|

Hiểm họa Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc

Áo và Tiệp Khắc là hai quốc gia bị Đức cưỡng chiếm đầu tiên ngay cả trước khi Thế chiến thứ hai bùng nổ. Trong lúc Đức chiếm Áo không gây nhiều phản ứng vì Áo có nhiều liên hệ với Đức về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa và chính bản thân Hitler vốn là người Áo, việc cưỡng chiếm Tiệp Khắc là một biến cố lớn vì Tiệp Khắc là một nước độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và được xem là một trong số mười cường quốc châu Âu thời đó.

Thủ đô Praha trong chiến tranh thế giới thứ 2. Ảnh Super stock

Suốt thời gian dài hơn sáu năm dưới ách thống trị của Đức Quốc Xã, nhân dân Tiệp đã chịu đựng vô số thương vong, thiệt hại. Hàng trăm ngàn người bị giết và hàng trăm ngàn người khác bị đày ải trong các trại tập trung. Thế nhưng phải chăng ngày đó Tiệp Khắc yếu đến mức không bắn được phát súng nào?

Không. Trước Thế chiến thứ hai, thừa hưởng các thành tựu kỹ thuật của thời đế quốc Áo Hung, Tiệp Khắc là một trong sốt ít quốc gia có một quân đội đông đảo nhất và được trang bị tối tân nhất châu Âu. Việc Tiệp Khắc rơi vào tay Đức nhẹ nhàng như chiếc lá mùa thu phát xuất từ ba lý do chính. Hai lý do khách quan:

(1) Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức,
(2) Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các lãnh đạo chủ hòa châu Âu đứng đầu là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain, và một lý do chủ quan:
(3) Tiệp Khắc là một quốc gia ô hợp, phân hóa, suy yếu, có nhiều chính khách làm tôi mọi cho ngoại bang và giới lãnh đạo chính phủ không có quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.

Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức.

Sau giai đoạn cách mạng 1848, Đức trở thành cường quốc. Sức mạnh của Đức thể hiện không chỉ trong các lãnh vực kinh tế, quân sự, dân số mà cả khoa học. Tổng số giải Nobel các khoa học gia Đức được tặng thưởng trong giai đoạn 47 năm tồn tại nhiều hơn tổng số giải Nobel của các khoa học gia Anh, Pháp, Nga và Mỹ cộng lại. Năm 1871, Đế Quốc Đức bao gồm 27 khu vực, dưới sự lãnh đạo của Otto von Bismarck đã vượt qua đế quốc Anh. Giống như mọi đế quốc khác trong lịch sử, để tiếp tục lớn mạnh cần phải có tài nguyên thiên nhiên.

Đức là quốc gia nằm ngay giữa châu Âu và về mặt địa lý chính trị, suốt nhiều thế kỷ, các chế độ quân chủ Đức cũng chủ trương các quốc gia phía Đông trong đó có Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary là hàng rào an ninh của Đức để đương đầu với hai nước lớn khác là Pháp và Nga.

Sau khi sáp nhập Áo vào tháng Ba năm 1938 không cần dùng đến võ lực, Hitler tập trung vào chiến lược chiếm Tiệp Khắc bất chấp sự chống đối của nhiều tướng lãnh cao cấp trong đó có tướng Ludwig Beck, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Đức. Bản thân của Hitler cũng đánh giá Tiệp rất cao nên không dám công khai đưa quân vượt biên giới xâm lăng quốc gia này. Vì vùng Sudetenland có đông dân Đức và có nguồn dự trữ nguyên liệu lớn nhất của Tiệp Khắc, Hitler nghĩ đến việc chiếm vùng Sudetenland trước và dùng khu vực giàu có này làm bàn đạp thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc.

Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các các lãnh đạo Anh, Pháp đứng đầu là Thủ tướng Nevill Chamberlain đã “khuyến khích” Đức chiếm Tiệp Khắc.

Sau Thế chiến thứ nhất, dù thắng hay bại, các quốc gia đều phải chịu đựng một thời kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng. Khuynh hướng chủ hòa chế ngự trong sinh hoạt chính trị tại các cường quốc dân chủ và lãnh tụ hàng đầu của khuynh hướng này là thủ tướng Anh, Nevill Chamberlain. Thủ tướng Nevill Chamberlain tìm cách hòa giải mối thù địch với Đức. Khi Đức sáp nhập Áo, Chamberlain không có phản ứng cụ thể nào.

Khi Hitler công khai bày tỏ ý định sáp nhập vùng Sudetenlan của Tiệp Khắc đang có hơn ba triệu người gốc Đức, vào lãnh thổ Đức, vấn đề trở nên phức tạp vì Tiệp Khắc có liên minh quân sự với Pháp và Pháp có liên minh quân sự với Anh. Thủ tướng Anh Nevill Chamberlain qua trung gian của Sir Horace Wilson chuẩn bị đàm phán với Đức và qua trung gian của Lord Runciman thuyết phục Tiệp Khắc nhượng bộ. Trong lúc Hitler thông đồng với các nước nhỏ như Hungary và Ba Lan để xẻ thịt Tiệp, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt tuyên bố chủ trương trung lập của Mỹ về tranh chấp Sudetenland.

Ngày 15 tháng Chín năm 1938, Thủ tướng Nevill Chamberlain bay sang Đức để thương thuyết với Hitler. Các cuộc thương thuyết giằng co cho đến sáng sớm 30 tháng 9 năm 1939, thỏa hiệp Munich được ký kết giữa Đức, Anh, Pháp và Ý, trong đó, cho phép Đức sáp nhập vùng Sudetenland trù phú và chiến lược vào lãnh thổ Đức.

Tiệp Khắc không được mời tham dự hội nghị và chỉ được Anh Pháp thông báo kết quả. Chính phủ Tiệp nghĩ rằng Tiệp Khắc không có hy vọng gì thắng được Đức bằng sức mạnh của riêng mình, đã đồng ý với nội dung của thỏa hiệp Munich. Theo thỏa hiệp này, tướng Đức Wilhelm Keitel được cử vào chức thống đốc quân sự vùng Sudetenland. Những người dân Tiệp không phải gốc Đức phải rời Sudetenland trong vòng 10 ngày và không được mang theo bất cứ một món sở hữu nào. Câu Phản bội Tiệp Khắc để chỉ sự phản bội của đồng minh đối với Tiệp ra đời từ đó.

Mất Sudetenland, Tiệp Khắc không chỉ bỏ trống biên giới chiến lược phía nam mà còn mất 70% dự trữ sắt thép, 70% điện và 3 triệu công dân Tiệp. Trong lúc hiệp ước Munich là một thành quả ngoại giao lớn của Nevill Chamberlain, đối với Hitler lại là một bước lùi. Mục tiêu của Hitler không phải chỉ chiếm vùng Sudetenland mà cả nước Tiệp như Wilson Churchill tiên đoán. Đầu năm sau, Hitler lần lượt chiếm các vùng Bohemia, Moravia và phần còn lại của Tiệp Khắc.

Cả hai lý do trên không thể làm Tiệp Khắc mất một cách nhanh chóng nhưng chính sâu mọt và phản bội ngay trong lòng nước Tiệp và một chính phủ phân hóa, yếu kém, thiếu quyết tâm mới là những lý do chính làm tan rã Tiệp Khắc.

Rất nhiều sâu mọt trong nội bộ Tiệp và đứng đầu là Konrad Henlein lãnh đạo của đảng Sudeten gốc Đức.

