo Phật là đạo giác ngộ và tự giác là vì vậy.”
    Tôi thấy đây là lời nhận định rất có lý đạt tình và có cả đạo lý ở trong đó. Nhưng tôi thì cần góp ý thêm là, trong dòng người cuồn cuộn đến lễ Phật đó, nếu ai là Phật tử thuận thành, học giáo lý Phật, chắc chắn họ tránh xa chỗ này, đâu có thể ngồi nhậu thịt với các quý vị kia? Và điều này chỉ thấy đáng thương vì đó suy cho cùng những người chủ quán kia lẫn người vào ăn vẫn là vì họ chưa có ai chỉ bảo cho họ giáo lý của nhà Phật hoặc vì mưu sinh biết sai mà phải dấn thân vì miếng cơm manh áo vật lộn của cuộc sống của gia đình họ, trong đó có cả lỗi của người Phật-tử chúng ta, của những ai vai đội vác sứ mạng của Như Lai đã giao phó là chưa đến được để gần gũi chỉ bảo cho họ về giáo lý nhà Phật về nhân quả, thiện ác, nghiệp báo v.v… Nếu được giác ngộ cả kẻ bán và người ăn đều không thể có nữa.
    Thứ hai: Riêng chỉ có nhận định là hiện nay nhiều nơi chùa chiền không giữ phép tắc giới luật xưa hoặc đang trở thành nơi tham quan du lịch và nhiều người tri thức và dân tu tại gia ít đến chùa hơn. Điều này đúng vì đến 90% Phật tử là tu tại-gia vì có gia đình, cha mẹ, vợ con, lại do cuộc sống phải làm ăn lam lũ, khẩn trương, cho nên họ không thể hàng ngày đến chùa tụng Kinh, niệm Phât, nên đa số họ đã biết thiết lập ban thờ Phật tại-gia để hành lễ, tụng kinh hàng ngày đó là điều rất đáng trân trọng. Trong dòng Phật tử đông đảo đó, có nhiều Phật-tử có trình độ, căn cơ cao, họ là những Kỹ sư, bác sỹ, giáo viên, giáo sư v.v…những khi có thời giờ là họ vào trang mạng điện tử để học giáo lý của Phật. Kinh điển giáo lý của Phật nay tràn vào đầy ắp trên các trang mạng của internet, vì thế rất là thuận lợi cho tầng lớp này học tập Kinh điển Phật rồi tự y giáo phụng hành, có gì còn cần trao đổi, họ có thể nhờ các vị Hòa thượng chỉ giáo, bổ khuyết. Cho nên rất mau thành tựu. Nhiều người trong số này cũng ăn chay trường, giữ giới không khác gì các vị xuất-gia và họ hàng năm thường về các Đạo-tràng để bổi bổ tri thức Phật giáo, bồi dưỡng tâm linh, có nhiều bvị sau đó đã tự biết đứng ra gánh vác sứ mạng cao cả là đi hoằng pháp độ sinh. Ngày càng có nhiều các thiện-tri-thức này xuất hiện, thật là đáng quý biết bao nhiêu? Như vậy không thể nói là đạo Phật vì lý do này mà suy tàn, đó là cách nhìn ngược mà trái lại phải thấy đạo Phật hôm nay đang có thêm luồng sinh khí mới và đang đam hoa kết trái, tương lai càng đầy hứa hẹn hơn. Càng nhiều người như vậy thì chúng ta càng thấy vững tin hơn, hoan hỷ hơn phải không quý vị? mọi người lao động tu hành tại nhà vì càng ở môi trường đó càng có điều kiện tốt đẹp để thực hành tiêu diệt phiền não, lấy đó thử thách tâm kia mà thành tựu ngay tại nơi chiến trận chóng ma chướng. Cho nên xưa có câu: ” phạm phu tức Phật, phiền não tức Bồ-Đề. Ngay các vị chân tu trên núi cao hàng năm cũng phải dành thời gian xuống núi vào nơi đời thường để thử thách chính mình xem dadiệt trừ phiền nào đến đâu để tự biết mình còn gì phải làm tiếp cho mau thành công quả. Đức Phật xưa rất khuyến khích những việc làm đi vào thực tế như vậy.
    Ngày xưa khi đức Phật còn tại thế thì cũng có 95 % Phật tử là tu tại gia và nếu ông đọc tụng Kinh Địa Thừa Vô Lượng Thọ thì sẽ thấy 85 % các vị Bồ-Tát lớn thời đó là tu tại gia. Cho nên nhận định này của các ông bị sai lầm hoàn toàn và lệch lạc về nhãn quan và tư duy.
    Đúng như Phật tử Quảng Tuệ nhận định đó là do hiện nay sự không thống nhất được giữa hai giáo hội Việt nam kéo dài làm cho đạo Phật bị kìm hãm và dân chúng thiệt thòi nhiều. Vì sao? Vì số thầy đi hoằng pháp lợi sinh không được đông đảo vì bởi nhiều lý do, trong đó phải nói rằng có lý do các vị lãnh đạo hai nhánh đó dù muốn hay không cũng bị chi phối thời gian, tâm lực vào việc không cần thiết cho cuộc tranh đua ăn thua này mà không tập trung toàn tâm toàn ý cho việc hoằng pháp lợi sinh. Nếu khắc phục được tình trạng này thì đạo Phật tiến lên mạnh mẽ như cây cối gặp mưa sẽ bừng lên và các vị có