|

Chính trị, Tôn giáo và Cù Huy Hà Vũ

Cù Huy Hà Vũ hiên ngang hôm 4/4/2011

Chính quyền có thể là đã lo lắng về một đám đông có thể xuất hiện khi đưa tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ ra tòa nên đã triển khai một lực lượng cảnh sát hùng hậu ngay trong ngày tòa xử. Nếu cứ để ông Cù Huy Hà Vũ nghênh ngang bên ngoài, có lẽ ông khó lòng tập hợp được sự quan tâm của quần chúng tới mức dấy lên sự sợ hãi cho chính quyền. Nếu để ông Cù Huy Hà Vũ tự do ngôn luận, có lẽ ông khó lòng thu hút được sự chú ý của giới bloggers, báo chí và khó lòng trở thành một nhân vật được đề cập trong một bài feature của tờ New York Times. Nếu để ông Cù Huy Hà Vũ tự do kiện tụng có lẽ người dân sẽ thấy Chính quyền tự tin và mạnh mẽ. Và có lẽ, nếu thả ngay ông Cù Huy Hà Vũ sau cái hôm ở khách sạn, hình ảnh một người đàn ông 50s bụng phệ sẽ được nhớ lâu hơn, và khó có thể bị thay thế bởi hình ảnh một tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, comple, cavat, trán rộng, đầu ngửng cao, ngạo nghễ đi giữa hai hàng cảnh sát.

Trong một nhà nước toàn trị, chính quyền có đủ quyền lực để làm bất cứ điều gì. Nhưng không phải cứ toàn trị thì không cần cân nhắc chính trị khi hành xử quyền hành vốn không bị ai giới hạn. Bức ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt mồm trong phiên tòa diễn ra ngày 30-3-2007 mang tính biểu tượng có lẽ không kém bức ảnh tướng Loan dí súng vào đầu bắn một tù binh hồi Mậu Thân. Trong lần đến Mỹ, khi trả lời phỏng vấn đài CNN, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết giải thích, khi ấy linh mục Nguyễn Văn Lý đã lăng mạ tòa. Nghe nói ông Lý còn định đạp đổ cả vành móng ngựa.

Cũng như những phiên tòa cùng loại, thường thì chính quyền chỉ muốn nó diễn ra đúng kịch bản, chứ ít khi để nó diễn ra tự nhiên. Phiên tòa sẽ chính trị hơn, chính quyền sẽ được lợi hơn nếu hình ảnh cha Lý-thay vì dùng lý lẽ lại dùng những lời lẽ không thích hợp ở một nơi tôn nghiêm-được phát đi trên truyền thông đại chúng. Hôm đó, nếu như các nhà báo được vào phòng xử án thì họ sẽ phải ngồi sau lưng cha Lý và đã không thể chụp bức ảnh cha Lý bị bịt mồm. Vì quá cẩn thận để các nhà báo quan sát phiên xử qua truyền hình nên bức ảnh chụp gián tiếp đã trở thành một công cụ tố cáo mạnh hơn trăm nghìn bài báo khác.

Không chỉ với “các nhà dân chủ”, cách hành xử cứng nhắc trong vụ nhà thờ Tam Tòa hồi tháng 7-2009, cũng đã tự nhiên đặt chính quyền trước một xung đột với các giáo dân. Tháp chuông bị bom-một chứng tích chiến tranh có giá trị bảo tồn- và tài sản của nhà thờ là hai mối quan hệ khác nhau. Không chỉ có giáo hội, nhiều người dân từng nuôi giấu những người cộng sản cũng đã phải dở khóc dở cười khi nhà của họ được xếp vào hàng di tích-Họ không còn dễ dàng đem bán, đem sửa nhà mình.