Konrad Henlein một thầy giáo bậc trung học, lúc đó đang hoạt động dưới danh nghĩa đảng Sudeten quy tụ đa số dân Tiệp gốc Đức. Konrad Henlein sinh tại Bohemia, Tiệp Khắc có cha là người Đức và mẹ là người Czech. Đảng Sudeten của Konrad Henlein thông đồng với đảng Quốc Xã Đức và được đảng này tài trợ và huấn luyện. Mỗi tháng đảng Sudeten nhận 15 ngàn Đức Mã để trang trải các chi phí hoạt động. Ngày 28 tháng Ba năm 1938, Hiter gọi Konrad Henlein sang Đức và đích thân ra chỉ thị cho tên Tiệp gian này phải đưa ra những điều kiện mà Tiệp Khắc không thể thỏa mãn được. Mặc khác, Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã, tung một chiến dịch tuyên truyền ồ ạt về việc chính phủ Tiệp bạc đãi, đàn áp dân gốc Đức trong vùng Sudetenlan và xúi dục người dân Tiệp gốc Đức đứng lên đòi quyền tự trị.

Về lại Tiệp, Tiệp gian Konrad Henlein đòi chính phủ Tiệp phải để vùng Sudetenlan hoàn toàn tự trị, thay đổi chính sách đối ngoại của chính phủ Tiệp và toàn quyền phổ biến lý thuyết Quốc Xã. Dĩ nhiên, đòi hỏi tự trị còn có thể đàm phán được nhưng việc tự do tuyên truyền tư tưởng Quốc Xã khó có thể chấp nhận. Khi đàm phán bắt đầu, Tiệp gian Konrad Henlein và đảng của y lại tạo nhiều xáo trộn bạo động trong vùng và tiếp tục làm khó dễ chính phủ trung ương cho đến khi hiệp ước Munich được ký kết. Ngày 1 tháng Mười năm 1938, các đơn vị tiền phương của quân đội Đức vượt qua biên giới Tiệp giữa tiếng hò reo ủng hộ của các đảng viên đảng Sudeten, và cũng trong lúc đó hàng chục sư đoàn Tiệp được trang bị đầy đủ được chính phủ ra lịnh rút lui. Phía sau đoàn quân Đức là các đơn vị mật vụ Gestapo và lực lượng anh ninh SS. Chỉ trong thời gian ngắn 10 ngàn người dân Tiệp, kể cả dân nói tiếng Đức nhưng chống Hitler, bị đày vào các trại tập trung vừa mới xây ở Sudetenland.

Konrad Henlein gia nhập lực lượng an ninh Đức và tham gia vào đảng Quốc Xã. Mặc dù sinh ra, lớn lên trên đất Tiệp, Konrad Henlein đã góp phần quan trọng trong việc rước voi Đức giày lên Tiệp Khắc. Y được thưởng nhiều chức vụ và được cho phép làm công dân Đức. Sau khi Tiệp Khắc được đồng minh giải phóng, tên Tiệp gian phản quốc Konrad Henlein bị bắt và y đã tự sát bằng cách cắt gân máu ở cổ tay.

Kẻ phản bội thứ hai là tổng thống bù nhìn Emil Hacha. Sau khi Edvard Benes, tổng thống thứ hai của Tiệp Khắc từ chức, tân tổng thống Emil Hacha là một người nhu nhược. Buổi tối ngày 11 tháng Ba năm 1939, Hitler cho triệu Hacha đến Bá Linh và thông báo cho ý định chiếm toàn bộ Tiệp Khắc bằng võ lực và hứa nếu Hacha chịu hợp tác, Tiệp Khắc sẽ được hưởng quyền tự trị rộng rãi còn nếu nghịch sẽ bị đoàn quân Hitler tấn công Tiệp bằng mọi phương tiện trong đó có cả việc không quân của Đức cày nát thủ đô Prague. Emil Hacha quy thuận Hitler. Dưới thời Đức Quốc Xã chiếm đóng y được giữ chức vụ tổng thống bù nhìn nhưng buộc phải tuyên thệ trung thành trước Hitler. Mặc dù có nhiều tài liệu cho thấy Emil Hacha trong thời gian phục vụ Hitler cũng lén lút giúp cho phong trào kháng chiến chống Đức thuộc chính phủ lưu vong của Edvard Benes nhưng công không đủ để chuộc tội cho y. Sau khi Prague được giải phóng vào tháng Năm năm 1945, Emil Hacha bị bắt và chết hơn hai tháng sau đó trong hoàn cảnh bí mật. Y được chôn trong một ngôi mộ không đề bia tại nghĩa trang Vinohrady. Hiện nay, tại nghĩa trang Vinohrady có một tấm bảng ghi dấu nơi chôn của Emil Hacha.

Jozef Tiso là một kẻ phản quốc đội lốt tôn giáo. Mặc dù thụ phong linh mục nhưng y cũng là một trong những đảng viên nòng cốt của đảng Nhân Dân Slovak. Lợi dụng sự suy yếu của Tiệp Khắc sau hiệp ước Munich, đảng Nhân Dân Slovak do Tiso lãnh đạo tuyên bố Slovak tự trị trong vòng Tiệp Khắc. Vào 13 tháng Ba năm 1939, giống như vừa đe dọa Emil Hacha vài hôm trước đó, Hitler triệu Jozef Tiso đến Bá Linh và buộc y phải tuyên bố Slovak độc lập, tách rời khỏi Tiệp Khắc, nếu không Hitler sẽ thúc giục Hungary và Ba Lan chiếm đóng phần lãnh thổ còn lại của Slovakia. Jozef Tiso cũng tuân phục Hitler và trở nên một cộng tác viên trung thành cho chế độ Quốc Xã. Từ năm 1939 đến năm 1945, Tiso là tổng thống bù nhìn Slovakia chư hầu của Đức. Đảng Nhân Dân Slovak do y lãnh đạo liên kết chặt chẽ với đảng Quốc Xã Đức và chia sẻ quan điểm diệt Do Thái. Khi hồng quân Liên Xô tiến vào chiếm Slovakia tháng Tư năm 1945, Tiso bị bắt và bị kết án phản quốc. Jozef Tiso bị treo cổ ngày 18 tháng Tư năm 1947. Chính phủ Tiệp Khắc chôn y tại một nơi bí mật.

Chính phủ Tiệp Khắc nhu nhược không quyết tâm bảo vệ đất nước. Phân hóa và thiển cận trong thành phần lãnh đạo của hai sắc dân Slovak và Czecho trong chính phủ Tiệp đã làm thượng tầng kiến trúc lãnh đạo sụp đổ nhanh chóng.

Tiệp Khắc trong giai đoạn năm 1938-1939 đứng trước những khó khăn và áp lực quá lớn không những từ quốc tế mà ngay cả tại trong nội bộ Tiệp, nhưng thay vì đoàn kết để đương đầu với ngoại xâm, các sắc dân Tiệp đã phân hóa, chia rẽ và tiếp tay làm yếu khả năng đối đầu với Đức.