tin không, các đạo kia các mục sư chắc rồi ngồi chơi xơi nước vì lúc đó bóng dáng các tà áo nâu sòng đi về muôn ngả và dù người dân có ở non cao thì chùa nơi đó cũng sẽ mọc lên, tự họ sẽ biết mà tìm đến, họ được học giáo lý của Phật nên mất ai theo đạo khác làm gì? Đó là điều chắc chắn! Nếu ví Phật giáo Việt nam như một cơ thể con người thì tìnhv trạng hai giáo hội do vì chưa đoàn kết lại được, phần cơ thể đó đâu có được phát huy mà chỉ mới đi bằng đôi chân còn cái đầu thì chỉ như người trong cơn ốm đau bệnh tật đâu được khỏe mà đã thu gặt được kết quả như vậy hỏi nếu đôi tay ấy mà được kết hợp với đôi chân và bộ não thì Phật giáo nước nhà mãnh mẽ biết dường nào? Cho nên muôn dân, muôn Phật-tử cũng như Quảng Tuệ và nhiều bạn đọc khác đều khao khát mong có ngày đó chóng tới. Mong mỏi quá đến nỗi bực mình giận hờn với cả lãnh đạo hai nhánh giáo hội hiện nay là vì vậy. Đó cũng nên thông cảm và hiểu được tấm lòng của họ vì Đạo Phật nước nhà vì sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh, từ tầm đại thừa mà có những tâm tư nguyện vọng nồng cháy và lời nói bốc lửa đến như vậy. Nhưng các vị hay tin là rồi quy luật Đoàn kết hòa hợp sẽ phải trở về. Vì ngay thời đức Thế-Tôn còn tại thế hay thời Tượng pháp thì đạo Phật cũng vào hoàn cảnh này và vì sự nghiệp Phật đạo, các giáo phái lại biết tìm đến nhau, chia sẻ suy tư rồi đi đến hòa hợp nên đạo Phật lan tỏa khắp thế giới như hôm nay. Chúng ta có quyền hy vọng vào một tương lai như thế.
    Tôi hay vào trang mạng điện tử và cũng thường mỗi ngày dành ra vài phút đọc báo này. Là một Phật-tử nên thấy rằng Phật giáo và tâm linh với tôi còn quan trọng hơn cả những vấn đề chính trị hiện nay. Vì sao? Vì đạo Phật có thể hóa giả tất cả nếu mọi người đọc tụng giáo lý của Phật lấy đó y giáo phụng hành. Khi tâm thanh tinh không chút bụi nhơ, khi thân, khẩu, ý cũng đều là một, đều là vì quần sinh, vì nghĩa lớn, đầy sự bao dung, từ bi hỷ xả thì làm gì có chia rẽ, có chiến tranh? Đạo Phật là cái gốc, nếu ai ai cũng học Kinh điển Phật thì đều giác ngộ và vì thế có thể hóa giả tất cả mọi vấn đề xã hội và thế giới hiện nay mà không cần phải dùng đến cãi nhau và chiến tranh vũ lực. Nơi đâu đạo Phật được quan tâm, nơi đó xã hội an bình, đất nước phồn thịnh đi lên, đạo đức ngày càng được tôn trọng, luật pháp được gìn giữ. Cho nên, theo tôi muốn cải cách xã hội đi lên thì phải canh tân, cải cách và quan tâm đến Phật giáo trước tiên. Làm sao cho mọi người dân đều là Phật-tử và hiểu đạo Phật một cách rốt ráo. Sứ mạng đó cần phải chung ta không chỉ của người Xuất-gia mà cả của mọi người, đặc biệt cần có của các vị Sư sỹ tại-gia. Hễ ai nói mình là Phật-tử chân chính thì đây chính là thước đo thực tế nhất. Đức Phật mong muốn chúng ta như vậy. Chúng ta phải thấy đạo Thiên chúa, hay Tinh lành hay Hồi giáo v.v… còn nhiều sự nhức nhối hơn đạo Phật gấp 100 ngàn lần và mọi người vẫn cứ mong các đạo giáo này sẽ lại trở về với giáo lý nguyên thủy của các bậc anh minh mà y giáo phụng hành đi vào đời thường tốt đẹp Trời người. Đạo Phật hoan hỷ chúc các đạo giáo khác càng tiến xa hơn nữa. Phải từ cái tâm như thế đề nhìn và quán tưởng thì mới thấy hết và lúc đó các vị mới thấy sự vĩ đại của Đạo Phật viên dung. Vì thế, thay như mọi lần mà buộc phải chuyển đề tài một phen viết nên dòng tâm sự này. Kính mong các chư vị đại-đức, các vị chư Tăng Ni và bạn đọc hàng ngày vào xem trang báo yêu quý này cảm thông và nếu có gì chưa tròn chĩnh xin các bậc thiện-tri-thức, đại xá.
    Sau cùng Quảng Tịnh tôi xin kính chúc các chư bạn đồng tu, thân tâm an lạc, công đức tròn đầy, đạo hạnh thêm tăng tiến. Chúng ta hãy vững tin vào một ngày không xa, Phật giáo Việt nam sẽ phát triển rực rỡ hơn hôm nay gấp trăm ngàn lần.
    Nam mô A-Di-Đà Phật.
    Nam mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật.
    Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ-Tát Ma-Ha-Tát thùy từ chứng giám.
    Trân trọng vô vàn:
    Cư sỹ Quảng Tịnh

