|

Lịch Sử Quân Sử Việt Nam Ngày 30/04/1975

V. Ý Nghĩa Lịch Sử Của Hai Cuộc Chiến:

Quyết tâm chiến đấu của thời nhà Trần qua… nghiêm lịnh không được đầu hàng kẻ thù, nghiêm lịnh đó nội dung như sau: «Phàm các quận huyện trong nước, hễ có giặc ngoài đến, thì phải liều chết cố đánh; nếu không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, chứ không đón hàng».

Vị vua Phật tử Trần Nhân Tông với lời thề “phải đánh của toàn dân trong hội nghị Bình Than và Diên Hồng cũng như sự cương quyết không “đón hàng” quân thù đã đem lại mùa xuân huy hoàng, sáng lạng nhất cho lịch sử dân tộc năm 1285 và năm 1288.

Nhà Trần quan niệm những kẻ đầu hàng là phản quốc. Đồng thời số phận những kẻ đầu hàng quân thù là phải bị xử chết, như trường hợp Thượng vị Chương Hiến Trần Kiện.

Tuy nhiên, sau khi chiến thắng quân thù, chỉ mấy ngày sau vì lòng từ bi vua Nhân Tông đã ra lịnh ân xá người có tội trong cả nước, kể cả những người đầu hàng quân Nguyên. Ngoài ra còn giảm thuế và tạp dịch cho những nơi bị chiến nạn. Thượng hoàng Trần Thánh Tông còn ra lịnh đốt hết tất cả những văn kiện của các nhân vật đầu hàng kẻ thù.

Vị vua Phật tử thứ hai là Dương Văn Minh với quyết định “đầu hàng đã đem lại hậu quả khôn lường với mùa đông đen tối, tủi nhục và kinh hoàng cho dân tộc từ năm 1975 cho đến nay.

Chưa hết, với quyết định đầu hàng này là một đòn nặng nề giáng vào nền văn minh của tộc Việt trước sự xâm thực khủng khiếp của đoàn quân Bắc xâm Việt cộng. Hơn nữa đã triệt tiêu hoàn toàn vùng đất dung thân cho các tập thể người Việt quốc gia dân tộc.

Sự xâm thực khủng khiếp này có thể so sánh với thời kỳ Vương triều của Hai Bà Trưng bị bại trước sự tấn công của Mã Viện. Vào lúc đó… “Dưới sự điều khiển của hai chị em bà Trưng, quân Hán đã bị đuổi ra khỏi biên giới. Để trả thù sự thất bại ấy, vua Tàu đã gởi vào năm 43 s.cn nhiều đội quân do tướng Mã Viện chỉ huy để chinh phục lại xứ này. Theo sử chép, một trong những đạo quân đã vượt xuống miền châu thổ Thanh Hóa, dọc theo lưu vực sông Mã, nơi vị trí của làng Đông Sơn. Chắc hẳn lúc ấy làng Đông Sơn đã bị cướp bóc và thiêu hủy. Cuộc chém giết rất ghê tởm. Hàng ngàn người bị giết hay bị bắt làm nô lệ. Một vài lãnh tụ với một nhóm đồng ngũ cũng đã chạy thoát. Biến cố lịch sử ấy đã đánh một đòn rất nặng vào nền văn minh Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam… Nhưng nếu văn minh Đông Sơn đã bị suy sụp tại Bắc Việt vì cuộc xâm lăng của quân tàu, nó vẫn còn sống sót lại ở nơi khác trong khu vực Đông Nam Á, nhất là nơi các cư dân miền núi”. Theo Việt Nam Carrefour de peuples et de civilisations trang 1648-1651, Olov Janse ed France Asie.

Trong lịch sử của tộc Việt, có ba lần bị diệt chủng văn hóa quan trọng nhất, khi đất nước bị quân xâm lược Bắc phương chiếm đóng.

Lần thứ nhất, vào năm 43 như trên đã đề cập

Lần thứ hai, vào năm 1407 khi quân Minh đánh bại nhà Hồ. Lúc đó quân Minh xâm lược đã tịch thu tất cả tài liệu, thư khố của Đại Việt mà đem về Kim Lăng cũng như bắt đi những nhân tài nước ta đem về Tầu phục vụ cho chúng.