Xét về tương quan quân sự. Theo tổng kết của Giáo sư Sử học Carroll Quigley, đại học Georgetown dựa theo các tài liệu thuộc văn khố quân sự Mỹ sau Thế chiến thứ hai, trong giai đoạn đầu thù địch Đức Tiệp bùng nổ, Đức có 36 sư đoàn nhưng không được trang bị đầy đủ trong lúc Tiệp Khắc có 35 sư đoàn thiện chiến và được trang bị một trăm phần trăm hỏa lực. Vào tuần lễ thứ ba của tháng Chín năm 1939, quân đội Tiệp Khắc đã có một triệu quân với 34 sư đoàn tinh nhuệ trong lúc toàn bộ quân Đức để phối trí tại hành lang châu Âu chỉ có từ khoảng 31 đến 36 sư đoàn. Về không quân, vào tháng Chín năm 1938, Đức trội hơn Tiệp Khắc chút ít. Đức có 1500 máy bay trong lúc Tiệp có gần 1000 chiếc nhưng nếu tính cả Anh, Pháp số lượng phi cơ của ba nước cộng lại vượt xa Đức. Liên Xô ủng hộ Tiệp nên cũng gởi 36 phi cơ chiến đấu đến Tiệp qua ngã Rumania. Về chiến xa, tăng của Đức còn yếu hơn tăng của Tiệp Khắc. Ngoại trừ loại tăng thuộc thế hệ Mark III có trang bị pháo 37 li, phần lớn tăng thế hệ Mark II của Đức chỉ trang bị đại liên. Tiệp Khắc có mấy trăm xe tăng hạng nặng 38 tấn trang bị pháo 75 li hiện đại nhất thời đó.

Nếu đánh nhau với Đức trong một cuộc chiến tranh quy ước, chưa chắc Tiệp đã thua. Mà dù có thua, Tiệp Khắc cũng kéo dài cuộc chiến được một hai năm đủ thời gian cho quốc tế can thiệp hay tìm cách lôi kéo các nước châu Âu vào ván cờ sinh tử. Khi tràn ngập Tiệp Khắc vào tháng Ba năm 1939, Đức tịch thu của Tiệp 469 xe tăng, 1500 phi cơ chiến đấu đủ loại, 43 ngàn súng máy và nhiều triệu súng trường. Số lượng vũ khí đó Đức đã phải tốn hàng năm mới sản xuất được.

Tiệp Khắc, một quốc gia có điều kiện kỹ thuật tiên tiến nhất châu Âu và từng là một phần của đế quốc Áo Hung hùng mạnh đã bị Hitler xóa tên khỏi bản đồ thế giới không tốn một viên đạn. Với một quân lực cả triệu người và phương tiện đầy đủ nhưng chỉ vì sự yếu hèn của cấp lãnh đạo, Tiệp Khắc trở thành đỉa thịt bò tươi trong bữa cơm chiều của nhiều khách lạ.

Sau khi Tiệp bị Hitler cưỡng chiếm, hàng ngàn người dân Tiệp yêu nước phải tự phát rút vào chiến tranh du kích chỉ bằng vài tạc đạn và vài khẩu súng ngắn. Nguồn tiếp tế quá xa và kho súng đạn khổng lồ đã bị tịch thu, họ đã phải chiến đấu trong điều kiện hết sức khó khăn. Hàng trăm ngàn người Tiệp đã chết dưới bàn tay sắt của tử thần SS Reinhard Heydrich. Tướng SS Reinhard Heydrich, cai trị Bohemia và Moravia (vùng đất Tiệp sau khi sáp nhập vào Đức) được các sử gia đánh giá là tên tướng độc ác nhất trong hàng tướng lãnh công an mật vụ SS Đức. Y là một trong những kiến trúc sư của kế hoạch tiêu diệt dân Do Thái Holocaust. Hitler ca ngợi Heydrich là “con người có trái tim bằng sắt”. Y bị kháng chiến quân Tiệp ám sát tại Prague vào cuối tháng Năm năm 1942. Đức trả thù tàn bạo. Hai làng Lidice và Lezaky, tình nghi che giấu kháng chiến quân, bị đốt thành tro, tất cả đàn ông đều bị bắn chết, chỉ còn một ít phụ nữ và trẻ em bị đày vào các trại tập trung.

Sự chịu đựng của nhân dân Tiệp đã để lại nhiều bài học cho Việt Nam khi đương đầu với chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc.

Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc chủ trương bành trướng xuống vùng Đông Á

Như đã trình bày trong bài “Hiểm họa Trung Quốc và bài học Thổ Nhĩ Kỳ”, vì các lý do an ninh, chính trị, kinh tế, Trung Quốc phải tìm mọi cách khống chế biển Đông. Hai nỗi lo lớn của giới lãnh đạo CS Trung Quốc là sợ bị bao vây từ bên ngoài và diễn biến hòa bình bên trong nội bộ Trung Quốc. Nhìn quanh, họ chỉ thấy kẻ thù. Thật vậy, hầu hết các quốc gia dân chủ trong vùng từ Ấn Độ đến Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan, tuy mức độ khác nhau nhưng đều là các quốc gia đang có những mâu thuẫn căn bản với Trung Quốc, không những về quyền lợi kinh tế mà cả chế độ chính trị. Sự lệ thuộc về chính trị của Việt Nam vào Trung Quốc không chỉ giúp giữ an toàn phòng tuyến phía nam mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Tuy nhiên, khác với Đức Quốc Xã, Trung Quốc không dám tung một cuộc tấn công toàn lực như Hitler chuẩn bị cho Tiệp mà chủ trương gậm nhấm từng phần đất, từng ngọn núi và từng hải lý của Việt Nam.

Nắm được yếu điểm của CSVN, trong lúc tiếp tục phát triển kinh tế, mở rộng ngoại giao với hầu hết các quốc gia từ năm 1978, Đặng Tiểu Bình vẫn tiếp tục phát động chiến tranh xoi mòn biên giới Việt Nam như trận Cao Bằng năm 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên năm 1981, Vị Xuyên Hà Tuyên năm 1984, Lão Sơn Hà Giang năm 1984, Vị Xuyên lần nữa vào năm 1985 và năm 1986. Trên mặt biển Trung Quốc tiếp tục xâm phạm chủ quyền Việt Nam, bắn thủng ghe tàu, thành lập thành phố Tam Sa, đưa hàng ngàn tàu đánh cá ra khơi, tàn sát ngư dân Việt Nam.

Lãnh đạo CS Trung Quốc biết những hành động lấn ép đó không đủ mạnh, đủ lớn để làm quốc tế lưu tâm. Không một Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc nào rảnh rỗi để bàn chuyện vài chiếc ghe đánh cá của ngư dân Việt Nam bị “tàu lạ” húc ngoài Quảng Ngãi hay đặt vấn đề tại sao các tàu đánh cá Trung Quốc cứ tiếp tục thả lưới trong vùng biển Việt Nam. Những sự kiện ghe tàu đó đối với các cường quốc là chuyện vặt nhưng với một nước nhỏ như Việt Nam nơi có nhiều triệu dân gắn liền với ngư nghiệp lại là chuyện lớn. Đặc tính hèn hạ, nhỏ mọn đó của Trung Quốc là sản phẩm của chế độ độc tài CS và đừng ai hy vọng gì các đặc tính đó thay đổi một khi chế độ sinh ra chúng còn tồn tại.

Đàm phán với Trung Quốc ư? Đàm phán đa phương quốc tế Trung Quốc không tham dự nhưng đàm phán song phương là rơi vào chiếc bẫy của Trung Quốc. Nếu ai theo dõi chuyện Trung Quốc và Liên Xô tranh cãi nhau về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri sẽ thấy. Các phiên họp tranh cãi chủ quyền kéo dài tới 20 năm, từ thập niên 1970 cho đến 1990 nhưng không đem lại kết quả nào. Mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc chở theo một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc biết dù chở cả xe bằng chứng cũng chưa hẳn thuyết phục được Liên Xô nhưng chỉ muốn kéo dài thời gian đàm phán để chờ đợi thời cơ.