    • Mot Khuc Ruot says:

      ” Như tác giả Võ Hưng Thanh nói ông không phải là Phật-tử nhưng là người có cảm tình với đạo Phật thì bạn đọc chắc chắn qua bài này cũng chẳng cần có các phép thần thông cũng biết ông là người đạo nào rồi dù ông có nói lời cảm tình với Phật giáo thì chúng tôi đó là điều không có gì làm lạ …”
      Sao ông không nói rõ là đạo nào ??? Hành động úp úp mở mở là hành động cũa một tên bất lương …Ông tự mạt sát tôn giáo cũa ông bằng chính lời nói bất lương cũa ông .

    • Trung Kiên says:

      Tôi định không có ý kiến gì về bài viết này, lại càng “ngại” khi ông Võ Hưng Thanh nói “ông không phải là Phật-tử nhưng là người có cảm tình với đạo Phật” sẽ khiến cho những kẻ hiềm thù Công Giáo có cớ “!!!”, mà điển hình là ý kiến của Cư sỹ Quảng Tịnh trên đây!

      Chỉ xin post lên đây bài viết của người Phật tử để rộng đường dư luận:

      Các tu sỉ Phật giáo VN tại chùa Điều Ngự nên trả lời thế nào trước những bài viết do tờ Quê Mẹ của ông Võ Văn Ái và tâm thư của một số Phật tử ?

      Về phần tôi trước sau như một rằng…ĐẠO là CHÂN CHÍNH!
      chỉ có CON NGƯỜI lạm dụng và làm hoen ố đạo mà thôi!

    • Builan says:

      Xin thưa chuyện với ngài Cư sỹ Quảng Tịnh
      Tôi thật sự chưa đọc “bài chủ” cuả ông VHT !
      Qua giới thiệu ở com cuả ngài CS tôi lại đã biết nhiều về ông NHL và TKĐ – tôi không có gì phaỉ bàn ở đây !
      Với ông VHT thì dù chưa đọc bài chủ (sẽ đọc sau) – tôi dám chủ quan là ít nhiều cũng hiểu ông VHT viết gì !

      Thẳng một câu- biết rất dẽ mất lòng- chạm nọc !! nhưng tôi tin caí tâm phật cuả CS không đến nỗi !!! _ “Cư sĩ chủ quan và bảo thủ “- Chỉ có suy nghĩ cuả ông là đúng và đạo cuả ông là “chính đạo” “!!!

      Ông có bốc thơm lên đến chín tầng mây thì caí BỐC cuả ông cũng bằng thừa !
      ” Nhân chi sơ tính bàn thiện”- Đạo PHẬT vốn dĩ cũng vậy !
      TÂM PHẬT là tâm thiện- là tâm cuả “nhân chi sơ….” Ngừời không là tín đồ cuả tôn giáo khác có thể tin nơi TÂM PHẬT cuả mình sống và hành đạo với ĐẠO cuả riêng mình..
      Than ôi ! chế độ- xã hôi _ CHXHCN?VN đâu có cho phép- đâu có để yên !
      Ông CS thật quá ngây thơ KHOE bao nhiêu cái chuà hoành tráng !!!