Không phải con cái trở thành nhân vật lịch sử thì cha mẹ không còn được xoa đầu. Quyền hành chánh của nhà nước và quyền dân sự của các tổ chức công dân là hai phạm trù khác nhau. Nếu quyền về tài sản của tổ chức, công dân không được tôn trọng thì xung đột là điều không tránh khỏi. Giáo hội chắc chắn cũng nhận thức được sức thu hút của cái tháp chuông bị đánh bom để bảo tồn và khai thác sự quan tâm của du khách. Nếu như để cho họ quản lý di tích ấy theo luật Bảo tồn và xây lên bên cạnh một nhà thờ để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng thì không những nhà nước-giáo hội có thể hữu hảo với nhau mà bà con lương-giáo cũng không việc chi phải tiếng chì, tiếng bấc.

Xét từ góc độ lợi ích của chính quyền, vụ bắt bớ Cù Huy Hà Vũ mất nhiều hơn được. Nếu cứ để cho ông Vũ kiện cáo, phát biểu trên internet hoặc trên đài nước ngoài, thì dân chúng trong nước cũng chỉ quan sát rồi cười còn những người chống cộng ở bên ngoài cũng không biết lấy cớ gì mà chống. Bắt Cù Huy Hà Vũ, không những giúp ông ấy kiến tạo hình ảnh của một người hùng mà Chính quyền tự nhiên phải đối phó với sự chỉ trích của quốc tế, đối phó với những mối lo ở quốc nội, một cách nhọc công không cần thiết.

Điều đáng chú ý là công giáo đã khai thác không giấu diếm những sự kiện như thế này. Nhiều bloggers, nhiều “nhà dân chủ”, sau những ngày bị bắt, sau khi mãn hạn tù, đã theo đạo để tìm sự chở che của Chúa. Trên mạng cũng bắt đầu thấy hình ảnh bà Dương Hà xuất hiện ở nhà thờ. Giáo xứ Thái Hà còn tổ chức đốt nến cầu nguyện cho Cù Huy Hà Vũ. Để người dân tự do tín ngưỡng và tôn giáo trở thành một lực lượng giúp kiến tạo nền tảng đạo đức thì xã hội sẽ thêm an bình. Để tôn giáo trở thành một lực lượng chính trị thì hậu quả về lâu dài là không lường được.

Huy Đức FaceBook

8 Phản hồi cho “Chính trị, Tôn giáo và Cù Huy Hà Vũ”

  1. Noi nhieuwa says:

    De cho Ton Giao tro thanh mot luc luong chinh tri ve lau ve dài Thi kho luong duoc hau qua!

    Thoi di cha noi huy duc oi. ! Boc phet leu lao vua phai thoi !
    Lo lang qua muc can thiet , hay nen dieu chinh lai XHCN cua ong di
    dung de no ve lau ve dài la hau qua kho luong do !

  2. D.Nhật Lệ says:

    Nói thẳng thừng,bài viết của Huy Đức có nhiều cái đúng nhưng cũng chứng tỏ vài nhận định hồ đồ.
    Dựa vào đâu mà ông cường điệu rằng Công giáo đã khai thác,không giấu giếm những sự kiện này.Suy
    diễn theo thành kiến,chứ không phải thành tâm.Giới công giáo đã bị VC.lên án,xuyên tạc chưa đủ hay
    sao mà ông gán tội “khai thác” cho họ.Khai thác là lợi dụng theo cái nghĩa duy lợi,chỉ biết ích lợi cho
    mình nhưng lợi gì ở đây khi họ chỉ nhằm ủng hộ một con người công chính bị tù tội.Ủng hộ một công
    dân hành động vì đại nghĩa bị đàn áp thì có gì sai trái,ngược lại đó là cách biểu lộ tình thương,tình liên
    đới giữa người với người.Nếu không làm thế mà lại “mũ ni che tai” mới đáng lên án vì chỉ lo tìm lợi ích
    cho mình theo kiểu mà Mác lên án “chỉ có súc vật mới quay lưng lại với đồng loại mà lo chăm chút bộ
    lông của mình”.
    Gia đình CHHV.không phải là giáo dân nhưng họ xin nhà thờ cầu nguyện cho phiên toà xử án “lành ít,dữ nhiều”.Đó không phải là nhờ Chúa chở che vì gia đình ông Vũ không phải giáo dân để nghĩ như
    thế nhưng theo thiển ý tôi thì bà luật sư DH.mong muốn giáo dân sẽ tới toà án ngày xử Ts.CHHV.
    càng nhiều càng tốt để ủng hộ việc làm vì dân vì nước của chồng bà,hầu thức tỉnh người khác.Có lẽ
    bà thấy sức mạnh của giáo dân trong ngày xử án giáo dân vụ Thái Hà khiến quan toà phải giảm nhẹ
    hình phạt đối với họ.Chỉ có sức mạnh ở số đông mới làm cho nhà cầm quyền chùn tay !
    Như thế,xem ra ông Huy Đức nhìn vấn đề có phần phiến diện và nặng phần suy diễn hơi xa sự việc.