Tương tự như Hitler, lãnh đạo CS Trung Quốc lợi dụng chính sách ngoại giao mềm của Mỹ

Trong bài viết Tranh chấp Mỹ – Trung, một cảnh giác cho lòng yêu nước tôi có dịp trình bày chính sách Mỹ hiện nay là sự bước tiếp nối của chính sách ngăn chận thời Chiến tranh lạnh trong điều kiện toàn cầu hóa. Nhiều người Việt lầm lẫn nghĩ rằng hàng không mẫu hạm George Washington hùng mạnh thả neo ngoài khơi Đà Nẵng là để bảo vệ Việt Nam. Thật ra, cả Trung Quốc và Mỹ đều biết dù áp dụng chính sách nào hay dù có thái độ nào, xung đột võ trang giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới có phụ thuộc quá sâu, quá phức tạp về kinh tế không thể xảy ra trong một giai đoạn ngắn tới đây.

Về phía Trung Quốc, không giống Đức Quốc Xã cần chiến tranh để phục hồi và phát triển, Trung Quốc phải đương đầu với hàng loạt khó khăn trên trong cũng như bên ngoài, việc phát động một cuộc chiến tranh quy mô ở Á châu và Thái Bình Dương như Hitler đã làm với Tiệp Khắc là một điều giới lãnh đạo CS Trung Quốc không dám thực hiện. Hơn ai hết, giới lãnh đạo CS Trung Quốc biết họ phải cần nhiều chục năm kỹ thuật và một ngân sách hải quân khổng lồ mới mong đuổi kịp Mỹ. Ngoài ra, chủ nghĩa Cộng Sản đã chết, Trung Quốc hiện đang sống nhờ vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan và Thế chiến thứ nhất 1914-1918 dẫn đến tự sụp đổ của Đế Quốc Đức, Đế Quốc Áo Hung, Đế Quốc Ottoman đã dạy họ một bài học: Các đế quốc gây chiến trên nền tảng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan chẳng những không thắng mà đều tan rã từ bên trong.

Về phía Mỹ, ngoài các lý do kinh tế, riêng trong lãnh vực quân sự cũng không phải dễ dàng. Chính phủ Mỹ trong lúc muốn duy trì ảnh hưởng trong vùng, cũng không muốn bị cuốn vào các xung đột mang màu sắc chủ nghĩa dân tộc đối đầu với chủ nghĩa dân tộc như trường hợp Trung Quốc và Việt Nam. Tháng Giêng 2011, Tổng thống Barack Obama trải thảm đỏ tiếp đón Chủ tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào như quốc khách với 21 phát đại bác chào mừng. Trong buổi tiếp tân, TT Obama ca ngợi “sự hợp tác tốt đẹp giữa hai nước”. Khi trả lời buổi phỏng vấn dành cho tờ Wall Street Journal, Hồ Cẩm Đào công nhận sự quan trọng trong quan hệ tốt giữa Trung Quốc và Hòa Kỳ. Họ Hồ cũng nhấn mạnh đến việc hai quốc gia phải “hành động phù hợp với quyền lợi căn bản của nhân dân hai nước, và tôn trọng quyền lợi chung của hòa bình và phát triển thế giới”.

Dân biểu Ileana Ros-Lehtinen, thuộc đảng Cộng Hòa, Chủ tịch Ủy ban Ngoại Giao Hạ Viện trong một văn bản công bố cho báo chí sau đó, đã nghiêm khắc phê bình Trung Quốc không xứng đáng là một cường quốc vì nhiều lý do và một trong những lý do, Trung Quốc đã ngang nhiên xem Biển Đông như là “quyền lợi chính” và xem thường quyền hàng hải và lãnh thổ của các quốc gia vùng Đông Nam Á. Các lãnh đạo Cộng Hòa cũng tố cáo TT Obama đã thực thi chính sách “Nhân nhượng” của Nevill Chamberlain để đối phó với Trung Quốc. Dĩ nhiên, TT Barack Obama phủ nhận những lời kết án này.

Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc nắm chắc các thành phần lãnh đạo cam thân làm nô bộc cho ngoại bang và không quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.

Trung Quốc biết rất rõ tham vọng cố bám vào chiếc ghế quyền lực của giới lãnh đạo CSVN. Chủ trương “hợp tác hổ tương bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các quốc gia” của lãnh đạo CSVN chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền che đậy sự sợ hãi trước đàn anh CS Trung Quốc. Ngay cả các cường quốc Anh, Nhật, Pháp cũng không chủ trương như vậy đừng nói chi là những nước mang số phận sân sau như Việt Nam. Các nước nhỏ như Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Điển, Đài Loan, Nam Hàn vượt qua được những nhược điểm khách quan và chủ quan của đất nước họ bởi vì họ biết cách vận dụng chính sách đối ngoại của các cường quốc để phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Không chỉ Thổ Nhỉ Kỳ cần Anh Quốc mà Anh Quốc cũng cần Thổ Nhĩ Kỳ và tương tự không chỉ Đài Loan cần Mỹ nhưng Mỹ cũng cần Đài Loan.

Quan hệ Trung Quốc và Việt Nam không giống như quan hệ giữa Mỹ và Philippine hay Mỹ và Nam Hàn. Giới lãnh đạo CSVN không có vị trí độc lập về chính sách đối ngoại. Mọi chính sách trước khi đưa ra đều phải đo lường phản ứng từ phía Trung Quốc. CS Trung Quốc và CS Việt Nam chia sẻ nhau một lịch sử lâu dài từ ngày đảng Cộng sản hai nước được thành lập. Hai đảng gắn bó về cả vật chất lẫn tinh thần. Câu nói của Mao “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là nắm lấy quyền lực thông qua đấu tranh võ trang và giải quyết vấn đề bằng chiến tranh” là tư tưởng chỉ đạo của đảng CSVN trong khi vạch định đường lối suốt hai cuộc chiến. Năm 1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cả hai nước đã thừa nhận sự đóng góp của và người của Trung Quốc vào mục đích thiết lập chế độ Cộng sản tại Việt Nam. Nợ máu xương chồng chất. Tuy không dính dáng gì đến dân tộc Việt Nam nhưng nhân dân Việt Nam đã và đang phải trả bằng máu của bao nhiêu thế hệ từ trước năm 1975 cho đến nay và chưa biết ngày nào mới trả hết.

Bài học từ chủ nghĩa dân tộc cực đoan

Bài học lớn nhất mà nhân loại học được từ Thế chiến thứ hai là sự thụ động, tiêu cực của con người trước hiểm họa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Những kẻ chịu trách nhiệm cho cái chết của 70 triệu người không chỉ là Adolf Hitler, Benito Mussolini và Kideki Tojo nhưng còn là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain và Tổng thống Pháp Édouard Daladier. Chính người dân Đức đã bỏ phiếu cho Hitler và người dân Anh đã nhảy nhót vui mừng khi lãnh thổ Tiệp rơi vào tay của Đức. Trong một thời gian ngắn trước Thế chiến thứ hai, không chỉ Đức thôi mà cả nước yếu kém hơn Tiệp như Ba Lan, Hungary cũng dự phần vào bữa tiệc nấu bằng thịt xương Tiệp Khắc. Thế chiến thứ hai có thể đã không xảy ra hay xảy ra với mức độ tác hại thấp hơn nếu số lớn nhân loại ngày đó không thỏa hiệp, không đồng lõa với cái ác.

