|

9 năm bên cạnh Tổng thống Ngô Đình Diệm

Luật sư Lâm Lễ Trinh mạn đàm với cựu đổng lý Quách Tòng Đức

Tuy là bạn tâm giao với người viết từ lâu, ông Quách Tòng Đức luôn luôn tỏ ra dè dặt và thận trọng khi nhắc đến những năm dài làm Đổng lý Văn phòng cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, vị lãnh tụ khai sáng nền Đệ nhứt Cộng hoà Việt Nam. Sau chính biến 1.11.1963, ông Đức trở lại ngành Tư pháp và được thăng chức Chủ tịch Tham Chính Viện 1969. Tháng 4.1975, Sàigòn thất thủ, ông và gia đình xin tị nạn chánh trị tại Paris. Chánh phủ Pháp tuyển dụng ông vào Phòng Tố tụng Tổng quát của thị xã Paris, thời Thị trưởng Jacques Chirac. Ông về hưu đầu năm 1984. Nay 89 tuổi, trí tuệ còn minh mẫn tuy sức khoẻ không tốt như trước. Gần đây, trong những lần gặp nhau lại ở Pháp cũng như qua nhiều cuộc điện đàm có ghi âm, ông Đức đã chịu thố lộ với người viết nhiều điều liên hệ đến giai  đọan chín năm phục vụ vị nguyên thủ quốc gia bị sát hại năm 1963.

Lần đầu gặp chí sĩ Ngô Đình Diệm

Ông Quách Tòng Đức (QTĐ) sanh tại An xuyên năm 1917, thuộc một gia đình trung lưu, đậu cử nhân và Cao học Luật Đông Dương năm 1941, Đại học Hà nội, sau khi lấy bằng tú tài tại trường Pétrus Ký, Sài gòn. Ông thuộc toán cử nhân đầu tiên gồm có Nguyễn Thành Cung và Lê Văn Mỹ thi đậu năm 1942 vào ngạch huyện, phủ tại Miền Nam VN mà cấp bậc cao nhứt là Đốc phủ sứ thượng hạng ngoại hạng tương đương với chức Tổng Đốc đứng đầu tỉnh ở ngoài Trung và Bắc. Khi vua Bảo Đại chỉ định Trần Văn Hữu lập Chánh phủ, Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành (xuất thân là một Đốc phủ sứ như các ông Nguyễn Ngọc Thơ, Lê Tấn Nẩm, Dương Tấn Tài, Lê Quang Hộ …) bổ nhiệm ông  QTĐ năm 1951 làm Chánh Văn phòng  và thiếu tá Dương Văn Minh, Chánh Võ phòng. Năm 1953, thủ hiến Thành và Thiếu tướng Chanson bị nhóm Cao Đài kháng chiến của Trình Minh Thế ám sát tại Sa déc trong một cuộc kinh lý.

49 ngày sau Điện Biên Phủ thất thủ, tức là 26.6.1954, Bảo Đại giao cho cựu Thượng thơ Ngô Đình Diệm lập chánh phủ, thay thế hoàng thân Bửu Lộc. Trước đây, ông Diệm đã ba lần từ chối lời mời của Bảo Đại: năm 1937, 1945 và 1948. Ông giao thiệp thân tình với nhà cách mạng Phan Bội Châu lúc sanh tiền, có ghé Nhựt năm 1950 để hội kiến với Kỳ ngoại hầu Cường Để và, theo một số sử liệu, từng lãnh đạo Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội trong nước. Có lúc ông bị Việt Minh bắt giữ và – khác với Bảo Đại -  đã cương quyết bác bỏ lời mời của Hồ Chí Minh làm Cố vấn cho Chánh phủ do Hồ dựng ra.

Hiệp định Genève, ký ngày 20.7.1954, chia đôi VN nơi vĩ tuyến 17.  Trong đám đông quần chúng đón tiếp nồng nhiệt Thủ tướng Diệm tại phi trường Tân Sơn Nhứt có ông Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên bí thơ của Toàn quyền Decoux, cùng đi với ông QTĐ. Thủ tướng Diệm – kiêm luôn Quốc phòng và Nội Vụ – mời ông Thơ tham gia Nội các với tư cách Bộ trưởng Nội vụ. Ông Thơ chọn ông Đức làm Đổng lý Văn phòng năm 1954. Ngày 23.10.1955, một cuộc trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại.  Ngày 26.10.1956, từ Thủ tướng trở thành Tổng thống, ông Diệm thiết lập nền Đệ nhứt Cộng hoà VN. Quân đội tổ chức một cuộc diễn binh huy hoàng tại đại lộ Trần Hưng Đạo Sàigòn dưới quyền điều khiển của Dương Văn Minh, vừa vinh thăng Thiếu tướng sau khi tảo thanh xong Bình Xuyên taị Rừng Sát.  Ông QTĐ  thay thế Đổng lý Tôn Thất Trạch  cuối năm 1954 và giữ chức vụ này cho đến ngày Quân đội đảo chánh năm 1963.

Nhận xét về mối liên hệ của TT Diệm với gia đình.

Theo ông QTĐ, năm 1954 chánh phủ Pháp trả trước dinh Gia Long ở đường Gia Long, và sau khi quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, nhà cầm quyền Đệ nhứt cộng hoà mới thu hồi Dinh Toàn quyền Norodom, đổi tên thành Dinh Độc lập, trên đại lộ Thống nhứt. Dinh này đươc kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, khôi nguyên La Mã, xây cất lại hoàn toàn sau ngày 27.2.1962 vì Dinh bị hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom hư hại khá nặng.

Dinh Độc lập chia làm hai tầng: tầng dưới có hai phòng khánh tiết tráng lệ và các Văn phòng của Cố vấn Ngô Đình Nhu, Bộ trưởng Phủ Tổng thống, Đổng lý Văn phòng, Tổng thơ ký Phủ Tổng thống và nhân viên. Tầng trên chia làm ba phần: phía trái dành làm Văn phòng và phòng ngủ của Tổng thống, phòng sĩ quan tuỳ viên; ở giữa có hai phòng tiếp tân khang trang; phiá phải là nơi cư ngụ của gia đình ông bà Nhu gồm có hai trai, hai gái. Tổng thống Diệm thích làm việc trong phòng ngủ, trang trí sơ sài với một  cái giường nhỏ bằng gỗ, một bàn tròn và ba ghế da. Nơi đây, Tổng thống thường dùng cơm và tiếp các Bộ trưởng và tướng lãnh.

Gia đình Tổng thống rất trọng Nho giáo. Hằng năm vào Tết Nguyên đán, luôn luôn tụ họp đông đủ ở Phủ Cam, Huế, để chúc thọ bà cụ Ngô Đình Khả giao cho người con áp út Ngô Đình Cẩn săn sóc ngày đêm. Ông bà Ngô Đình Khả có chín người con: 6 trai, 3 gái. Trưởng nam, Tổng đốc Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân bị CS giết năm 1945. Ba người con gái là bà Ngô Đình Thị Giao tức bà Thưà Tùng, bà Ngô Đình Thị Hiệp tức bà Cả Ấm, thân mẫu của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận và bà Ngô Đình Thị Hoàng tức bà Cả Lễ, mẹ vợ của Nghị sĩ Trần Trung Dung. TT Diệm là người con trai thứ ba trong gia đình nhà Ngô, sanh năm 1901 taị Huế, được vua Bảo Đại bổ nhiệm năm 1933, Thượng thơ đầu Triều lúc 33 tuổi nhưng ông  Diệm sớm rũ áo từ quan vì thực dân Pháp không chấp nhận chương trình cải tổ rộng lớn của ông.

Sau ngày ông Khôi qua đơì, Tổng giám mục Ngô Đình Thục, trở nên người anh cả “quyền huynh thế phụ”. Đức cha được kính nể và có nhiều ảnh hưởng đối với TT Diệm. Ông QTĐ cho biết, lúc còn ở Vĩnh Long, Giám mục Thục vài tuần có về Saigon ngụ trong Dinh. Ông Ngô Đình Luyện, con út trong gia đình, đại sứ ở Luân Đôn, năm khi mười họa mới về nước nghỉ phép hay để dự các phiên họp của Hội đồng Tối cao Tiền tệ mà ông là một thành viên, hay để dự các phiên họp của Hội đồng Tối cao Tiền tệ mà ông là một thành viên. Ông Đức không nhớ có lần nào gặp ông Cẩn trong Dinh Độc Lập.