  3. Vũ duy Giang says:

    Tác giả Huy Đức phân tích hay những phiên tòa”dàn cảnh”của CSVN để xử từ LM Lý,đến ông CHHV,với kết quả như”gậy ông,lại đập lưng ông”,vì hình ảnh LM Lý bi”bịt miệng”đã phản tuyên truyền của VC khắp thế giới là ở VN có tự do ngôn luận,cũng như vụ xử CHHV cho thế giới thấy rõ đây chỉ là 1 cuộc trả thù cá nhân của thủ tướng Nguyễn tấn Dũng,vì CHHV đã dám kiện ông này bất chấp pháp luật và kiến nghị của trí thức VK,VN, để cho Tầu khai thác Bô xít Tây Nguyên,và cũng là để “dằn mặt”con cháu các nhà”cách mạng lão thành”(như Cù Huy Cận,thân sinh của CHHV) là”hết chức, chết rồi là hết”,thì con cháu phải im mồm,nêu không thì bị phạt tù,mà họ cũng không được tự bào chữa cũng như CHHV,vì CSVN sợ nhân dịp này,CHHV kết án chế độ CS,mà hội đồng”ný”luận TW của Đảng cũng không dám gửi Tô Huy Rứa ra trước tòa,để”ný luận”chống lại CHHV.

  4. Vũ duy Giang says:

    Tác giả Huy Đức phân tích hay những phiên tòa”dàn cảnh”của CSVN để xử từ LM Lý,đến ông CHHV,với kết quả như”gậy ông,lại đập lưng ông”,vì hình ảnh LM Lý bi”bịt miệng”đã phản tuyên truyền của VT khắp thế giới là ở VN có tự do ngôn luận,cũng như vụ xử CHHV cho thế giới thấy rõ đây chỉ là 1 cuộc trả thù cá nhân của thủ tướng Nguyễn tấn Dũng,vì CHHV đã dám kiện ông này bất chấp pháp luật và kiến nghị của trí thức VK,VN, để cho Tầu khai thác Bô xít Tây Nguyên,và cũng là để “dằn mặt”con cháu các nhà”cách mạng lão thành”(như Cù Huy Cận,thân sinh của CHHV) là”hết chức, chết rồi là hết”,thì con cháu phải im mồm,nêu không thì bị phạt tù,mà họ cũng không được tự bào chữa cũng như CHHV,vì CSVN sợ nhân dịp này,CHHV kết án chế độ CS,mà hội đồng”ný”luận TW của Đảng cũng không dám gửi Tô Huy Rứa ra trước tòa,để”ný luận”chống lại CHHV.

  5. Nhân Dân Việt Nam says:

    Marx dưới con mắt của một người Việt Nam bình thường.

    Theo bước chân phát triển của nhân loại, triết học đã đồng hành cùng nhân loại trên hai ngàn năm. Ngày nay triết học không còn gì là mới mẻ cả. Mấy trăm năm trước B.C., các triết gia Socrates, Plato,… Aristotle ở phương Tây; Khổng Tử, Trang Tử, Lão Tử ở phương Đông đã đề xướng những tư tưởng, chủ thuyết để đưa con người trong xã hội vào nề nếp trong cư xử, những chính sách quản lý trong bộ máy chính quyền. Có rất nhiều người đã được bảng vàng đề danh trong vườn hoa triết học với những tư tưởng, chủ thuyết do họ tìm ra và khởi xướng.