Từ đó để thấy, việc ngăn chận chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc ngày nay phải là trách nhiệm hàng đầu của nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý bởi vì lịch sử chứng minh chủ nghĩa dân tộc cực đoan dẫn đến chiến tranh ngay cả trong trường hợp các kẻ chủ trương cực đoan không muốn. Chưa từng có một trường hợp nào ngược lại. Giới lãnh đạo CS Trung Quốc là những người nhúm lên ngọn lửa dân tộc cực đoan nhưng lửa cháy mạnh hay yếu tùy thuộc vào nhiều yếu tố có khi không nằm trong vòng kiểm soát của họ.

Các chủ trương đồng hóa và diệt chủng các dân tộc yếu thế là phó sản của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Từ giai đoạn sau cách mạng Pháp 1789 đến Thế chiến thứ nhất rồi Thế chiến thứ hai cho tới các cuộc chiến đẫm máu vùng Balkans giữa các nước thuộc liên bang Nam Tư cũ, máu nhân loại đã đổ liên tục vì chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Sau cực tả là cực hữu, bản đồ thế giới chưa bao giờ thay đổi nhanh chóng như trong vòng một phần tư thế kỷ vừa qua.

Các nhà phân tích thường dựa vào hậu quả hơn là tìm hiểu nguyên nhân nên không lấy làm lạ ít người so sánh Hitler với Đặng Tiểu Bình. Đa số vẫn đánh giá họ Đặng như một nhà lành đạo CS tiến bộ, mở cửa hiện đại hóa, làm dịu căng thẳng giữa hai khối. Tuy nhiên, quan điểm của Hitler và Đặng Tiểu Bình có nhiều điểm giống nhau hơn cả giữa Hitler và Stalin, Hitler và Mussolini hay Hilter và Mao bởi vì cả hai đã dùng chủ nghĩa dân tộc như một phương tiện để kích thích “niềm kiêu hãnh quốc gia”, vẽ lên trong nhận thức con người về “một loại đất nước huy hoàng tưởng tượng”, làm gia tăng nhất thời sức mạnh kinh tế và tạo áp lực thường xuyên trên các nước yếu hơn trong vùng.

Nhân loại nguyền rủa Hitler, kết án Mao và phỉ nhổ Stalin, tuy nhiên, nếu chiến tranh bùng nổ tại Á Châu, với dân số 1.3 tỉ người mà bầu nhiệt huyết được đun sôi bằng ngọn lửa hận thù, hậu quả của chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình nhóm lên từ năm 1978 sẽ khủng khiếp đến dường nào. Giữa Hitler và Đặng Tiểu Bình ai tàn ác hơn ai, chưa biết được.

Có hy vọng nào cho dân tộc Việt Nam?

Nhìn lại Việt Nam, chưa bao giờ dân tộc lại phải chịu đựng sự phân hóa, chia rẽ trầm trọng như hôm nay. Một người Việt quan tâm đến tiền đồ dân tộc nào cũng đau lòng nhận ra điều đó. Tuy nhiên, dù có thể còn khác nhau trong cách trả lời, chúng ta không thể không đồng ý rằng, để cứu đất nước, trước hết phải tháo gỡ chiếc gông độc tài chuyên chính ra khỏi cổ người dân và trả lại cho họ những quyền bẩm sinh mà ai cũng có, đó là quyền làm người, quyền quyết định sinh mệnh của chính mình và của dân tộc mình. Bởi vì, chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ, tự chủ, cường thịnh mới mong thắng được chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc.

© Trần Trung Đạo

 

—————————————————————-
Tham khảo:

- David Faber, Munich, 1938 Appeasement and World War II, Simon & Schuster, New York 2009
- William L. Shirer, The Rise and Fall of the Third Reich, 1995
- Mark Mazower, Hitler ‘s Empire, How The Nazis Ruled Europe, The Penguin Press, New York 2008
- Carl K. Savich, Nationalism and War, MarkNews. com, 2008
- Richard J. Evan, The Third Reich in power, The Penguin Press, New York 2005
- History of Germany, Wikipedia, the free encyclopedia
- Interview with Dr. Carroll Quigley, Georgetown University, The Courier, December 12, 1952
- Hitler’s Plan for Eastern Europe, Selections from Janusz Gumkowkski and Kazimierz Leszczynski
- World War II database, Munich Conference and the Annexation of Sudetenland
- Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong’s Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Woodrow Wilson International Center for Scholars, 2002

25 Phản hồi cho “Hiểm họa Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc”

  1. Kiến vàng says:

    Đám người chống cộng bị bệnh nghiện chửi, chúng có biết đúng sai là gì đâu mà tranh luận, đọc một bài viết, một ý kiến, nếu trong đó không chống cộng, chống đất nước VN hiện tại thì lũ đó sẽ bâu vào chửi để thoả mãn nỗi nhục thua trận, nỗi nhục bị vạch mặt là bán nước, nhưng thực tế là có rất nhiều người trong họ đã nhận ra ngay cả trên diễn đàn này cho nên những người CCCĐ dần mòn cũng đi theo chế độ đã chết gần 40 năm cả thôi!

  2. Lâm Vũ says:

    Tác giả TTĐ mang Đức thời trước thế chiến Hai so sánh với TQ ngày nay, cũng như Việt Nam bây giờ với Tiệp Khắc thời đó rất là hay, vì có rất nhiều điểm tương đồng.

    Chủ yếu, Hitler đã dùng chủ nghĩa dân tộc làm nền và viễn tượng làm bá chủ trong vùng để dụ dỗ dân chúng mù quáng theo mình hoàn toàn không khác với đường lối tuyên truyền dụ dỗ dân TQ bây giờ. Về phía Tiệp Khắc (Czechoslovakia), thời đó quốc gia mới dành độc lập với hai khối người Czech và Slovak, cũng chia sẻ ngôn ngữ và văn hóa với nhau, và nhất là ý chí được độc lập với những nước hùng mạnh chung quanh.

    Nhưng chính quyền Czechoslovakia đã không kết hợp được hai khối dân tộc chính đó với nhau, do đó nhìn bề ngoài, thì Czechoslovakia có quân đội hùng mạnh, nhưng thiếu ý chí chiến đấu cho một tổ quốc chung. Rốt cục, trước ý đồ xâm lược của Đức Quôc Xã, Czechoslovakia chỉ mong đợi vào hiệp ước liên minh quân sự đang có với Pháp và Anh Quốc. Nhưng Hitler đã khéo léo dùng chiến sách vừa đe dọa vừa dụ dỗ, đã khiến Pháp và Anh đã làm ngơ cho phép Đức “thu hồi” đất Tiệp về với “tố quốc” Nhật Nhĩ Man (Đức).

    Việt Nam giống Tiệp ở chỗ nào? Người Tiệp vốn có văn hóa cao – Đại học Charles ở Prag (tiếng Đức: Karls-Universität zu Prag) thành lập vào cuối thế kỷ 14, không những là đại học cổ nhất của Tiệp mà đại học đầu tiên dạy bằng tiếng Đức (song song với tiếng Tiệp, dĩ nhiên), trươc kho tách rời ra thành hai trường ĐH, một cho tiếng Đức một cho tiếng Tiệp. Người Tiệp có tinh thần độc lập cao, sẵn sàng hy sinh để chống ngoại xâm, nhưng cũng có vấn đề đoàn kết “nội bộ”, nhất là giữa hai khối dân tộc Czech và Slovak.