Văn phòng Đổng lý không làm việc thẳng với Cố vấn Nhu. Ông Nhu có nhân viên riêng trong Sở Nghiên cứu Chánh trị Phủ Tổng thống mà người giám đốc đầu tiên  là đốc phủ sứ Vũ Tiến Huân, Tham lý Nội  An Bộ Nội vụ, về sau thay thế bởi bác sĩ Trần Kim Tuyến. Văn phòng của Sở Nghiên cứu xử dụng một ngôi nhà riêng trong hàng rào Dinh Độc lập. Vài tháng trước vụ binh biến 1.11.1963, Tuyến bị thất sủng, trung tá Phạm Thư  Đường thay thế. Tuyến  được bổ nhiệm làm Tổng lãnh sự (hụt) tại Le Caire, trở lại VN và liên hệ đến một nhóm âm mưu đảo chánh. Đảo chánh thành công, bs Tuyến bị Hội đồng Cách mạng đày ra Côn Đảo (tỉnh trưởng là trung tá Tăng Tư) trên một năm cùng với lối 200 nhân vật chế độ cũ gồm có Ngô Trọng Hiếu, Cao Xuân Vỹ, đại tá Nguyễn Văn Y, Hà Như Chi, Dương Văn Hiếu…. Ông QTĐ không thể xác nhận tin nói rằng trước ngày 1.11.1963, ông Nhu đã giao cho người em vợ là Trần Văn Khiêm điều khiển cơ quan mật vụ. Khiêm bị nhiều tai tiếng, từng cộng tác với Văn phòng của luật sư Trương Đình Dzu, ứng cử viên Tổng thống thời Thiệu-Kỳ. Vụ Khiêm giết cha mẹ là ông bà cựu đại sứ Trần Văn Chương taị Hoa kỳ sau 1975 làm dư luận xôn xao. Toà án Mỹ tha Khiêm với lý do Khiêm bị bịnh tâm thần và trục xuất Khiêm khỏi Hoa kỳ. Khiêm hiện sống bình thường ở Pháp. Có sự điều đình chánh trị gì bên trong vụ án này?

Khi được hỏi cách cư xử của TT Diệm với bà Nhu (nhũ danh Trần Lệ Xuân), ông Đức cho biết “ông cụ có vẻ nể và ủng hộ bà Nhu” trong vụ tổ chức Phong trào Phụ nữ Liên đới và vận động Quốc hội ban hành Bộ Luật Gia đình cấm ly dị. Tổng thống cho rằng bà Nhu hành động như vậy là giúp cải tổ xã hội. Tuy nhiên, những kẻ xấu miệng lại cho rằng Bộ Luật Gia đình nhằm mục tiêu riêng: ngăn luật sư Nguyễn Hữu Châu ly dị với vợ là Trần Lệ Chi, chị của bà Nhu. Ngoài chức vụ dân biểu Quốc hội, bà Nhu còn là chủ tịch Phong trào Phụ nữ Liên đới. Khi tiếp quốc khách, bà Nhu đóng vai trò Đệ nhứt Phu nhân vì Tổng thống độc thân. Tuy bất bình về những lời tuyên bố châm dầu vào lửa của người em dâu trong vụ Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11.6.1963 (đặc biệt với câu “monks’ barbecue”), ông Diệm không công khai phủ nhận vì ngại đụng chạm đến ông Nhu vào một giai đoạn rối như tơ vò. Chính ông Nhu, với tánh hay nhường nhịn cho yên nhà yên cửa, cũng không kiểm soát nổi lối phát ngôn của vợ. Bà Nhu hiện có một cuộc sống kín đáo, đơn sơ, nặng về tôn giáo, qua lại giữa Paris và Rome, tất cả con cái đều thành tài [tác giả viết bài này năm 2005]. Trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy chết trong một tai nạn lưu thông sau 1975. Sự bất hạnh không ngớt đeo đuổi gia đình nhà Ngô. Thời gian gần đây, bà Nhu thay bà Luyện để tổ chức  hằng năm tại Paris một lễ cầu hồn cho TT Diệm và ông Nhu. Trong số ít người còn lui tới với bà Nhu, có vợ chồng cựu bộ trưởng Lao động Hùynh Hữu Nghiã. Ông Nghĩa qua đời  năm vừa rồi [2004].

Về tin đồn Đức cha Thục làm kinh tài (khai thác lâm sản, mua  thương xá Tax, làm chủ nhà sách  Albert Portail..v..v..), ông Đức cho rằng TT Diệm tin TGM Thục không làm điều gì quấy, ngài phải kiếm tiền nuôi sống trường Đại học Đà Lạt do Ngài thành lập. Trải qua một cuộc đời sóng gió và gặp nhiều hiểu lầm với Toà thánh Vatican sau 1975, TGM  Ngô Đình Thục được Giáo hoàng phục hồi chức tước, về hưu ở Hoa kỳ và đã  ra đi bình yên tại một Viện dưỡng lão công giáo thuộc tiểu bang Missouri.

Ông QTĐ xác nhận ông Ngô Đình Nhu chẳng những là lý thuyết gia mà còn là bộ óc của Đệ nhứt Cộng hoà, “l’homme indispensable, nhân vật cần thiết”. Ông xuất thân từ ÉØcole des Chartes Paris, trầm tĩnh, ít nóí, lạnh nhạt bên ngoài, thích nghiên cứu lịch sử, có nhiều sách hơn đồng chí. Trong lối ba năm chót của chế độ, dù giữ quyền quyết định cuối cùng trong mọi việc, TT Diệm thường phê chuyển các hồ sơ chánh trị quan trọng qua cho ông Nhu để lấy ý kiến, không kể những cuộc gặp mặt thảo luận riêng hằng ngày. Ông Nhu làm việc âm thầm, cần mẫn, hút thuốc liên hồi (mỗi lần nửa điếu, do sự can ngăn của bà Nhu) trong một văn phòng không rộng, đầy ngập sách vở, ánh sáng mờ mờ, ở tầng dưới Dinh Độc lập, có gắn máy lạnh và interphone với bên ngoài.  Ông thường phê vào các công văn với một cây bút chì mỡ màu xanh lá cây. Ông là cha đẻ của Đảng Cần Lao, dựa vào thuyết Nhân Vị, Personnalisme,  đúc kết hai xu hướng của triết gia công giáo Emmanuel Mounier (1905-1950) và Jacques Maritain (1882-1973). Ông  phát động và thực hiện kế hoạch quốc phòng Ấp chiến lược từng gây khiếp đảm cho CS Bắc Việt. Quốc sách này được thành lập bởi Nghị định số 11-TTP của Tổng thống và ông Nhu là Chủ tịch Uy ban Liên bộ đặc trách Ấp chiến lược.

Ông  Nhu cũng cho thành lập Phong trào Thanh niên và Thanh nữ Cộng hoà giao cho Cao Xuân Vỹ phụ trách. Ông đẩy mạnh tổ chức Lao động ở Việt nam và nâng đỡ Trần Quốc Bửu.  Đại tá CIA  Lansdale (người đã ủng hộ Magsaysay trở thành Tổng thống Phi Luật Tân năm 1952) giúp ông móc nối với Lực lương kháng chiến Cao Đài để đưa tướng Trình Minh Thế về với  Quốc gia. Ngoài chức Tổng Bí thơ Đảng Cần Lao (tổ chức theo mô hình đảng Cộng sản, với một Quân ủy trong Quân đội), có một lúc ông Nhu là dân biểu Quốc hội. Ông không bao giờ tháp tùng Tổng thống trong các cuộc kinh lý. Săn bắn là thú tiêu khiển yêu chuộng của ông và đồng thời là cơ hội tìm nơi yên tịnh để suy nghĩ.

Ông đại sứ Luyện, gốc kỹ sư, tánh tình cởi mở, thích giao du với bạn bè mỗi khi về VN nhưng không có nhiều ảnh hưởng vì không xen vào vấn đề nội trị. Ông là bạn học của cựu hoàng Bảo Đại, sống taị Luân đôn và đại diện VNCH ở nhiều xứ Âu châu và Phi châu. Sau khi vợ trước qua đời, ông Luyện tục huyền với em vợ và có rất đông con. Bà Luyện sống ở ngoại quốc nhiều hơn và ít khi xuất hiện. Sau 1963, ông Luyện daỵ toán taị một trường tư  thục Paris, sau đó sang Phi châu làm việc một thời gian, tình trạng khá chật vật khi về hưu. Ông có qua Hoa Kỳ vài lần để thăm Đức TGM Thục, không có liên lạc với bà Nhu, và ông đã quá vãng ở Pháp năm 1982.