      Nếu ông là người có tâm với đạo thì nên can đãm nhìn thẳng vào THỰC TRẠNG ! Cùng trăn trở- Noí viết lên những cái thoái hoá , thoái trào- biến chất… Caí hoạ loạn sư- loạn tăng – Đại hoạ- đại nạn “giặc thầy chuà” !!! cần phaỉ giaĩ phâu – phải cắt bỏ những gì cần cắt bỏ để cưú sông một sinh linh cần phaỉ sống !!!! Phaỉ xữ dụng cả những liều thuốc cực mạnh – cực độc ! thay vì baỏ thủ chủ quan – Ngôì đó mà BỐC mà tin, mà KHOE !!!

      “Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc Trung Nam từ đây…” – Thưa ông CS(cư sĩ) ” RẮN KHÔNG ĐÀU” có sống được không ? Nêu có “phép thần thông” sống được thì nó là cái gì !

      Chữ nghiã cuả tôi, tôi tự biết mình không bằng cuả TKĐ- NHL- VHT & ông CS đánh rơi !!! Tôi tin là ngài CS hiểu caí tâm thật thà cương trực cuả tôi !
      AI là SƯ-TĂNG -SAĨ… chân chính ? Ai còn caí TÂM với ĐẠO xin haỹ “khẩn trương” cứu đạo – nếu cần phải TỰ THiÊU cũng đừng có tránh né ! Nghe , đọc… tin vào cái mồm, những bài “thuyết pháp.”. cuả quý ông rồi thì sẽ VỀ ĐÂU !!!! TỊNH TÀI chỉ là bầu vú sưã nuôi béo vỗ mập những tên SƯ hỗ man – thế sự nhãn tiền – ngài CS “có hay biết gì không? ”

      Thôi thì tôi cứ tạm NGÂY THƠ tin theo niềm tin của ngài CƯ SĨ ( cho nó khoẻ )

      “..Đạo Phật nước nhà vì sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh, từ tầm đại thừa mà có những tâm tư nguyện vọng nồng cháy và lời nói bốc lửa đến như vậy. Nhưng các vị hay tin là rồi quy luật Đoàn kết hòa hợp sẽ phải trở về. Vì ngay thời đức Thế-Tôn còn tại thế hay thời Tượng pháp thì đạo Phật cũng vào hoàn cảnh này và vì sự nghiệp Phật đạo, các giáo phái lại biết tìm đến nhau, chia sẻ suy tư rồi đi đến hòa hợp nên đạo Phật lan tỏa khắp thế giới như hôm nay. Chúng ta có quyền hy vọng vào một tương lai như thế. ”
      Xin ngài CS cũng nên quan tâm đến coms cuả Một Khúc Ruot
      Trân trọng

  8. Mot Khuc Ruot says:

    Phật Giáo Việt Nam hoàn toàn bắt chước , ảnh hưởng nặng nề Phật Giáo Đại Thừa Trung Hoa , như hai giọt nước . Phật Giáo tại Trung Hoa trãi qua thời gian đã bị pha trộn với hai tôn giáo lớn khác là Nho Giáo và Lão Giáo , câu chuyện ” Tề Thiên Đại Thánh ” là một bằng chứng rõ ràng cho sự pha trộn này . Ngày nay , tại một số ngôi Chùa bắt chước một vài nghi lễ cũa Thiên Chúa Giáo như tổ chức làm phép cưới ……..Theo tôi , nguyên do là vì Phật Giáo không có một tổ chức chặt chẽ , Tín Lý và Niềm tin không rõ ràng , minh xác để rồi giới Tăng lữ vì muốn làm thõa mãn sự mê tín cũa chúng sanh , thu hút tín đồ ….đã tạo ra trình trạng Phật Giáo như ngày nay . Thoát Tục là con đường để đạt đến cõi Phật , cực lạc ……hình như vượt quá khả năng cũa chúng sanh . Hơn nữa , Đức Phật phũ nhận Thượng Đế , Thần Thánh , phản bác mê tín dị đoan ….nên không thõa mãn khuynh hướng tâm linh , mê tín cũa chúng sanh để rồi chúng sanh đúc tượng Phật để thờ , để cầu xin những dục vọng , ham muốn trần tục ….tệ hơn nữa là bị đồng hóa với các tôn giáo khác .

Phản hồi