    Việt Nam cũng có nền văn hóa cao, chia xẻ nhiều điểm tương đồng về văn hóa với Tầu (như Tiệp với Đức) nhưng cũng có vấn đề đoàn kết nội bộ. Tuy nhiên có sự khác biệt về nguyên do của sự chia rẽ đó. Khác với Czechoslovakia, đại khối dân tộc VN có chung một nên văn hóa và nguồn gốc lịch sử, sự chia rẽ chẳng qua hoàn toàn do chính sách đối đã bất bình đẳng, với mục đích “chia để trị”, trước kia là do thực dân Pháp và từ 1975 do chính quyền Hà Nội chủ trương để thống trị người dân ở miền Nam đất nước.

    Tóm lại, nguyên do khiến cho Việt Nam trở nên một quốc gia nhược tiểu và trở thành miếng mồi ngon cho quá trình trống trị Đông Nam Á hoàn toàn là chính sự tham quyền cố vị của chính quyền CSVN, chứ không ở đâu khác. Trong suốt chiều dài của lịch sử VN, mỗi khi lãnh đạo quốc gia – ngaỳ xưa mà triều đình vua chúa thì nay là “đảng” – trở nên suy yếu là ắt người Tầu đều mang quân sang xâm chiếm. Có điều khác, là ngày trước mọi cuộc xâm lăng của Tầu đều đến từ bên ngoài, nhưng ngày nay cũng đến từ bên ngoài và cả từ trong nội bộ “triều đình”, tức chính quyền Hà Nội.

    Tóm lại, ngẫm cho kỹ, ý kiến so sánh tình trạng VN ngày nay với Czechoslovakia thời trước khi bị Đức chiếm đóng vào đầu thế chiến Hai là một khám phá quan trọng của tác giả TTĐ.

    Lâm Vũ
    (14 Aug 2012)

  3. Binbon says:

    Đám người CCCĐ luôn luôn lừa dối, bóp méo sự thật, bôi nhọ đất nước nhưng bản chất suốt mấy chục năm không thay đổi, mấy cái loa chiêu hồi ngày xưa tuyên truyền bây giờ vẫn vậy, nhìn cách đối xử với nhau và cách chúng đối xử với bà con hải ngoại thì biết!

  4. Người San Jose says:

    Xin lưu-ý:

    Nếu các vị có ý-định chống Tàu Cộng thì hãy chống nửa vời thôi !
    Nếu quá nửa vời chút xíu thì các vị sẽ bị lên án là chống Tàu cực-đoan !
    Và cái bọn chống-cực-đoan sẽ vò nát các vị bằng vài bài chủ và một đống comment.
    Có lẽ tôi củng nên “tham-gia chống cực-đoan”. Bọn này hiện đang rất mạnh.

    Người San Jose

  5. Vân Nam says:

    Xin trân trọng cáo lỗi cùng quý độc giả, trong phần trả lời ông Văn Minh, tôi đã sơ xuất nói giáo sư Carroll Quigley là “Bà”. Ông sinh năm 1910 tại Boston và mất năm 1977, tốt nghiệp tại Harvard University và là Giáo Sư tại đại học danh tiếng Georgetown. Xin BBT đăng lời cáo lỗi này. Cám ơn!

  6. Michael Le says:

    Tác giả Trần Trung Đạo có một kiến thức rộng lớn về lịch sử châu Âu, Trung Quốc và Việt Nam!

  7. Havu says:

    @builan: nghe ông nói biết ông là người thế nào, thời đại internet mà còn hỏi biết TTĐ là ai. Sao ông ko tự tìm hiểu Lịch sử nước Tiệp nó thế nào để xem ai nói đúng, chỉ có những người bại não thì mới hít hít xem có tí chống cộng nào không để ủng hộ, vậy cũng như những kẻ ăn bám, ăn bám những người xung quanh, ăn bám Xã hội, ăn bám ngoại bang. BBT ĐCV có người học và sống ở đông âu sẽ biết điều đó vì nó quá đơn giản, trên thế giới này có một số nước không thích chiến tranh kể cả việc chống xâm lược và vì vậy lập luận của TTĐ trong bài này là sai. Bây giờ dân Tiệp không ai chê nhà đương quyền lúc đó là hèn, BBT nên gửi ý kiến của tôi đến TTĐ để xem ông ta có thấy cái sai của ổng ko?

  8. nguenha says:

    Tôi đã đến Praha(Tiệp khắc),và đã thấy con người của xứ Tiệp,ở đó vẩn thấy được “cái hồn”của thuở nào vang bóng một Praha giữa trời Âu.!! Tôi đã về Hanoi,quê hương của tôi,mất hết “cái hồn” của 36 phố phường,để nhường chổ lại cho giọng nói “trọ-trẹ”(Haloi)!!Vì sao thế?? Vì Praha không có “một HCM khát máu” như VN đã có.Thật giản đơn!! Xin những ai đó,đừng tự hào viển -vong rằng: Ta(VN) đánh xâm-lược!!Có khi đó là “điều kiện Cần”,nhưng có khi đó chính là “điều ngu xuẩn”,nhất là đối với các nước nhỏ:Thụy-Sỹ và các nước Bắc Âu là bằng chứng!! Có ai khinh họ đâu,hơn nhau không phải ở “đấm-đá”,mà ở Trí-năng.! Ngày hôm nay,một đất nước gần 90 triệu dân(VN),ngửa tay “xin ăn”các nước nhỏ một
    vài triệu dân Singapore,Nauy…là câu trã lời đích thực nhất cho câu:”kẻ thù nào cũng đánh thắng”!!!
    Trở lại câu hỏi của anh TTD:”có hy vọng nào cho VN??”.Hết hy-vọng rồi!! Bất cứ một nước lân bang nào,
    với ý đồ Xâm lược,như Trung Cộng,không chiếm VN lúc nầy thì còn lúc nào??Một đất nước mà đoàn kết
    Dân-tộc “rả cánh”,tham nhũng,hưởng thụ …làm triệt tiêu ý-chí chiến đấu .Một Dân-tộc mà sinh-khí(vital force) và tinh lực(energy) không còn nữa(cứ xem Ngô bảo Châu nhận quà thì biết!!),thì đây là Cơ hội “ngàn vàng”cho những kẻ Xâm lược!!