Cho đến cuối năm 1961, vai trò của ông Ngô Đình Cẩn, Cố vấn lãnh đạo Miền Trung, trái lại, rất hệ trọng về mặt an ninh và đoàn thể. Ông Cẩn không ăn học cao nhưng nắm vững tình hình địa phương, có óc tổ chức, luôn luôn trang phục theo lối Việt, áo dài, khăn đống, ăn trầu, (từ đó biệt danh “Ông Cố Trầu”), độc thân, thích hút thuốc Cẩm Lệ, đan rổ, làm vườn, nuôi thú, nuôi chim. Ảnh hưởng của ông lan vào Miền Nam với những điệp vụ mang danh nghĩa chiêu hồi của Đoàn Công tác Đặc biệt do Dương Văn Hiếu quán xuyến, sự hiện diện của Nguyễn Văn Hay trong cương vị phó TGĐ taị Tổng nha Cảnh sát Công An Sàigòn và các hoạt động của cánh Cần Lao do nha sĩ thân tín Phan Ngọc Các điều khiển. Sau 1.11.1963, viên lãnh sự Mỹ Helble taị Huế  không cho Cẩn và thân mẫu được tị nạn chánh trị taị Toà lãnh sự trong khi trước đó, cơ quan USAID Sàigòn chứa chấp Trí Quang nhiều ngày. Lúc vừa bị bắt, ông Cẩn có chỉ cho tướng Đỗ Cao Trí tịch thu tại nhà ông ở Phú Cam, dưới gầm giường, “một bao bố và một va-li đựng quý kim” (đọc hồi ký Dòng họ Ngô Đình của Nguyễn Văn Minh, bí thơ của N Đ Cẩn, trang 307).  Ông Cẩn bị Hội đồng Quân nhân Cách mạng, thời Nguyễn Khánh, xử tử vào lúc 6 giờ 30 chiều ngày 9.5.1964 taị sân sau khám Chí hoà, Sàigòn. Luật sư bào chữa là Võ Văn Quan.  Cố vấn Cẩn tỏ ra bình tĩnh tại pháp trường, tuyên bố tha thứ cho các người tuyên án ông và xin đừng bị bịt mắt nhưng không được chấp nhận.  Nếu gia đình thỏa thuận lấy của đổi mạng, ông Cẩn có thể đã thoát chết. Vụ tống tiền này đã được cố nghị sĩ Trần Trung Dung và cố trung tướng Lâm Văn Phát xác nhận với người viết sau 1975.

Được hỏi về tin đồn có sự cạnh tranh ảnh hưởng chánh trị giữa Nhu và Cẩn, ông QTĐ nói chỉ nghe nói phong thanh. Vào tháng 10.1963, ông Cẩn nhận được lệnh của TT Diệm ngưng mọi hoạt động về đoàn thể và đóng cửa Văn phòng Cố vấn chỉ đạo ở ngoài Trung gồm có Hồ Đắc Trọng và đại úy Nguyễn Văn Minh. Hình như sự hiện diện của TGM Ngô Đình Thục tại Huế đã bó tay ông Cẩn phần nào. Ông Cẩn không dám phê bình chị dâu tuy không ưa bà Nhu. Trong phạm vi cá nhân, ông Cẩn giữ liên lạc tốt với Thượng tọa Trí Quang nhưng điều này không giúp giải quyết cuộc khủng hoảng Phật giáo. Hoa kỳ và Cộng sản đã nhúng tay quá sâu.

Người viết có yêu cầu ông QTĐ cho biết trong gia đình họ Ngô, ai là người gây tiếng tăm bất lợi cho chế độ. Suy nghĩ  một phút, ông Đức đáp: TGM Thục và bà Nhu. Đặc biệt trong giai đọan Phật giáo. Đức cha ảnh hưởng quá nặng ngoài lãnh vực tôn giáo. Bà Nhu xen quá sâu vào chính trị, điều ít thấy trong giới phụ nữ VN. Ngó từ bên ngoài, năm anh em Ngô Đình rất khắng khít, mỗi người giúp tay tích cực xây dựng chế độ trong một lãnh vực. Sự đoàn kết ấy được diễn tả trong huy hiệu Đệ nhứt cộng hoà: năm cành trúc kết thành một bó, dưới khẩu hiệu “Tiết trực Tâm Hư.” Tuy nhiên, mỗi nhân vật có cá tánh riêng, nhận định không luôn luôn nhất thống, đôi khi còn mâu thuẫn. Đó là hậu quả khó thể tránh trong một chế độ dựa vào gia tộc để lãnh đạo. Phe chống đối cũng như  Hoa kỳ và Cộng sản đều khai thác triệt để và dễ dàng nhược điểm này.

Dư luận cho rằng trong năm chót của chế độ, trước cuộc binh biến 1.11.1963, ông Nhu – trên thực tế – là một “Tổng thống không ngôi” vì có nhiều quyền lực, làm lu mờ vai trò của ông Diệm nhưng quyền bính hiến định vẫn ở trong tay ông Diệm bị tấn công tứ phiá, bên trong lẫn ngoài nước. Không có một văn kiện chánh thức nào bổ nhiệm ông Nhu lẫn ông Cẩn làm Cố vấn Chánh phủ. Chính các đoàn thể chánh trị ở Miền Trung mời ông Cẩn làm “Cố vấn Chỉ đạo” và dành cho ông danh xưng nầy. Có lúc dư luận cảm thấy ông Diệm cần ông Nhu hơn là ông Nhu cần ông Diệm. TT Diệm không thể tách rời khỏi ông Nhu đóng vai trò “l’âme damnée, linh hồn đày đọa”.  Đó là đầu mối thảm trạng xảy ra cho hai người vào giờ phút chót.

TT Diệm tưởng lầm có thể dùng uy tín cá nhân để bảo vệ sanh mạng của bào đệ. TT Diệm cũng tưởng lầm khối tướng lãnh chấp nhận điều đình với ông. Phần đông tướng lãnh kính nể TT Diệm nhưng tất cả ngán sợ ông Nhu vì ông Nhu lắm mưu mô, nhiều bản lãnh.  Sự ngán sợ đã trấn áp lòng nể trọng và dẫn đến quyết định hy sinh vị nguyên thủ quốc gia. 3 giờ trưa ngày 1 tháng 11, lúc tiếng súng đang nổ lớn, TT Diệm điện thọai cho đại sứ Lodge: Một cuộc điện đàm ngắn ngủi, đầy phẫn nộ trong khuôn khổ ngoại giao.  Khi hay hai ông Diệm, Nhu thoát khỏi Dinh Gia Long đêm1.11.1963, nhóm phản lọan “run đến phát rét” và một tướng cầm đầu định “trở cờ”, theo sự tiết lộ của Tổng thống Thiệu trước khi qua đời với người viết. Conein thúc phe phản lọan phải bắt sống cho kỳ được hai ông Diệm, Nhu. Conein nói suồng sã: “On ne fait pas l’omelette sans casser les oeufs, Không thể rán trứng mà không đập bể trứng !”,  theo Trần Văn Đôn kể lại trong Hồi ký.

TT Diệm không chiụ ra lệnh cho một số đơn vị võ trang trung thành phản công quân đảo chánh vì muốn tránh cảnh nồi da xáo thịt, làm suy giảm tiềm năng kháng cộng.  4 giờ sáng ngày 2.11.1963, hai tư lệnh Quân khu thân tín ở Vùng I và II là tướng Đỗ Cao Trí và Nguyễn Khánh tuyên bố ủng hộ Hội đồng Cách Mạng.  Hy vọng cuối cùng tan biến. Hai giờ sau, Tổng thống cho phép đại úy Đỗ Thọ, sĩ quan tùy viên, điện thoại cho chú y là đại tá Đỗ Mậu yêu cầu cho xe đến đón tại Nhà thờ Cha Tam Chợ lớn. Lúc 6 giờ và 6 giờ 45 sáng ngày 2.11.63, TT Diệm đích thân điện thoại  cho các tướng Minh, Đôn và Khiêm để tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng. Dương Văn Minh chỉ định Mai Hữu Xuân, Nguyễn Văn Quang, Dương Ngọc Lắm, Dương Hiếu Nghĩa và Nguyễn Văn Nhung  (tên vệ sĩ đã từng thủ tiêu xác của Ba Cụt)  đi đón, với chỉ thị riêng thanh toán hai ông Diệm, Nhu, trước khi về tới Bộ Tổng tham mưu. Thái thú Cabot Lodge nhắm mắt trước vụ mưu sát bỉ ổi này mà ông có dư quyền chận lại nếu muốn. Đây là một vết nhơ không bao giờ rửa sạch trong lịch sử đại cường Hoa kỳ. Tổng thống Kennedy (lãnh tụ đảng Dân chủ) quá yếu đuối, để cho thuộc hạ lật đổ ông Diệm một cách vô trách nhiệm, với sự a tùng của viên đại sứ đồ tể Cabot Lodge (thuộc đảng Cộng hoà).   Mai Hữu Xuân (đồ đệ của tên Cò khát máu Pháp Bazin) sống cô đơn, qua đời tại vùng Bắc Californie vì bịnh tim, nhiều hôm sau lối xóm mới khám phá được, báo cho cảnh sát. Đại tá Quang (gốc Đaị Việt và cấp trên của Dương Văn Minh trong Quân đội Pháp) thăng thiếu tướng, một thời gian ngắn thì chết  vì bịnh lao phổi.

Ông Nhu có thiện cảm với Pháp hơn với Mỹ, yếu tố văn hoá/ giáo dục ảnh hưởng nặng.  Ông Diệm lại e dè với Pháp (qua kinh nghiệm thất vọng thời làm quan dưới triều thực dân) nhưng rốt cuộc, oái oăm thay, ông trở thành nạn nhân của Mỹ mà ông nghĩ là văn minh và nhân đạo hơn!

Con người của chí sĩ Ngô Đình Diệm.