    Trong tương lai, sẽ còn nhiều người được “đề danh” trong vườn hoa triết học. Một khi đã được “đề danh” thì tên tuổi các triết gia và chủ thuyết của họ vĩnh viễn đồng hành cùng với nhân loại. Có thể ví các triết gia, chủ thuyết, và tư tưởng của họ là những pho sách quý trong thư viện và sẵn sàng rộng mở cho những ai thích đọc sách, nghiên cứu để tìm ra những cái hay, cái đẹp cho mình, cho đời, cho nhân loại. Nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng khi có ai đó chọn ra một tư tưởng, chủ thuyết nào đó trong vườn hoa triết học để áp đặt triệt để vào một xã hội. Rất tiếc, chủ nghĩa Cộng sản đã dựa hoàn toàn vào học thuyết của Karl Marx, bổ sung bởi Engel và Lenin để cưỡng bức xây dựng nên một mô hình xã hội. Hậu quả của nó thì nhân loại ai cũng biết; từ những vụ đàn áp ở Đông Âu, nhà tù Gulag ở Liên Xô cũ, cải cách ruộng đất ở Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam, cải cách văn hóa ở Trung Quốc và sự diệt chủng của Khmer đỏ tại Campuchia… Ngày nay, nhân loại đã nhìn nhận sự sai lầm của việc áp dụng học thuyết duy nhất qua sự sụp đổ của cả hệ thống cộng sản từ 1989 đến 1991. Những nước cộng sản còn lại muốn tồn tại thì chỉ còn cái tên với hệ thống chính trị là còn mang hơi hướng của cộng sản, còn tất cả đều bị biến thái. Bài viết này đưa ra một số nhìn nhận về những sai lầm của việc áp dụng duy nhất học thuyết này, mong đóng góp thêm một tiếng nói ở một số khía cạnh để hiểu hơn sự tai hại của điều đó.

    I. Cái sai thứ nhất: Học thuyết Marx duy nhất đúng

    Từ ngàn năm trước đến nay, những bộ óc kiệt xuất của nhân loại đã khai phá và xây dựng những nền tảng kiến thức đóng góp cho sự hiểu biết và phát triển của xã hội loài người trong tất cả các lĩnh vực như khoa học tự nhiên, văn chương, âm nhạc, hội họa, y khoa, quân sự, triết học… Người đi trước, kẻ đi sau đều được nhân loại ưu ái một cách công bình. Nhà bác học Galileo vĩ đại với những nghiên cứu về vũ trụ. Nhà bác học Newton sống mãi với nhân loại với ba định luật về lực và các công trình toán học của ông. Dẫu như thế, trong trái tim nhân loại vẫn có chỗ đứng cho nhà bác học Einstein, dù ông có đi sau hai nhà bác học Galileo và Newton hàng trăm năm. Những nghiên cứu, phát minh của nhà bác học Einstein bổ khuyết cho những gì mà hai nhà bác học Galileo và Newton còn thiếu! Tương tự vậy, Mozart vĩ đại nhưng Beethoven cũng vĩ đại không kém! Van Gogh là một thiên tài hội họa nhưng Claude Monet và Picasso cũng lừng danh thiên hạ trong làng vẽ.

    Triết học cũng không là ngoại lệ. Khổng Tử nổi tiếng nhưng Trang Tử, Lão Tử vẫn cùng song hành tồn tại! Immanuel Kant vĩ đại nhưng Karl Marx vẫn được biết đến! Trước Marx có những triết gia vĩ đại và sau Marx vẫn có nhiều triết gia nổi tiếng. Vậy tại sao chủ nghĩa cộng sản chỉ biết có mỗi Marx, cho rằng chủ nghĩa Marx là duy nhất đúng và áp dụng làm kim chỉ nam để xây dựng xã hội?