  9. THƯỢNG NGÀN says:

    ÂU VÀ Á TRONG TƯƠNG QUAN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

    Tại Châu Âu ngày xưa, các nước lân bang nhỏ thường hay sợ Nga và sợ Đức. Khuynh hướng của Đức và của Nga vẫn thương bắt nạt, thôn tính, xâm chiếm các nước yếu hơn. Đó là điều kiện và tình huống khách quan của thời kỳ thế chiến I, thế chiến II mà mọi người đã biết. Song ngày nay Châu Âu đã thành Cộng Đồng chung, có nghĩa những điều gì trước kia người ta lo sợ, giờ đây đã được giải tỏa hay chuyển biến khác hơn nhiều.
    Riêng tại Á Châu, vùng lục địa châu Á, những nước nhỏ chung quanh TQ đều ngán TQ. Đó là thời xa xưa và cả thời nay. Nhiều khi ý nghĩa của sông liền sông, núi liền núi, hay biển liền biển đều nguy hiểm mà chẳng phải lạc quan như có số người tưởng thật hay chỉ giả bộ. Song có một điều là nếu ở châu Âu trước kia, nước Đức là con mãnh hổ trẻ, thì ở châu Á xưa nay Trung Quốc chỉ là chú voi già, ốm yếu.
    Ngày nay chú voi già đó đã phần nào thay da, đã lấy lại được sức mạnh nhất định, đó là điều khiến người ta cũng phải ngán. Rõ ràng bản năng hiếu chiến, tham ăn của con voi ngàn đời vẫn không thay đổi, và ngày nay khi mạnh lên, nó đã hiện nguyên hình là như thế.
    Trước kia chuyện miền Bắc VN đã đi đêm đi ngày gì đó với TQ, thường khi cũng chỉ là chuyện bí mật phòng the. Song miền Nam cũ thì rõ ràng đã thoát hẳn ảnh hưởng của TQ, đã độc lập theo kiểu chỉ đồng minh với các nước phương Tây. Đó là điều mừng vì ảnh hưởng ngàn đời của VN đối với TQ đã được giải quyết, cách ly thật sự.
    Song lịch sử lại đã đổi chiều. Ngày nay đất nước thống nhất theo mục đích của miền Bắc, dĩ nhiên cả nước lại nằm sát với TQ, đó là thực tế mà không ai không thấy rõ. Có nghĩa thời kỳ độc lập vàng son trước kia của miền Nam hay VNCH đối với TQ đã hoàn toàn bị thủ tiêu, nay chỉ còn có khuynh hướng của miền Bắc từ lâu vẫn đã đồng minh chỉ với Trung Quốc một cách gắn bó sau Liên Xô trước kia mà thôi.
    Thế nhưng cũng có điều mới là nay VN đã gia nhập vào Cộng đồng các nươc Đông Nam Á tức ASEAN, cũng là chỗ dựa mặt nào đó, hay ít ra cũng còn là chỗ phân bua được của VN trước thế giới và trước TQ. Thế nhưng Cộng đồng này thực chất có nhiều nước nằm trên biển. Cho nên hóa ra cũng chỉ có VN chịu trận với TQ là nhiều hơn cả, bởi vì sông liền sông, biển liền biển.
    Đó chính là niềm lạc quan của ý niệm môi hở răng lạnh, song lại là niềm bi quan của răng cắn sứt môi không biết bửa nào nếu răng lại nổi cơn cuồng dại.
    Chính tình hình của VN ngày nay đối với TQ là thế. Tức cái thế của miền Nam VN trước kia coi như đã mất. Bởi vậy, nếu trong tương lai gần sắp tới, có xảy ra điều gì đó giữa VN và TQ, như TQ gây chiến và xâm lược quy mô hơn VN chẳng hạn. Nếu TQ thắng VN, coi như VN phải đi đoong. Còn như VN thắng TQ vì có được những sự hỗ trợ bên ngoài nào đó nói chung, tất yếu cũng là điều kiện để VN hoàn toàn tách khỏi TQ như miền Nam trước kia. Đó chính là chiến lược quan trọng nhất trong tương lai mà VN cần nhất thiết phải hướng tới. Thật tình mong lắm thay. Vì đó chính là quyền lợi muôn đời của đất nước, của dân tộc mà không phải của riêng các cá nhân hay một lực lượng đặc thù nào cả.

    ĐẠI NGÀN
    (12/8/12)

    • Lâm Vũ says:

      Vấn đề lớn nhất và có lẽ duy nhất, nhưng tạo ra những vân đề khác, đó là tinh thần cầu án ỷ lại và vọng ngoại, nói chung là tinh thần nô lệ. Bên cạnh đó, thêm sự kém cỏi hiều biết: tôi có cảm tưởng là đa số thế hệ trẻ ngày nay từ 40 tuổi trở xuống tưởng rằng đó chính là “quốc hồn quốc túy”, là dân tộc Việt vốn đã “eh2n” như vậy từ ngàn xưa!

      Nhưng sự thật không phải vậy. Kinh nghiệm bản thân, vào thời tôi mới lớn lên – thập niên 60s – nhưng thanh thiếu niên Sài Gòn chúng tôi không hề biết quỵ lụy hay nể sợ “thằng” Tây, “thằng” Mỹ hay “thằng” Tầu. Oái oăm thay, một bằng chứng rõ rệt là thiểu số thanh niên miền Nam vì lý do nào đó mà thù ghét Mỹ đã “vào bưng”, y như thế hệ trước đó đã đi theo kháng chiến đánh Pháp… Ngược lại, đa số thanh niên miền Nam đã nhập ngũ, trở thành những người lính Cộng Hòa cũng kiên cường không kém, họ chỉ bỏ súng đầu hàng vào ngày 30 tháng Tư. 1975 khi “tồng thống” Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng mà thôi…

      Thế nhưng, tuổi trẻ ngày nay không có phản ứng rõ rệt trước sự xâm lăng của giặc Tầu, cũng như hành động bán nước rõ ràng của nhà nước CSVN. Có phải là chính sách lừa bịp và ngu dân của CSVN đã thành công trong công cuộc biến đổi DNA của dòng giống Việt, tư một giống dân quật cường bậc nhất thế giới thành một dân tộc hèn yếu nhất Á châu?

      Thật khó tưởng tượng, nhưng có lẽ có thật, vì không có cách nào khác để giải thích hiện tượng suy thoái của nòi giống Việt.

      LV

      • Builan says:

        “NỊNH” bác Lâm Vũ,/b> một chút.
        Hy vọng là bác không xấu hổ vì bị NỊNH

        Tôi lễ phép mơì những “con tương cận” với HaVu -” bôn tập- ba muĩ giáp công- tiền pháo hậu xung- Công đồn đả viên- nhị thức thiết tùng BB thiết giáp..” về đây nghe Builan tôi NỊNH !

        _Trân trọng những phân tích rất cụ thể- rất thực -tâm huyết -trí tuệ… cuả một trí thức , còn nặng tình với quê hương- trăn trở vè ngưồn sinh lực- tương lai cuả dân tộc… !
        “..Thế nhưng, tuổi trẻ ngày nay không có phản ứng rõ rệt trước sự xâm lăng của giặc Tầu, cũng như hành động bán nước rõ ràng của nhà nước CSVN. Có phải là chính sách lừa bịp và ngu dân của CSVN đã thành công trong công cuộc biến đổi DNA của dòng giống Việt, tư một giống dân quật cường bậc nhất thế giới thành một dân tộc hèn yếu nhất Á châu?

        Thật khó tưởng tượng, nhưng có lẽ có thật, vì không có cách nào khác để giải thích hiện tượng suy thoái của nòi giống Việt. LV

        “.. tư một giống dân quật cường bậc nhất thế giới thành một dân tộc hèn yếu nhất Á châu? “

        - Thưa, nếu chỉ có thế , cũng là may ! Còn hy vọng có ngày bừng tỉnh !
        - Đau ở chỗ ; Còn “biến đổi” một bộ phân (đại loại như HaVu…)- cúc cung làm công cụ tay sai BB, cho bọn VGBN – chó săn lấp liếm cho GIẶC -vào huà với bọn giặc giả danh !

        Vậy cho nên
        _Thương thay đáng kính phục thay- nếu được LAỴ tôi cũng cuí đâu, nghiêng mình baí phục nhưng bạn trẻ dương vì nước dấn thân- bị đoạ đày trong tù ngục !

        _AI cho là tôi SAI ! Thậm chí là NGU DẠI ..Xin làm ơn chỉ giáo !
        “Ai nên KHÔN mà chaẳng DAỊ một đôi lần ”
        Cầu mong những anh/chị TÀU CON “lỡ một lần” sớm biết KHÔN ra !
        ĐA TẠ

    • DâM Tiên says:

      Đại ngoàm viết như đại NGÁN, rài rằng rặc
      không đầu không đuôi, mình viết mình đọc,
      lấy làm thống khoái như hút thuốc lào…

      Đây à com=mèn, nên viết ngắn thôi.
      Viết xúc tích, tóm lược; chứ nơi đây
      có phải là bãi trồng củ mì T-34 đâu, hè.