Nhiều sách vở và tài liệu đã nóí về cuộc đời chánh trị và riêng tư của TT Ngô Đình Diệm. một lãnh tụ cương trực, khí khái, chống cộng cố hữu  (anti-communiste invétéré) cũng như  bướng bỉnh với đế quốc, bất luận Pháp, Tàu hay Mỹ. Theo ông QTĐ, TT Diệm có cái uy nghiêm riêng phát xuất từ một gương mặt phúc hậu, một tác phong cương nghị, một giọng Huế ấm áp, một lối nhìn thẳng vào người đối thoại. Một nốt ruồi đen thấy rỏ trên gò má dưới mắt trái của Tổng thống được các nhà tử vi xem như  báo hiệu một số mạng nhiều buồn phiền và tang tóc. Ông không  nặng lời hay gắt gỏng với cấp thừa hành, khi không vừa ý.

Phong cách của TT Diệm làm cho những người tiếp xúc với ông phải kính nể.  Sau cái bề ngoài trầm tĩnh, TT Diệm là một con người cuồng nhiệt, một hỏa diệm sơn, kiên trì trong mục đích, không nhân nhượng trên những đức tin căn bản. Trong chín năm làm việc tại Dinh, ông Đức cũng có dịp chứng kiến một ít trường hợp – vì lý do đặc biệt – Tổng thống thịnh nộ, quát tháo, đập bàn … Những “trận bão” này, tuy nhiên, qua mau, Tổng thống tự kềm chế cấp thời vì bản tánh của ông bộc trực, không cố chấp, không thâm độc như Hồ Chí Minh. Ông có thể độc thoại hàng giờ khi nói đến những đề tài mà ông nghiền ngẫm  như  chủ thuyết cộng sản, ấp chiến lược, khu trù mật, dinh điền, cải tổ hành chánh,  hay văn hoá Khổng Mạnh. Mái tóc đen nhánh, dáng người thấp, chân đi hai hàng lạch bạch nhưng mau lẹ. Rất sùng đạo, xem lễ mỗi buổi sáng tại hoặc một phòng riêng trong Dinh, hoặc nhà nguyện Dòng Chúa Cứu thế. Trang phục màu trắng, cà vạt đen quanh năm, không thay đổi. Làm việc bất chấp giờ giấc, với nhịp độ làm các người thân cận mệt nhoài. Khi có vấn đề khẩn, ông cho mời nhân viên hữu trách vào Dinh để đàm đạo thâu đêm. Bằng không, ông đọc phúc trình, hồ sơ đến khuya, uống trà, hút thuốc nhưng không bao giờ hút hết phân nửa điếu thuốc.

TT Diệm kinh lý không biết mệt, có khi mỗi tuần đi suốt hai ba ngày, đến các tiền đồn hẻo lánh, làng Thượng xa xôi, sử dụng mọi phương tiện chuyên chở: máy bay, ghe, tàu, xe jeep, trực thăng… Ông không hùng hồn trước đám đông nhưng rất thoải mái và thân mật ở giữa những nhóm nhỏ, không quan cách, không mị dân.

Khi nhóm Hội đồng Nội các, Tổng thống Diệm thường ra ngoài chương trình ấn định, nếu tình cờ gặp một đề tài gây chú ý. Ông nói say mê, không đầu không đuôi, lắm khi không kết luận. Với tư cách thơ ký phiên họp, ông QTĐ ghi mệt tay. Lúc bế mạc, các bộ trưởng thường phải nhờ ông Đức tóm tắt vì suốt chín năm trời làm việc bên cạnh Tổng thống, ông Đức đã quen và rút kinh nghiệm, tuy đôi lúc cũng đoán lầm.

TT Diệm sống rất nặng về lý tưởng. Con người Khổng giáo nghiêm khắc và Công giáo khổ hạnh nơi ông có những nhận xét lắm khi không sát thực tế. Ông thường nhắc rằng người cán bộ trung thành luôn luôn hy sinh vì đại cuộc mà không cần đến cơm áo, danh vọng và chức tước, một lời khen của lãnh tụ đủ gây mãn nguyện. Khổ nỗi, không phải cán bộ nào cũng thánh thiện như thế. Cuộc nổi loạn năm 1963 là một sự cải chính xót xa. Sánh với Hồ Chí Minh, ông Diệm là một lãnh tụ đức độ thiếu mưu lược, ghét xảo quyệt.

Thú tiêu khiển của TT Diệm không  nhiều vì thiếu giờ rảnh. Ông thích cỡi ngựa ở Đà lạt hay trong vòng rào của Dinh Độc Lập trong những năm yên ổn. Ông sưu tập máy ảnh, thích chụp hình và rất vui khi nhận được một máy lọai mới. Chủ tiệm chụp hình Hà Di thường được gọi vào Dinh về vấn đề chuyên môn. Tổng Thống ăn uống thanh đạm, thường bữa dùng tại ngay phòng ngủ, do ông già An và đại uý Nguyễn  Bằng phục dịch, thực đơn ít khi thay đổi gồm có cơm vắt, muối mè, cá kho và rau. Tổng thống ít khi đau, lâu lâu cảm cúm, có bác sĩ Bùi Kiện Tín chăm sóc. Phòng nội dịch không đông nhân viên, do ông Tôn Thất Thiết phụ trách. Vấn đề tiền bạc riêng của Tổng thống thì giao trọn cho Chánh văn phòng đặc biệt Võ Văn Hải, ông Diệm không có nhu cầu lớn.  Ông Hải, học trò cũ của GM Ngô Đình Thục, tốt nghiệp Trường Khoa học Chính trị Paris, cử nhân Hán học, rể của cựu Thượng thơ Nguyễn Khoa Toàn, theo sát Tổng thống  Diệm từ lúc còn bôn ba ở hải ngoại và được ông Diệm thương như con. Ông Hải chính là người được TT Diệm chỉ định ngày11.11.1960 ra trước cổng Dinh Độc Lập tiếp xúc với các sĩ quan phản lọan Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông để tìm hiểu yêu sách của họ. Hải chống ông bà Nhu và bác sĩ Tuyến, giám đốc Sở Mật vụ và cũng không thích ông Cẩn.

Ông Đức còn thêm: Vài hôm sau 1.11.1963, ông có chứng kiến vụ Hải lập biên bản trao cho đại úy Đặng Văn Hoa, chánh văn phòng của tướng Trần Văn Đôn số tiền của TT Diệm giao cho Hải cất giữ.  Ông Đức không biết số tiền này được bao nhiêu và lọt vào túi của ai. Nôi hai trang cuối cùng của hồi ký Việt Nam Nhân chứng, Trần Văn Đôn có ghi rõ Hải đã trao hai số bạc mặt 2.390.000 đồng và 6.297 Mỹ kim, Dương Văn Minh lấy 6.000 đô và chia cho Trần Thiện Khiêm 297 đô. Số bạc VN được phân phát cho Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Văn Thiệu, Phạm Ngọc Thảo, Trần ngọc Tám và Trần Thiện Khiêm, riêng Đôn có nhận 24.500 đồng.

Khi phe quân nhân lên cầm quyền, Võ Văn Hải có can đảm tổ chức nhóm “Tinh thần Ngô Đình Diệm” và ra ứng cử dân biểu taị Sàigòn nhưng thất cử. Năm 1974, không hiểu vì sao Hải lại xoay qua, cùng với Tôn Thất Thiện, ủng hộ nhiệt tình tướng Dương Văn Minh là người ra lệnh hạ sát hai ông Diệm, Nhu. Hải qua đời trong một trại giam Bắc Việt sau 1975, đem theo nhiều điều bí mật chưa hề tiết lộ.

Về câu hỏi TT Diệm liên hệ ra sao với đảng Cần Lao, ông QTĐ cho biết ông Diệm chỉ để ý theo dõi hoạt động của Phong Trào Cách Mạng Quốc gia (tổ chức nồng cốt của chế độ từ lúc đầu)  và Liên đoàn Công chức Cách mạng, một tổ chức ngoại vi của Chánh phủ. Về chuyện thành lập và sinh hoạt của đảng Cần Lao, TT Diệm giao hết cho hai ông Nhu và Cẩn. Trong các năm chót của chế độ, kế hoạch Ấp chiến lược cũng do ông Nhu hoàn toàn phụ trách, Tổng thống không lưu ý đến như đã từng lưu ý đến kế hoạch Dinh điền hay Khu Trù mật. Các gương mặt nổi trong hoạt động Cần Lao gồm có các ông Huỳnh Văn Lang, Trần Kim Tuyến, Lê Văn Đồng, Huỳnh Hữu Nghĩa, Lê Quang Tung, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Châu, Đỗ Kế Mai, Nguyễn Trân ..v..v.. Bs Tuyến làm việc với ông Nhu, ít khi gặp Tổng thống, trừ trường hợp đặc biệt. Quyết định đưa Cần Lao vào Quân đội – tức  là chính trị hoá Quân đội – làm yếu Quân đội vì phá vỡ hệ thống quân giai và làm nản lòng các sĩ quan chuyên nghiệp. Quân đội chỉ biết có Tổ Quốc. Và phục vụ tổ quốc mà thôi.