    Ngoài ra, triết học không phải là toán học! Đúng hay sai trong triết học là do sự chiêm nghiệm, nhận thức của mỗi con người. Sẽ không bao giờ có sự đồng ý một cách hoàn hảo khi bàn về triết học. Do đó, đem một học thuyết trong triết học áp đặt làm nền tảng cho sự vận động của xã hội là tự bịt mắt mình trước những lỗ hổng của học thuyết đó, khiến xã hội sẽ bị phát triển lệch lạc và đến một giai đoạn khi sự lệch lạc đủ lớn thì cấu trúc xã hội sẽ sụp đổ. Điều này không áp dụng riêng với chủ nghĩa Marx, mà còn đúng với tất cả các chủ thuyết khác, triết gia khác! Đạo Khổng được áp dụng làm nền tảng cho các triều đại phong kiến ở Trung Quốc, Việt Nam. Các triều đại phong kiến đó hết thịnh rồi suy, bị diệt vong và bị thay thế bởi triều đại khác. Cái vòng luẩn quẩn đó chưa dừng lại nếu đạo Khổng vẫn được áp dụng như là một học thuyết duy nhất đúng.

    II. Cái sai thứ hai: Dùng học thuyết Marx để xóa bỏ giai cấp

    Con người không ai giống ai. Người thì thông minh, kẻ có tài, anh bất tài….. Và tất cả những phẩm chất đó sẽ liên kết con người trong xã hội thành và bù đắp lẫn nhau để tất cả mọi người trong xã hội cùng tồn tại. Người thông minh thì làm Viện sĩ, Giáo sư; người kém trí thì đi quét rác, làm thợ xây nhà… Như vậy, xã hội, một cách tự nhiên, tự nó hình thành nên những gia cấp lao động khác nhau. Cũng chả sao cả và cũng chả cần phải quan tâm hay lo lắng. Tất cả mọi người đều đóng góp cho xã hội và đều đáng được trân trọng. Chỉ đáng phê bình và đáng hổ thẹn nếu chúng ta không cống hiến hết mình, không sống hết mình, và không cố gắng hết mình những gì mà mình có thể mà thôi.

    Từ diễn biến tự nhiên này, trong một xã hội ắt phải có kẻ làm chủ và người làm công. Không có gì là sai, hay là tội nếu anh muốn và trở thành người làm chủ. Ba người cùng có số vốn giống nhau; sau ba năm, số tiền của mỗi người sẽ khác nhau. Vì hiểu biết kinh doanh mỗi người mỗi khác; cộng với sự cần cù, chi tiêu dè xẻn và may mắn trong việc mua bán. Người sẽ giàu hơn và đáng được làm chủ, kẻ không may mắn thì phải đành đi làm công. Marx đã sai lầm nghiêm trọng khi chủ trương phá bỏ giai cấp, xóa sổ giới chủ nhân. Sẽ đúng hơn, hay hơn nếu Marx chủ trương chỉ đấu tranh quyền lợi với giới chủ nhân thay vì đấu tranh xóa bỏ giới chủ nhân. Một sai lầm trong học thuyết của Marx là chỉ chủ trương đấu tranh cho “giai cấp công nông” còn bỏ qua các tầng lớp khác. Điều này thật quá vô lí. Đội ngũ Giáo sư, các thương gia, những người lao động nghệ thuật, không đáng được bảo vệ hay sao? Hay họ không phải là người? Ở Việt nam, đã có thời gian người ta gọi một cách mỉa mai giáo viên, nhà văn, nhà thơ là thợ dạy, thợ viết văn, thợ viết thơ để được đứng vào hàng ngũ những người được Đảng ưu ái.