Lần thứ ba, vào ngày 30/04/1975. Khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng đạo quân Bắc xâm Việt cộng đã tạo điều kiện thuận lợi và mở đầu cho thảm nạn diệt chủng văn hóa lần thứ ba của tộc Việt. Quân Bắc xâm Việt cộng đã tịch thu, tiêu hủy văn hóa dân tộc của Việt Nam Cộng Hòa, còn những nhân tài trong các lãnh vực khác nhau, người bị tù đày, kẻ thì bị thủ tiêu, lớp khác thì bỏ chạy khỏi xứ. Thảm trạng còn kinh khủng hơn thời quân xâm lược nhà Minh chiếm đóng Đại Việt năm 1407.

Tuy rằng, vùng đất dung thân của các lực lượng quốc gia dân tộc đã bị Dương văn Minh triệt tiêu, nhưng tinh thần quốc gia dân tộc đã được di chuyển sang những vùng đất khác ở bên ngoài đất nước Việt Nam. Và sau 35 năm tinh thần này đã thành công và nở rộ trên toàn thế giới qua những hoạt động đa phương của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Từ các lãnh vực văn hóa, giáo dục, kinh tế, chính trị, khoa học, quân sự v.v… đâu đâu cũng đều ghi nhận sự thành công vượt bực của những người Việt Nam yêu nước chống độc tài cộng sản.

Sau ngày 30/04/1975, những thảm họa sau đây đã đến với tộc Việt:

- Sau khi chiếm Sài Gòn quân Bắc xâm Việt cộng đã cướp 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa do phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo trao tay. Rồi đổ cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đem đi ngoại quốc.

- Ngày 10/05/1975, quân Bắc xâm Việt cộng tập trung Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong chính sách “tập trung cải tạo” thực tế là đi tù. Hàng trăm ngàn người đã bị đày ải trong các trại tù từ Nam chí Bắc; trong số đó có những người đã bị chết trong các trại tù do bịnh tật, do sự trả thù, do sự vượt thoát không thành và bị hạ sát. Con số có thể lên đến hàng ngàn, hàng chục ngàn người bị chết trong các trại tù trá hình từ Nam chí Bắc.

- Ngày 14/08/1975 Đại tá Hồ Ngọc Cẩn tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện bị Việt cộng hành quyết.

- Từ ngày 02/09 đến 27/12/1975, Việt cộng hành quyết 7 sĩ quan và viên chức hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa ở trại tù Suối Máu, tỉnh Đồng Nai.

- Ngày 18/09/1975 đổi tiền lần thứ nhất.

- Ngày 10/11/1975 chiến dịch đánh tư sản mại bản lần đầu do Nguyễn Hữu Thọ cầm đầu.

- Ngày 22/12/1975 Việt cộng tiến hành thống nhất hai miền Nam Bắc và chính thức khai tử Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (một bình phong, con cờ trong âm mưu thôn tính miền Nam) bằng cách chỉ xử dụng lá cờ đảng sao vàng làm “quốc kỳ” cho nước Việt Nam thống nhất.

- Từ 02/01 đến 13/08/1976, quân chiếm đóng Việt cộng xử tử hình 17 sĩ quan và viên chức hành chánh VNCH ở trại tù Suối Máu, tỉnh Đồng Nai.

- Ngày 12/02/1976, Việt cộng tấn công nhà thờ Vinh Sơn ở Sài Gòn và giết 3 vị linh mục. Một số thành viên của tổ chức Liên Tôn bị bắt, trong đó có Linh mục Quang Minh.

- Ngày 12/03/1976, Trần Văn Phác, bộ trưởng thông tin Việt cộng ra lịnh tịch thu, tiêu hủy “sách báo đồi trụy, phản động” ở miền Nam Việt Nam. Đây là lần thứ ba đạo quân Bắc xâm diệt chủng văn hóa của tộc Việt.

- Ngày 05/06/1976, Trần Trọng Tân, trưởng ban khoa giáo thành ủy Sài Gòn ra thông báo tổ chức các khóa học chánh trị cho giới văn nghệ sĩ miền Nam, và sau đó là những đợt truy lùng bắt bớ văn nghệ sĩ trên toàn miền Nam.