(Còn tiếp)

© Lâm Lễ Trinh

Tags:

10 Phản hồi cho “9 năm bên cạnh Tổng thống Ngô Đình Diệm”

  1. Trần Trung Dung says:

    Những lời mà Đỗ Thọ dùng để ca ngợi vị Tổng Thống mà ông kính yêu nhan nhản trong cuốn Nhật Ký 360 trang của ông:

    “Quả thật Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người đứng về phía quần chúng”.

    ” Thật sự giờ này tôi đang viết thư từ nơi cõi sống về nơi cõi chết. Tôi viết để thương kính vị Tổng Thống mà tôi đã theo chân trong những giây phút sóng gió đầy nước mắt, từ dinh Gia Long”…

    “Tôi thương yêu, kính trọng Tổng Thống với tình cảm thiêng liêng, giữa một tùy viên, một con người, và có lẽ còn nhiều hơn nữa, các thứ ấy chồng chất không thể nào cắt nghiã được. ..”

    “Cái chết của Tổng Thống Diệm chẳng đem lại một đổi thay tình hình mà còn làm cho bi đát hơn thì đúng hơn.”…

    “Tôi là một sĩ quan tầm thường.. Nếu tôi là một chính trị gia, tôi sẽ tiên đoán rằng, dù trong tương lai xa xôi, Tổng Thống Diệm vẫn là bất diệt.

    “Khi Tổng Thống chết rồi, tôi bắt gặp một số lớn đồng bào vẫn treo ảnh Tổng Thống trong nhà. Tôi cảm động lắm. Cảm động đến buồn tủi mà không nói ra. Còn riêng tôi, khung ảnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm thật lớn, choán khung tường rộng trong phòng ngủ tôi. Tôi sẽ treo ở đó mãi mãi mà không sợ sệt.”

    “Tôi cũng xúc động khi gặp một số đồng bào không tin Tổng Thống đã chết. Họ cho rằng Tổng Thống đã xuất ngoại hoặc ẩn ở một vùng nào đó. Thi hài của hai người trên xe M113 là giả. Tôi xác nhận Tổng Thống đã chết thật. Nhưng họ vẫn hoài nghi, dù tin tưởng ở tôi. “

  2. quang phan says:

    Bọn Hán ngụy Hà nội ra sức đàn áp các tôn giáo Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Hòa Hảo, Cao Đài :
    ***Tín đồ Cao Đài tại Bình Định bị hành hung

    16-9-2012
    Chúng tôi được tin hôm nay, 16 tháng 9 năm 2012, nhiều tín đồ Cao Đài tại Thánh Thất Phù Mỹ ở Bình Định, thuộc Hội Thánh Bảo Thủ Chơn Truyền, bị người của Hội Đồng Chưởng Quản thân CS cùng côn đồ hành hung.
    ***12 tổ chức NGO kêu gọi VN trả tự do cho các thanh niên Công giáo

    28-8-2012

    Hôm qua thứ Hai 27/08/2012, nhiều tổ chức quốc tế đã gởi thư ngỏ đến Thủ tướng Việt Nam, yêu cầu trả tự do cho 17 thanh niên Công Giáo.
    Bắt giữ tùy tiện
    Các tổ chức NGO trên thế giới yêu cầu chính quyền Việt Nam hãy trả tự do ngay tức khắc, đồng thời xóa bỏ mọi cáo buộc đối với 17 bloggers và nhà hoạt động xã hội bị công an bắt giữ tùy tiện từ tháng 07/2011 đến giờ.
    Hầu hết những người bị bắt chưa được mang ra xét xử, trong lúc họ chỉ là những công dân làm báo, bảo vệ môi trường, chống tham nhũng và bênh vực nhân quyền.
    Trong hơn một năm qua, cộng đồng nhân quyền quốc tế đã biết đến tên tuổi của họ, đó là Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, Paulus Lê Văn Sơn, Nguyễn Văn Duyệt, Nông Hùng Anh, Nguyễn Văn Oai, Thái Văn Dũng, Trần Minh Nhật, Tạ Phong Tần, Trần Vũ Anh Bình, Nguyễn Đình Cương, Chu Mạnh Sơn, Hoàng Phong.
    ***Toàn bộ Giáo phận Vinh phản đối bạo lực của chính quyền địa phương
    16-7-2012
    Sáng ngày 15/07/2012, hàng chục ngàn giáo dân trên toàn thể 20 giáo hạt của Giáo phận Vinh đã tham dự các thánh lễ để phản đối những hành vi bạo lực và xúc phạm Đức tin Công giáo.
    Những thánh lễ này đã được trang mạng Giáo Phận Vinh Online tường thuật đầy đủ với nhiều hình ảnh. Tại giáo hạt chính tòa Xã Đoài ( Nghệ An ), nơi đặt trụ sở Tòa giám mục Vinh, gần 20 ngàn giáo dân cùng với nhiều tu sĩ, chủng sinh, đã dự thánh lễ do Đức Giám mục Nguyễn Thái Hợp làm chủ tế cùng với nhiều linh mục, để « hiệp thông với anh chị em đang bị bách hại về đức tin và để phản đối những hành vi phạm thánh, xúc phạm Đức tin Công giáo » tại giáo điểm Con Cuông, theo như lời mời gọi của Văn phòng Tòa giám mục Vinh.
    Cũng trong tinh thần hiệp thông và phản đối đó, đông đảo giáo dân những nơi khác của Giáo phận Vinh đã tham gia các thánh lễ hôm qua : 20 ngàn người ở Thuận Nghĩa ( Nghệ An ), 10 ngàn ở Nhân Hòa ( Nghệ An ), 12 ngàn ở Nghĩa Yên ( Hà Tĩnh ), 7 ngàn ở Can Lộc ( Hà Tĩnh )… Có thể nói là chưa bao giờ cộng đồng Công giáo Việt Nam lại thể hiện một cách mạnh mẽ sự phản kháng như thế đối với những hành vi bạo lực của một chính quyền địa phương.
    Các thánh lễ đã diễn ra trên khắp Giáo phận Vinh với hàng chục ngàn người tham dự bất chấp những hành động hù dọa của chính quyền
    ***Con Cuông: Quân đội, Công an, Côn đồ đàn áp đẫm máu giáo dân

    2/07/2012
    Chiều hôm qua ngày 1 tháng 7 năm 2012, linh mục G.B Nguyễn Đình Thục đến dâng Thánh Lễ cho các giáo dân thuộc Giáo điểm Con Cuông đã bị một nhóm côn đồ chặn lại đánh đập.
    Các giáo dân tại giáo điểm Con Cuông nghe tin đã đến tiếp cứu thì đã bị nhóm côn đồ đánh đập dã man, một số giáo dân bị bắt, nhiều giáo dân bị thương nghiêm trọng, trong đó có chị Maria Ngô Thị Thanh bị đánh vỡ hộp sọ, hiện đang trên đường đi ra bệnh viện Việt Đức, Hà Nội để được cấp cứu.
    Sau khi thấy linh mục G.B Nguyễn Đình Thục tỏ ý muốn quyết tâm được dâng thánh lễ cho cộng đoàn tín hữu Con Cuông, chính quyền Con Cuông đã huy động một lực lượng hùng hậu gồm công an, mật vụ mặc thường phục, côn đồ và lực lượng quân đội thuộc trung đoàn 335 với đầy đủ súng ống đến để uy hiếp tinh thần giáo dân.
    Mặc dù bị ngăn cản, đánh đập, nhưng vì sứ vụ và như ngài nói “nếu được chết ngay trên bàn thờ thì đó là hồng phúc”, linh mục G.B Nguyễn Đình Thục đã cố gắng dâng trọn thánh lễ trong tiếng chửi bới, la hét của nhóm côn đồ và tiếng khóc của nhiều giáo dâ
    ***Tòa Giám mục Vinh gởi kiến nghị lên chính quyền

    19-6-2012
    Tòa Giám mục Giáo phận Vinh vừa có văn thư gởi chính quyền tỉnh Nghệ An về hành động “ngăn cản hoạt động tôn giáo và vô cớ đánh người” tại xã Châu Bình, huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An.
    Ngăn cản
    Văn bản của Tòa Giám mục giáo phận Vinh đề ngày 16 tháng sáu, gởi đến chính quyền cấp xã Châu Bình, chính quyền huyện Qùy Châu và tỉnh Nghệ An. Văn thư còn gởi đến Ban tôn giáo và UB Mặt trận Tổ quốc Tỉnh. Trước đó khoảng 1 tuần, ngày 11 tháng 6, xảy ra một xô xát làm bị thương một số giáo dân và hoạt động thờ phượng tại xã Châu Bình bị cản trở.
    ***Việt Nam ngăn cấm GHPGVNTN tổ chức đại lễ Phật Ðản
    02/5/2012
    PARIS (NV) – Các chùa thuộc hệ thống Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã bị nhà cầm quyền các địa phương hăm dọa và ngăn cấm tổ chức đại lễ Phật Ðản, theo tin của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế tại Paris.
    ***Chính quyền huyện Chương Mỹ đập phá nhà cô nhi và đánh đập linh mục