    Khi một tập thể sống tìm cách tiêu diệt, tìm cách xóa sổ một tập thể sống khác thì ắt không thể chỉ dùng lời nói; và như vậy, việc dùng bạo lực là điều không thể tránh khỏi trong quá trình đấu tranh. Mà việc gì có bạo lực thì chắc không thể nào kết thúc tốt đẹp, êm thấm; phải có kẻ rơi đầu, đổ máu trong tang thương. Đó là khởi nguồn của những cuộc thanh trừng đẫm máu, những cuộc nội chiến tương tàn trong hệ thống các nước cộng sản mà ở Việt Nam là cải cách ruộng đất, thảm sát Mậu Thân, đại lộ kinh hoàng, cải tạo công thương.

    Khi giới chủ đã được hạ bệ, không còn giai cấp “bóc lột” nữa, giai cấp công nhân nắm quyền lãnh đạo, họ trở thành những ông chủ và “làm chủ tập thể”. Lãnh đạo sẽ từ trong tập thể công nhân với đầy đủ lý tưởng của chủ nghĩa Marx. Từ đây, mâu thuẫn, bất cập sẽ xảy ra mà giới công nhân (hay giới bị trị) không thể nào giải quyết được.

    Bất cập thứ nhất ở quyền lợi cho lãnh đạo. Khi một công nhân nhận vai trò lãnh đạo công ty thì theo học thuyết Marx, để triệt tiêu ý nghĩa của từ “bóc lột”, anh ta cũng chỉ được nhận lương giống với người lao động kèm theo một khoản trợ cấp trách nhiệm rất thấp. Nhưng, bỗng nhiên, anh ta nhận ra rằng người lãnh đạo có quá nhiều trách nhiệm, phải lao động quá sức tưởng tượng, vất vả gấp trăm lần người công nhân bình thường trong công ty trong khi anh ta không được hưởng đúng với giá trị lao động bỏ ra. Anh ta sẽ phải tìm cách đòi lại cho đủ với công sức của mình. Trong khi luật lệ không cho phép “người lãnh đạo mới” được hưởng những quyền lợi đó một cách hợp pháp, những người lãnh đạo từ giai cấp công nhân này sẽ biển thủ công quỹ, tham ô và không cần quan tâm đến trách nhiệm với công việc. Mọi sự hủ bại của giới lãnh đạo, quan chức xuất phát từ đây và điều này giải thích tại sao các chính phủ cộng sản kêu gọi chống tham nhũng, bạch hóa tài sản quan chức mà không bao giờ có thể làm được.

    Bất cập thứ hai là mâu thuẫn về trình độ lãnh đạo. Khi giới công nhân bầu ra người lãnh đạo từ trong tập thể của họ thì người lãnh đạo dù có giỏi hơn họ cũng còn thiếu kiến thức, kinh nghiệm trong quản lí, điều hành và kinh doanh. Như vậy anh ta sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho công ty. Tệ hại hơn, anh ta sẽ làm thiệt hại cho công ty với tư duy làm tới đâu học tới đó, làm tới đâu rút kinh nghiệm tới đó. Lợi đâu chưa thấy, nhưng cái kinh nghiệm “hỏng đâu sửa đấy, sửa đâu hỏng đấy, hỏng đấy sửa đâu” là thực trạng nhãn tiền ở các công ty nhà nước ở Việt nam hiện nay. Hiệu quả công việc thấp, kinh doanh luôn lỗ và nhà nước luôn phải lấy tiền thuế của dân ra để bù lỗ cho “đám con cưng” của mình.

    Bất cập thứ ba là “phê bình và tự phê bình”. Giới công nhân kia xem giới chủ nhân là “kẻ địch”; nhưng bây giờ thì không được nữa vì người giám đốc mới này là “đồng chí” với họ. Và như vậy giới công nhân không có “chính nghĩa” khi muốn phê bình, phản đối vị “lãnh đạo” mới này! Tự tung, tự tác, và xem thường vương pháp là điều không thể tránh khỏi vì vị “lãnh đạo” mới này có đầy đủ những lý do hợp lệ để làm mưa làm gió mà giai cấp công nhân không thể nói được. Đó là núp dưới chiêu bài “vì giai cấp công nhân”! Vâng, một khi vị “chủ nhân” mới đã “vì giai cấp công nhân” thì giới công nhân không thể nào phàn nàn, kêu ca gì được nữa!