      Hết Dại Ngán qua Thương Ngán, còn
      cái ” ngán ” nào nữa hôn? (DâM)

  10. Havu says:

    Cái ông Đạo này chẳng hiểu gì châu âu, mấy tài liệu tham khảo mà ông đưa ra không phải là do ông đọc rồi tổng hợp mà chép lại một bài phân tích của ai đấy.
    Việt nam khác hẳn Tiệp, trong lịch sử của mình, chưa bao giờ Tiệp có ý chí chống lại quân xâm lược và tất nhiên chưa bao giờ đất nước Tiệp thắng quân xâm lược, lịch sử của họ là như vậy và nhiều người dân Tiệp cũng không lấy gì làm áy náy chuyện đó, thế thì mới có chuyện trong phiên họp Quốc hội Sec, mấy nghị sỹ đề nghị không nên có Bộ quốc phòng và quân đội vì chúng ta chưa bao giờ đánh lại ai cả. Việc ông Đạo đưa ra trường hợp của Tiệp để liên hệ với VN là thiếu hiểu biết, tôi chưa nói đến chuyện ông khuyến nghị cái gì!

    • Builan says:

      Anh mi đúng là loại xõ lá! Giòi bọ….
      Điếc không sợ súng ! Liều láo…

      Có biết TTĐ là ai không ? -”Cái ông Đạo này chẳng hiểu gì châu âu” !!!!
      _Nếu anh mi lớn lên nhờ ăn cuả QUẢ THỰC_ có cái gen di truyền BB, thì về truy lục không phaỉ 3 mà 5 đời- dòng họ nhà anh , chọn ra một người- tài nhất gioỉ nhất đi xách dép cho TTĐ….! Ông Đaọ có nhận không ?
      _Cho anh chọn ngay cả BCT/ Ban thái thú /TW/Đảng cướp ngày- cũng chấp luôn !
      _ Là thằng TAÙ CON biết chút tiếng Việt ! Cho chon 1/ một tỷ tư TÀU – Goị hồn Mao Trạch Đông- Đặng Tiểu Bình….. chấp luôn ! Tranh luận với TTĐ !

      Viết chơi cho vui vậy thôi ! Giaỉ trí lành mạnh vậy mà !
      “Ông vua cũng thua THẰNG LIỀU”
      _Loại LIỀU như anh mi- có đáng chi để bàn !! Hết thuốc chưả !!
      VÔ PHƯỚC cho con cái nhà ai !!!!

      • Văn Minh says:

        Builan viết mà không biết suy nghĩ chút nào. Tôi nghĩ ông Đạo cũng thấy xấu hổ vì có người nịnh hót như Builan.

        Đoạn đầu ông Đạo nói Đức là nước mạnh nhất châu Âu về mọi mặt và là nước chủ trương bành trướng bằng quân sự. Thế mà đoạn sau, không hiểu lấy số liệu ở đâu, ông Đạo lại nói quân đội Tiệp, một nước cỡ trung chẳng tiếng tăm gì, lại có quân đội đông không kém, trang bị tối tân hiện đại và thiện chiến hơn; rằng nếu đánh chưa chắc quân Tiệp đã thua.

        Viết như vậy chứng tỏ ông Đạo không động não tý nào! có bao giờ một thằng nghèo hơn, khoa học kém hơn, dân ít hơn, ít hiếu chiến hơn (như Tiệp) lại có thể có quân đội ngang ngửa thậm chí nhỉnh hơn một nước lớn hơn, hiếu chiến hơn, giàu hơn, giỏi hơn nhiều? Làm gì có chuyện hai nước cân sức nhau mà lại dễ dàng nhường hết một vùng đất có 70% trữ lượng sắt với nguyên liệu.

      • Builan says:

        Có được một người “VĂN MINH” đọc com cuả Builan, lên tiếng thay cho Havu là khoái lắm rồi !

        Có điều xin thưa : tôi REPLY cho bạn LIỀU
        Chứ không commentcho bài chủ
        Văn Minh liều thân cưú chuá ? Tôi sợ anh trúng mảnh nên tthôi !
        Giá như tôi không có caí đầu
        Tôi chỉ bắt chước Văn Minh
        Hỏi một câu tương tư “VM…… Hv………..vm ”
        Có ai cấm tôi không ??????

        Cảm ơn VM đã để mắt với ít nhiều quan tâm !

      • Vân Nam says:

        Ông Văn Minh đã đọc kỹ bài viết chưa?

        “…không hiểu lấy số liệu ở đâu, ông Đạo nói quân đội Tiệp, một nước cỡ trung chẳng tiếng tăm gì lại có quân đội đông không kém, trang bị tối tân, hiện đại và thiện chiến hơn…”( hết trích.).

        Nếu ông lười đọc hay đọc không hiểu thì đây: Theo tổng kết của giáo sư Sử học, Carroll Quigley, Georgetown University, Hoa Kỳ,và bà dựa vào các tài liệu của văn khố quân sự Mỹ sau thế chiến thứ 2 để có số liệu (theo bài chủ). Người đọc tin vào số liệu có chứng cứ hay tin vào kiểu lý luận cuả ông? Và cứ theo lý luận này thì trường hợp Bắc Hàn là…không logic?

        Ông Đạo còn ghi nguồn trong phần tham khảo. Nếu ông cần tìm đọc thì cũng không khó, có điều cần”động não” nhiều và dĩ nhiên không chỉ thông thạo …tiếng Việt!

      • Tuần Triệt says:

        Chu cha ơi tội nghiệp cho tên Van Minh đọc mà không hiểu gì cả…

      • Lâm Vũ says:

        Có thề là bạn Văn Minh không hiểu gì thật hoặc/và chỉ là nói lấy được(!?).

        Quả thật quân đội và cả nền kỹ nghệ cơ khí của Czechoslovakia hoàn toàn không yếu hơn Đức. Vùng Bohemia của Tiệp vốn là trung tâm kỹ nghệ của đế quốc Áo-Hung (của giòng họ Habsburg). Do đó, như tôi phân tích trong một ý kiến mới vừa gửi, vấn đề của Tiệp lúc đó là lãnh đạo không đủ khả năng để kết hợp hai giống dân chính của Czechoslovakia là Czech và Slovak với nhau, trong một quốc gia tương đối mới thành lập (sau thế chiến thứ Nhất).

        Một yếu tố khác, tuy nhỏ nhưng cũng khá quan trong đa số dân trong vùng Bohemia lại là người gốc Đức, vốn ủng hộ chủ nghĩa quốc gia cực đoan của Hitler và rất tích cực đóng vai trò “nội ứng”.

        Cho thấy, yếu tố “dân khí” và sự đồng lòng nhất trí của dân đóng vai trò tối quan trọng trong việc giữ gìn độc lập của một quốc gia (*).

        Sai lầm lớn nhất của CSVN, đó là chính sách đàn áp, bóc lột và phân biệt đối xử đối với dân miền Nam – và cả đối với hai nước láng giềng Miên và Lào – đã dẫn đến sự suy yếu của Đại Việt, thay vì làm nó mạnh lên. Với ý chí Nam Tiến của dân Đại Hán, vốn đã có từ nhiều ngàn năm nay và chưa bao giờ mất – hậu quả mất nước của dòng giống Việt gần như là tất yếu.

        Nói cách khác, xìu xìu ển ển, đầu óc bé bằng hạt tiêu mà lúc nào cũng vênh váo như đám lãnh đạo Ba Đình chỉ nên làm lãnh đạo một đảng… cướp hơn là một quốc gia ở thế kỷ 21!

Phản hồi