    14/04/12
    Đúng 4 giờ sáng hôm nay 14/4/2012, gần 200 công an và các lực lượng của chính quyền huyện Chương Mỹ đã đập phá đồ đạc, bàn học, ném tất cả đồ dùng, chăn màn áo quần sách vở của các cháu ra sân, đập phá nhà cửa rồi nhanh chóng rút đi.
    Tin khẩn cấp.
    Bà con xã Thủy Xuân Tiên gọi điện thoại cấp báo: Linh mục quản xứ Yên Kiện đã bị Công an xã Thủy Xuân Tiên và Công an huyện Chương Mỹ Hà nội đánh đập tàn tệ phải đưa đi cấp cứu.
    ***Kháng thư phản đối nhà cầm quyền CSVN đàn áp Công giáo
    của Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền

    12-03-2012
    “….rất nhiều vụ việc chứng tỏ nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tiếp tục bách hại các tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng, khiến cho Đức Giáo hoàng Bênêđictô 16 đã kêu gọi trong Ý truyền giáo tháng 03-2012 này: “Xin Chúa Thánh Thần ban ơn kiên trì cho những người, đặc biệt tại châu Á, bị phân biệt đối xử, bị bách hại và giết chết vì danh Chúa Kitô” và Đài phát thanh Vatican ban Việt ngữ phải lên tiếng ngày 24-02-2012: “Hiệp ý với tín hữu Công giáo toàn thế giới, chúng ta tha thiết cầu xin Chúa Thánh Thần ban ơn kiên trì cho các tín hữu bị kỳ thị, bắt bớ và sát hại vì Chúa Kitô, đặc biệt tại Á châu và cách riêng tại Việt Nam….”
    ***12-29-2011
    Hội Thánh Tin Lành Mennonite Việt Nam báo nguy

    Hội Thánh Mennonite chi hội Mỹ Phước I – Bến Cát – Bình Dương đã bị Công An Bình Dương cấm không được tổ chức Giáng Sinh 2011. Công an bao vây suốt những ngày qua, trấn áp tinh thần những người bên trong Hội Thánh cũng như răn đe, đe dọa những người bên ngoài Hội Thánh. Công An Bình Dương cho lập chốt chặn 24/24 trước của Hội Thánh và phong tỏa các hường vào Hội Thánh từ xa. “Nội bất xuất – ngoại bất nhập” là tiêu chí cho lần trấn áp này.

    ***Mỹ kêu gọi tự do cho tín đồ Hòa Hảo

    Thứ năm, 15 tháng 12, 2011
    Mỹ yêu cầu Chính phủ Việt Nam trả tự do cho hai tín đồ Phật giáo Hòa Hảo vừa bị bỏ tù tại tỉnh An Giang.
    Người phát ngôn Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, Beau Miller, nói với BBC: “Hoa Kỳ quan ngại về phán quyết và án tù đối với hai tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Nguyễn Văn Lía và Trần Hoài Ân; và chúng tôi yêu cầu nhanh chóng trả tự do cho họ.”
    “Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam tôn trọng quyền tự do ngôn luận và tự do tôn giáo đối với toàn thể người dân, không kể họ theo tín ngưỡng hay tôn giáo nào”
    ***Phật giáo Hòa Hảo Truyền thống đang bị đàn áp khốc liệt

    Tin Việt Nam (19-08-2011) – Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Truyền thống đang bị CSVN đàn áp và bách hại rất mạnh tay mấy tuần nay. Mới đây, ông Nguyễn Văn Lía và nhiều tín đồ PGHH khác bị bắt, bị vào tù. Đã có nhiều bản tin loan báo sự việc này, nhưng chỉ gây ồn ào trên dư luận một thời gian ngắn để rồi hiện nay sự việc dường như đã bị chìm vào quên lãng. Trước phản ứng yếu ớt của quốc tế, Cộng sản Việt Nam liền leo thang trong mưu đồ tiêu diệt PGHH.
    Hiện nay, tại An Giang, tín đồ PGHH Truyền thống đang gặp rất nhiều khó khăn. Một mặt Cộng sản cài cắm người của họ vào Giáo hội, làm “ăng-ten” cho chúng, tạo tình trạng nghi ngờ nhau và xào xáo nội bộ Giáo hội. Mặt khác công an sách nhiễu, khủng bố hầu hết các tín đồ PGHH nào còn quyết tâm trung kiên với đạo pháp truyền thống, không chịu theo Giáo hội PGHH quốc doanh do nhà nước lập nên.
    Bất chấp già trẻ, nam nữ, các tín đồ PGHH Truyền thống đều bị mời tới đồn công an “làm việc”. Rất nhiều người bị sách nhiễu, khủng bố tinh thần, dọa dẫm, và bị buộc nhận tội rằng theo PGHH Truyền thống là vi phạm pháp luật. Ai nhận tội thì bị buộc bỏ đạo. Những người yếu bóng vía thì đành tuyên bố bỏ đạo để được yên thân. Những người quyết tâm trung thành với đạo pháp thì tiếp tục bị khủng bố cách này hay cách khác. Những người chưa bị “mời” làm việc thì lúc nào cũng hồi hộp, phập phồng, lo âu, khủng hoảng tinh thần, chờ đợi tới phiên mình, không biết hôm nay hay ngày mai, ban sáng hay ban chiều sẽ bị “mời”… Họ hồi hộp, lo sợ vì không biết mình sẽ bị hành hạ thế nào.
    Với tình trạng đàn áp bách hại như hiện nay, tín đồ PGHH cảm thấy CSVN đang quyết tâm tiêu diệt, xóa sổ PGHH Truyền thống vì bọn chúng cho rằng tôn giáo này rất nguy hiểm cho chế độ, mặc dù trong thực tế họ chỉ mong muốn được bình an để giữ đạo. Từ xưa đến nay, các tín đồ PGHH Truyền thống đâu làm gì cụ thể bất lợi cho chế độ Cộng sản như đặt mìn, rải truyền đơn, chửi bới chế độ hay phá rối trật tự công cộng v.v…! Họ chỉ đòi hỏi được sinh hoạt tôn giáo bình thường, được tổ chức những lễ hội, cử hành những nghi thức tôn giáo của họ thôi. Nhưng khi tổ chức thì họ bị công an cấm đoán, đàn áp. Chính sự đàn áp cấm đoán này khiến họ lên tiếng phản đối, thậm chí phản đối bằng cách tự thiêu. Những người dám lên tiếng phản đối đều phải trả một giá rất mắc, đôi khi bằng tù tội hay bằng cả mạng sống, như các ông bà Nguyễn Văn Thơ, Dương Thị Tròn, Lê Văn Sóc, Võ Văn Bửu, Mai Thị Dung, Võ Văn Thanh Liêm, Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Thị Hà, Tô Văn Mãnh, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Văn Thùy, v.v.
    ***Ðiều trần ở Quốc Hội Châu Âu: Phật Giáo ở Việt Nam vẫn bị kỳ thị
    28-5-2011
    BRUXELLES, Bỉ (QM) – Trước phân ban nhân quyền của Quốc Hội Châu Âu, đại diện một tổ chức bảo vệ nhân quyền Việt Nam lên tiếng hôm Thứ Năm tố cáo Việt Nam đàn áp Phật Giáo và ngăn cản hoạt động của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
    “GHPGVNTN là cộng đồng tôn giáo lớn nhất và lâu đời nhất bị hệ thống Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước do đảng Cộng Sản dựng lên nhằm kiểm soát và sử dụng,” bà Penelope Faulkner, phó chủ tịch Quê Mẹ – Hành Ðộng Cho Dân Chủ Việt Nam kiêm phó chủ tịch Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam, điều trần.
    “Các tăng, ni, Phật tử bị bắt giam, hăm dọa, sách nhiễu,” bà Faulkner nói thêm. “Những ai liên hệ với các chùa thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đều có nguy cơ bị đàn áp, khủng bố”.
    ***CSVN đại bố ráp tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy
    03/19/2011
    - Lại có thêm một nữ tín đồ PGHH thuộc Giáo Hội PGHH Thuần Túy tuyên bố tự thiêu

    Nhằm mục đích ngăn chận Giáo Hội PGHH Thuần Túy tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm 25 tháng 2 âm lịch ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ bị Việt Minh tức CSVN ám hại,công an CSVN đã gia tăng cường độ trấn áp tín đồ PGHH Thuần Túy.

    Qúa phẩn uất ngày 13 tháng 3 năm 2011 nữ tu sĩ PGHH Lê Thị Mỹ Hạnh gởi tuyệt mạng thư tuyên bố tự thiêu.

    Ngày 16 tháng 3 năm 2001 nữ tín đồ PGHH Thuần Túy Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà gởi tuyệt mạng thư tuyên bố tự thiêu.