    Tình trạng tương tự trong tầng lớp nông dân khi xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp. Chủ nghĩa Marx đã tự mâu thuẫn với chính mình khi tìm cách xóa bỏ giai cấp trong xã hội để hình thành một xã hội không giai cấp và chỉ tồn tại duy nhất “giai cấp công nông” mà thôi!

    III. Cái sai thứ ba: Dùng học thuyết Marx để định hướng suy nghĩ cho toàn xã hội .

    Ngay sau khi Hoa Kỳ được thành lập, Thomas Jefferson đã viết những bài báo để khẳng định một chân lí là tư duy của con người không thể bị kiểm soát và nhà nước được thành lập nên chỉ để làm sao những tư duy đó đóng góp tích cực nhất cho xã hội cũng như hạn chế nhất những tác hại của nó. Với nền tảng suy nghĩ nhân văn này, nước Mỹ đã được xây dựng để phát triển dân chủ, tự do theo đúng nghĩa của những từ này. Sự ép buộc để định hướng suy nghĩ của tất cả mọi người trong xã hội theo một chủ thuyết sẽ gây ra sự phản kháng mà cuối cùng là sự lật đổ chính quyền.

    Lịch sử đã cho chúng ta thấy những gì áp đặt thì luôn tạo ra sự phản kháng. Tại sao Chu Nguyên Chương, vua đầu tiên nhà Minh bên Trung Quốc, lại khởi nghĩa chống lại triều Nguyên? Tại sao người Mỹ chống lại triều đình Anh và lập quốc? Tại sao các dân tộc bị áp bức đã lần lượt lấy lại được tự do, độc lập của họ mà trong đó Việt nam là một ví dụ hùng hồn? Tất cả đều do hai chữ “áp đặt”! Hệ thống các nước cộng sản đã sai lầm khi áp dụng học thuyết Marx để áp đặt suy nghĩ cho tất cả mọi người về một hình thái xã hội lí tưởng không tưởng, không dựa vào sự phát triển tự nhiên của xã hội (thượng tầng và hạ tầng cơ sở) và tri thức của con người. Những cuộc cách mạng năm 1956 tại Hungary, Ba Lan; 1968 tại Tiệp Khắc, Công đoàn độc lập Ba Lan, những cuộc trốn chạy của người dân Đông Đức sang Tây Đức qua bức tường Berlin là những bằng chứng về phản kháng lên sự áp đặt. Để quản suy nghĩ của tất cả người dân trong xã hội, chính quyền đã phải xây dựng một lực lượng mật vụ khổng lồ như Stasi-Đông Đức, KGB-Liên Xô hay công an mật ở Việt Nam với tầng tầng, lớp lớp hệ thống an ninh các cấp. Việc nuôi hệ thống bảo vệ quyền lợi cho giới cầm quyền này tiêu tốn ngân sách quốc gia khủng khiếp. Cùng với những giới hạn trong phát triển kinh tế xã hội như đã được nêu ở phần trên; dần dần ngân sách quốc gia sẽ đi vào khủng hoảng nếu không có nguồn hỗ trợ bên ngoài. Các nước Đông Âu duy trì được hiện trạng chính quyền cộng sản là do sự có mặt của xe tăng và lính Liên Xô cùng với những ngân khoản viện trợ khổng lồ. Bản thân Liên Xô, sau hàng chục năm gắng gượng thì đến đầu những năm 1980, cũng không lo nổi cho mình và phải cải tổ, để kệ cho các nước Đông Âu tự lo cho số phận của mình. Sự thiếu hụt nguồn viện trợ tài chính đã khiến cho hệ thống an ninh không kiểm soát được người dân như trước nữa. Quả bong bong độc tài bị nổ tung. Chỉ trong năm 1989, tất cả các nước cộng sản Đông Âu tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, đặt Đảng cộng sản ra ngoài vòng pháp luật và các lãnh tụ cộng sản bị xét xử và trừng trị theo đúng tội lỗi của họ đã gây ra cho nhân dân họ theo đúng luật pháp do chính các lãnh tụ cộng sản này đặt ra. Sự áp dụng học thuyết Marx như một chủ thuyết duy nhất đúng của hệ thống các nước cộng sản là một sai lầm mà có thể nói “tự đào huyệt chôn mình” chứ không vì các yếu tố bên ngoài.