    ***Việt Nam Bị Tố Tra Tấn Giáo Dân: Dội Nước, Dí Điện, Đánh Gậy

    26/1/2011

    Hội nhân quyền HRW kêu gọi Mỹ đưa VN vào sổ trừng phạt CPC
    Việt Nam lại bị một hội nhân quyền ở Mỹ đòi hỏi đưa vào danh sách trừng phạt CPC về các vi phạm nhân quyền, theo tin VOA. Trong khi đó, bản tin Đià RFI loan rằng một hội nhân quyền từ Đức lên án công an Đà Nẵng đã tra tấn các giaó dân Cồn Dầu để ép nhận tội, hòng trục xuất để giiả tỏa đất.
    ***Hà Nội: Công an trấn áp dã man hàng ngàn tín hữu Tin Lành
    19/12/2010

    Lúc 2h30 chiều nay, ngày 19/10, hàng ngàn tín đồ Tin Lành Miền Bắc đến cổng số 2 – Trung Tâm hội nghị quốc gia Hà Nội để tham gia buổi thờ phượng hát thánh ca chào mừng lễ giáng sinh diễn ra lúc 3h chiều cùng ngày. Đây là địa điểm mà các nhóm Tin Lành đã thuê và ký hơp đồng từ trước.
    Nhưng vào giờ chót, chính quyền đã đơn phương hủy hợp đồng mà không thông báo trước. Khi đến nơi, các tín đồ rất buồn bã, đành phải cầu nguyện ôn hòa tại cổng số 2 Trung tâm. Trái lại, chính quyền không hề nói lời xin lỗi mà bất ngờ ra lệnh hàng trăm công an đến đàn áp, đánh đập các tín đồ để giải tán.
    Lúc 16 giờ ngày 19.12.2010, lực lượng công an Hà Nội bất ngờ tấn công vào trung tâm Hội Nghị Quốc Gia, trấn áp hơn 2000 Tín hữu Tin Lành đang tổ chức đón Giáng Sinh tại đây.
    ***Công an tấn công ‘Hội Truyền Giáo Cơ Ðốc’ tại Quảng Ngãi‘Chính quyền cộng sản này rất tàn bạo!’
    15/11/2010

    QUẢNG NGÃI (NV) – Hơn 200 công an, cán bộ, dân quân tự vệ và nhiều thành phần khác mang theo xe cảnh sát, xe chở tù nhân kéo đến cơ sở “Giáo Hội Truyền Giáo Cơ Ðốc”, ở số 115 đường Võ Thị Sáu, thành phố Quảng Ngãi, vào khoảng 8 giờ sáng ngày 11 tháng 11 để “nhất định cưỡng chế đất của hội thánh”!
    Tiếp xúc với phóng viên báo Người Việt qua điện thoại vào chiều ngày 15 tháng 11 (giờ California), Mục Sư Nguyễn Luận, quản nhiệm Hội Truyền Giáo Cơ Ðốc tại Quảng Ngãi nói rằng, sau khi ông đưa giấy tờ ra để chứng minh quyền sở hữu của giáo hội trên mảnh đất thì hơn 200 viên chức nhà nước, gồm công an, dân quân tự vệ đã rất hung hăng, nhào vào tấn công gia đình ông.
    Mục Sư Nguyễn Luận kể, “Họ lôi kéo vợ tôi khiến bà bị ngất xỉu, và đánh đập rồi bắt ba đứa con tôi đi theo, cả cháu gái tôi, 23 tuổi, cũng bị bắt đi. Họ nhất quyết phải cưỡng chế cho bằng được đất để mang đi bán, cho nên đã làm như vậy” .

  3. Lưu Vong cờ vàng - says:

    Khoe 9 năm bên cạnh Diệm – Vậy có biết kẻ cầm đầu chế độ Ái Nam Ái Nữ đó ra sao không ? Để có thể giải trình câu nói : Trái mệnh Trời , gia đình họ Ngô – Âm thịnh , Dương suy – đã khiến cả chế độ VNCH phải suy tàn , tan tác …???

    • doctin says:

      Gặp Bác Hồ Tôi Bị Mất Trinh

      Huỳnh Thị Thanh Xuân- Quãng Nam – Đà Nẵng 09/02/2005

      Năm 1964, tôi được cơ quan và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cho ra miền Bắc học văn hoá, đi bộ trên 3 tháng vượt Trường Sơn ra Hà Nội. Trường Hành Chính gần Cầu Giấy, Hà Nội là nơi đón tiếp chúng tôi đầu tiên. Năm đó tôi mới 15 tuổi.
      Thật là vinh dự biết bao cho bản thân, gia đình và quê hương chúng tôi, tôi có tên trong danh sách gặp Bác Hồ. Đó là lúc 17 giờ ngày 30/08/1964. Sau khi ăn cơm chiều về có lệnh tập trung, bác Tố-Hữu, người phụ trách chung, nói : “Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh Hanh phụ trách đội thiếu niên tiền phong”. Bác Hữu đọc : “… Lập, Lộc, Dung (con bác Nguyễn Hữu Thọ), Đệ, Hoà (Khánh Hoà), Độ, Đâu và Thanh, Kiến “. Bác Hữu nói : “Các cháu chuẩn bị tư trang, sau 20 phút tập trung lên xe và được đi gặp Bác Hồ”. Trong lòng ai nấy đều phấn khởi chạy về phòng thay áo quần, quàng khăn đỏ, chải đầu tóc gọn gàng rồi chạy xuống cầu thang .Xuống khỏi cầu thang chúng tôi thấy có 4 xe đậu trước cửa, 2 xe Vônga – 1 xe màu đen, 1 xe màu cà phê sữa – và 2 xe com măng ca màu rêu. Đoàn chúng tôi gồm 16 người lên xe đầy đủ. đến đường Hùng Vương chạy từ từ và dừng lại. Một chú công an mở cổng và đoàn chúng tôi đi bộ vào dọc theo con đường rải đá sỏi nhỏ, hai bên trồng nhiều cây cảnh đều và gọn đẹp.

      Gần đến nhà khách, chúng tôi thấy xuất hiện ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép cao su đen đang từ từ đi ra nở nụ cười phúc hậu. Bỗng anh Hanh và tất cả chúng tôi reo lên : “Bác Hồ !” rồi thi nhau chạy đến ôm chầm lấy Bác. Rồi Bác dẫn chúng tôi cùng đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Lên khỏi cầu thang rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt, lúc đó chúng tôi và các chú, các bác đi cùng với Bác ngồi vào từng ghế quây quần xung quanh chiếc bàn lớn. Câu đầu tiên Bác nói : “Dân chố gộ có mặt đây không ?” (ý nói vui người dân QNĐN). Bạn Dung ngồi gần chọc nách và nói “có ạ”. Bác nói tiếp : “Dân dưa cải mắm cái có không ?” (ý nói chỉ người địa phương Quảng Ngãi), tất cả chỉ qua phía Ba Đen (người dân tộc Tây Nguyên) Ba-Đen nói “có ạ”. Bác lại nói : “Dân đầu gấu (đầu gối chân) có không ?” (ý nói người quê ở Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận). Tất cả chúng tôi rất khó chịu với sự giả tiếng và hỏi một cách kỳ cục của Bác, Sau đó Bác chỉ qua phía bạn Hoà, rồi Bác nói tiếp : “Các cháu ăn mích chính ích ích thôi nghen” (ý nói quê ở Nam Bộ). Tất cả lại chúng tôi lại không biết Bác nói gì nữa, sao Bác diễu dỡ quá vậy.
      Bác nói : “Hôm nay là ngày vui mà Bác cháu chúng ta gặp nhau như vậy chúng ta hát bài Kết đoàn”. Khi mà chúng tôi say sưa hát thì Bác đi bóp vai những đứa con gái, tới chổ tôi thì bác không những xoa lưng tôi mà Bác còn để cho bàn tay đi xuống hai bờ mông của tôi xoa xoa bóp bóp làm cho tôi thâý rất là khó chịu, nhưng tôi không dám lên tiếng đành đứng yên chịu thôi. Trước mắt chúng tôi là bánh cứt chó và kẹo bột cám ngào đường và nước chè xanh mà Bác cho dọn sẵn, Bác nói : “Mời các cháu cùng ăn với các bác cho vui”. Nói xong, Bác giới thiệu với chúng tôi : “Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là bác Phạm Văn Đồng, người dưa cải đấy ! Và đây là bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp, bác Lê Thanh Nghị, các bác ở Bộ Chính Trị hôm nay cũng có mặt với các cháu”. Bác đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái.
      Đến lượt tôi được Bác hôn vào môi tôi một cách say đắm, lưỡi của Bác còn thò vào miệng tôi ngoáy ngoáy, ngay lập tức tôi nhổm dậy và né khuôn mặt tôi qua một bên. Lúc này tôi muốn nói về tình cảm gia đình tôi, quê hương tôi với Bác nhưng bàn tay của Bác không chịu dừng lại sau bờ mông của tôi, còn tôi thì nghẹn ngào và mắc cỡ, rôì Bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng tôi chảy nước mắt, tôi thấy Bác Hồ này có gì kỳ cục quá không giống như Bác Hồ mà chúng tôi học được trong miền Nam … Bác nói : “Bây giờ có cháu nào đứng lên hát cho các chú và các bác ở đây nghe một bài nào. Sau đó, anh Hanh chỉ Dung hát một bài. Bạn Dung hát : “Ngày con mới ra miền Bắc con còn bé xíu như là cái hạt tiêu..”. Đến bạn Hoà mạnh dạn đứng lên hát bài : “Vui họp mặt. Từ ngàn phương về đây cùng nhau đoàn kết cùng đi tới tương lai …”. Bác Hồ nói : “Các cháu đã ra đến miền Bắc xã hội chủ nghĩa rồi đấy. Các cháu là những ” hạt giống đỏ ” của đồng bào miền Nam gửi ra đây học tập cho nên phải làm sao cho xứng đáng với lòng mong mỏi đó”. Nói xong, Bác Hồ quay qua bên cạnh hỏi : “Các chú có ý kiến chi không ?” (ý hỏi ý kiến các bác trong Bộ Chính trị có mặt lúc đó). Các bác đều không nói thêm. Bác nói tiếp : “Bây giờ các cháu xuống dưới xem phim”. Chúng tôi đứng lên và đi xuống với Bác, bạn thì đi cạnh bác Tôn, bạn thì đi cạnh bác Đồng, bác Duẩn, bác Chinh, bác Giáp, bác Nghị …
      Vào phòng chiếu phim ở tầng 1, Bác chiêu đãi bộ phim thiếu nhi miền Nam đánh Mỹ (phim hoạt hình). Bác Hồ ngồi cạnh tôi. Bác ôm chặt tôi, một tay choàng qua vai tôi và xoa xoa lên ngực tôi bộ ngực mớí lớn của một cô gái miền Nam.
      Khi đèn phòng bật sang, Bác hỏi về gia đình tôi và cuộc hành trình của tôi đi bộ vượt Trường Sơn hơn 3 tháng như thế nào kể cho Bác nghe. Ngồi một lúc, Bác đi qua bên con Hoa, Con Lan và tôi thâý bàn tay của Bác cũng không bao giờ chịu làm biếng.
      Đêm hôm đó tôi được một chị thư ký của Bác nói nhỏ cho tôi biết là tôi hân hạnh được Bác muốn cho gặp riêng Bác, có những chuyện Bác muốn hỏi tôi nhưng vì sáng nay đông quá bác không tiện.Tôi được chị Nhàn dẫn đi tới phòng ngủ của Bác, chị Nhàn gõ cữa ba tiếng cánh cửa mở ra, chị Nhàn bảo tôi đi vào và chị xoay lưng bỏ đi. Khi tôi vào, Bác ôm chầm lấy tôi hôn môi tôi, hai tay Bác xoa nắn khắp người tôi, Bác bóp 2 bờ ngực nhỏ của tôi, Bác bóp mông tôi, Bác bồng tôi lên thiều thào vào trong tai tôi :
      - Để Bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho Bác nhé.

      Bác bồng tôi lên gường, hai tay Bác đè tôi ra và lột áo quần tôi. Bác như một con cọp đói mồi. Sau một hồì kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xui tay … Hai hàng lệ một cô gái miền Nam vừa tròn 15 tuổi đã bị Bác cướp đi mất cái trong trắng.
      Những đêm sau, mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nhưng chúng tôi không ai dám nói vớí ai lời nào.Và qua cái chết của con Lành và con Hoà thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình.

      Cho đến khi thống nhất nước nhà, ba mẹ tôi không còn nữa, đã hy sinh cho độc lập dân tộc song họ hàng tôi vẫn vui lòng bởi vì tôi đã thay mặt gia đình và các cô chú trong cơ quan cũng như bạn bè tôi được vinh dự gặp Bác Hồ. Nhưng có ai biết được rằng sau cái gọi là vinh danh gặp Bác hồ là chuyện gì xảy ra đâu. Kể cã chồng tôi khi hỏi tới trinh tiêt’ của tôi, tôi cũng không dám nói vì anh ấy là một đảng viên cao cấp, là một người lảnh đạo của tỉnh. Tôi chỉ nói là khi đi công tác tôi bị bọn ngụy quân bắt tôi và hảm hiếp tôi, chứ làm sao tôi dám nói tôi bị hảm hiếp lúc mơí 15 tuổỉ và bị hảm hiếp ngay phủ chủ tịch và chính là ” Bác hồ ” hảm hiếp tôi cho chồng tôi nghe.

    • Cường Vu says:

      Thưa ông Lưu vong cờ vàng
      Tôi là một nông phu chính hiệu .Sinh ra ờ Thái Bình con của bần cố nông.Ở Mỷ trên 37 năm.Sinh sống “Làm cu li và bây giờ nông phu”từ ngày đến đây chưa hề ngửa tay xin một xu trợ cấp nào hội đoàn cũng như chính phủ.Học hành mới đến lớp 9 (đệ Tứ).Dù dốt nát nhưng tôi thấy ông viết ra những lời quá “Thất Học”.Tôi không hiểu sao Đàn Chim Việt lại có thể đăng những lời phản hồi của ông lên .Không đồng ý khi đưa ý kiến “Nói có sách mách có chứng”còn không người ngu dốt nông phu họ cười cho!

      • Bút Thép VN says:

        Vì tự do dân chủ mà Đàn Chim Việt cho đăng tất cả mọi ý kiến, có vậy ông Cường Vu mới biết khả năng của mình còn khá hơn nhiều người khác, nhất là thấy được Lưu vong cờ vàng là tên lưu manh, dốt nát.

        Ông Cường Vu nên cám ơn ĐànChim Việt mới phải chứ.

  4. Hồng Lĩnh says:

    Cụ Quách Tòng Đức vừa qua đời tại Pars ngày 25/11/2012.
    Thêm một nhân chứng của biến cố lịch sử 1963 ra đi.
    Nguyện chúc cụ đựợc an nghỉ bình an.

    R.I.P

  5. John Dinh says:

    Cho dù có bất cứ điều gì đã xảy ra và đứng ở bất cứ góc độ nào để đào xới và phê phán. Miền Nam VN 9 năm dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa là chín năm bình yên và những giá trị truyền thống có cơ hội được gìn giử,trân trọng và nảy nở nhất. Trong bối cảnh hỗn mang của buổi sơ giao thù trong, không phải chỉ có sự đe dọa của CS mà còn phài đối phó với tình trạng nghèo đói,chia rẽ và bất tuân của thập nhị sứ quân các giáo phái, và giặc ngoài của 50 năm trước..Nếu sự lãnh đạo của TT.NĐDiệm chưa hoàn chỉnh về dân chủ,về dân sự,về công bằng và bình đẳng thì đó cũng là điều dễ hiểu và nên dành cho ông sự khoan dung.
    Nếu so sánh những bất ổn,tha hóa và tụt hậu của 12 năm sau đó thời Đệ Nhị Cộng Hòa và 37 năm quê hương thống nhất vẫn xác xơ,nghèo đói,bất công dưới sự lãnh đạo của đảng CS thì rõ ràng với 9 năm phôi thai,TTNĐDiệm đã đóng xong vai trò của mình cho lịch sử VN.

  6. Tu Song says:

    Theo ông Quách Tòng Đức và ông Lâm Lễ Trinh thì :”TT Diệm không chiụ ra lệnh cho một số đơn vị võ trang trung thành phản công quân đảo chánh vì muốn tránh cảnh nồi da xáo thịt, làm suy giảm tiềm năng kháng cộng.” (Hết trích). Tuy nhiên, theo Nhật ký Đỗ Thọ (trang 207), người theo sát ông Diệm cho đến phút chót, và rất tông sùng ông Diệm, thì tại nhà Mã Tuyên ở Chợ Lớn, ông Diệm đã dùng máy truyền tin siêu tần số đặt gần nhà Mã Tuyên liên lạc với quân đội phòng thủ dinh Gia Long và kêu gọi các tướng lãnh đem quân về cứu tổng thống. Nên tin ai nhỉ? Ngoài ra, trong cuộc đảo chánh trước đó (11-11-1960), ông Diệm phỉnh các ông Vương Văn Đông và Nguyễn Chánh Thi, rồi gọi quân về phản công, dẹp đảo chánh. Vậy ông Diệm có sợ làm giảm tiềm năng quân đội không?
    TS

    • Trường Giang HN says:

      Nói có sách mách có chứng.
      Sẽ rất cám ơn, nếu bạn Tu Song dẫn link:

      “Nhật ký Đỗ Thọ (trang 207), người theo sát ông Diệm cho đến phút chót, và rất tông sùng ông Diệm, thì tại nhà Mã Tuyên ở Chợ Lớn, ông Diệm đã dùng máy truyền tin siêu tần số đặt gần nhà Mã Tuyên liên lạc với quân đội phòng thủ dinh Gia Long và kêu gọi các tướng lãnh đem quân về cứu tổng thống”.

      Hoặc là trích dẫn một đoạn dài để có thể phối kiểm.

Mục phản hồi đã đóng