    Thay lời kết

    Marx được áp dụng và đồng hành cùng nhân loại chưa được một thế kỷ. Những gì tốt đẹp về Marx đã được rao giảng đến nhiều nước, nhiều triệu người. Tiếc thay, sự thật và kết quả lại không đúng như lời nói. Phúc lợi xã hội ở những nơi có Marx ngự trị quá thấp, quá tệ so với những nơi mà Marx từng xem là đồ rác rưởi. Marx muốn có một “xã hội công nhân” để mọi người được hưởng quyền lợi, phúc lợi xã hội như nhau nhưng có thể ông đã quên rằng “lượng đổi, chất đổi” và những người áp dụng học thuyết của ông cũng quên điều đó. Vì vậy, hệ thống các nước cộng sản chỉ có thể lụi tàn chứ không thể phát triển khi chưa có nền tảng kinh tế mạnh.

    Một hệ quả của nền kinh tế yếu là sự suy đồi nhân văn và cuộc sống tinh thần của mọi người. Có một lần, chúng tôi hỏi một số người bạn đang thành danh và thành công trong nước rằng: “Tại sao các mẫu quảng cáo tìm việc trong nước hiện nay đều có ghi phần giới hạn tuổi, giới tính, và hình thể?”. Điều này gần như không được phép trong xã hội văn minh, trừ trường hợp công việc đòi hỏi những yêu cầu sức khỏe khắt khe. Chúng tôi có nói với họ rằng những điều này là không nên. Vì công ty cần người làm được việc chứ không phải mướn người vô để ngắm, để nhìn! Nhưng những người bạn của chúng tôi xem đấy là chuyện bình thường và còn bảo là chúng tôi đang tìm cách giải quyết những vấn đề “không tưởng”!!! Họ không hiểu rằng việc đưa phần tuổi, giới tính, hình thể lên mục quảng cáo tuyển dụng là một điều sỉ nhục đến nhân phẩm con người.

    Ngoài ra, khi chúng tôi nói rằng “xã hội, công ty nên nâng đỡ những người khiếm khuyết về hình thể trong công việc” thì một anh bạn của tác giả bảo rằng “mỗi hoàn cảnh mỗi khác”! Dẫu rằng tất cả họ đều được đào tạo từ A tới Z với tư tưởng đầy “nhân bản theo chủ nghĩa Marx” và tin tưởng nó là tốt đẹp nhất. Nhưng thật là đáng buồn vì những gì họ được dạy, được nghe, những gì tốt đẹp nhất mà họ hình dung còn thua xa tiêu chuẩn của các xã hội văn minh lắm. Người ta đã nhân danh Marx để đưa học thuyết của ông vào đất nước chúng tôi. Nhưng, sau mấy chục năm trời thực hiện thì kết quả là như thế đấy! Bạn sẽ bị loại khi đi xin việc chỉ vì bạn đã quá bốn mươi lăm tuổi; vì bạn không có ngoại hình đẹp và vì bạn là nam hay nữ!”

    Đinh Thanh Thanh

  6. Hwy Tse says:

    CHỨNG TỎ

    Qua bài viết này, tác giả đã chứng tỏ ông ta cao hơn hầu hết các tác giả khác “một cái đầu”.

    Good job ! Keep up your work !
    Thanx 4 sharing !

Phản hồi