- Từ khi sài Gòn bị thất thủ, hàng ngàn, hàng vạn người dân Việt đã liều mạng bỏ xứ ra đi. Họ dùng đủ mọi phương tiện, bằng tàu bè, bằng đường bộ để vượt thoát ra khỏi chế độ Cộng sản Việt Nam. Do đó đã đưa đến cao trào vượt biển vào năm 1979. Có những người may mắn đến được bến bờ tự do, rồi được định cư ở một nước thứ ba; nhưng có những người vượt biển khác đã để xác thân lại dưới lòng biển sâu; và có những người phụ nữ Việt Nam bị hải tặc Thái Lan cưỡng bức, rồi hoặc giết, hoặc bắt đi đem bán cho các nhà “tiếp khách” ở Vọng Các. Con số nạn nhân vượt biển tìm tự do lên đến khoảng 1 triệu 500 ngàn người. Và con số người đến được bến bờ tự do, không dưới 3 triệu người, định cư rải rác trên thế giới từ Mỹ sang Âu.

- Ngày 26/12/1978, quân Bắc xâm Việt cộng xua 200 ngàn quân xâm lăng Cao Miên.

- Ngày 17/02/1979, Tầu cộng xua hơn 500 ngàn quân tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.

Và 35 năm sau…30/04/2010

Tập đoàn An Nam đô hộ phủ ở Hà Nội, đã và đang từng bước hiến dâng đất nước và tộc Việt cho Tầu cộng để đổi lại ủng hộ cho sự tồn tại của đảng cộng sản Việt Nam. Từ Hoàng Sa, Trường Sa, Bản Giốc, Ải Nam Quan, Núi Đất, Vịnh Bắc Bộ, Bauxit Tây nguyên vào tay quân Tầu cộng mà họ không phải tốn một viên đạn nào.

Cung cách hành xử “từ bi”, “đầu hàng” của Đại tướng Tổng thống Dương Văn Minh đã không đúng nghĩa với Phật giáo. Núi xương, sông máu và lắm oan hồn vất vưỡng đã diễn ra theo quyết định của vị tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa.

Đại tướng Tổng thống Dương Văn Minh đã hành xử theo cách của một người làm việc lâu năm cho đoàn quân Bắc xâm Việt cộng (*).

Động cơ cộng tác với kẻ thù của Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc và Đại tướng Tổng thống Dương Văn Minh có điểm tương đồng lớn là bất mãn đối với vị lãnh đạo đất nước, sau đó manh tâm trả thù bằng cách cộng tác với quân xâm lăng. 35 năm sau khi miền Nam thất thủ, lại có thêm Nguyễn Chí Vịnh tiếp nối con đường của Ích Tắc và Văn Minh.

Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc, Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đem quân lính đầu hàng nhà Nguyên ngày 15 tháng 3 năm Ất Dậu (1285). Trong quyển sử Toàn Thư cho biết con người của Ích Tắc và sự đầu hàng nhà Nguyên của nhân vật này đã có nhân duyên từ trước, phải nói từ đời trước khi Ích Tắc đầu thai làm con vua Thánh Tông. Ích Tắc là hoàng đệ của vua Trần Nhân Tông, so về tài thì Nhân Tông và Ích Tắc không ai thua kém ai, nhưng về mặt đức độ của người con lớn (Nhân Tông) hơn hẳn đứa con thứ (Ích Tắc). Ích Tắc tự phụ nghĩ rằng mình có tài hơn hẳn Nhân Tông tại sao phụ vương (vua Thánh Tông) không truyền ngôi cho mình lại phân biệt trưởng thứ như thế, nên sanh tâm bất mãn và tìm cách hợp tác với quân thù để cướp ngôi báu về cho bản thân mình. Đoàn quân Mông-cổ của Thoát Hoa bị bại trận dưới tay của quân dân nhà Trần, và mộng làm vua của Ích Tắc cũng tan tành theo mây khói.

Kết quả Trần Ích Tắc bị chết già trong sự hỗ thẹn ở đất Tầu.

Khi Dương Văn Minh bắt được Lê Paul (con ruột của Bảy Viển), khai thác lấy tiền và sau đó là vàng, bạc. Lê Paul về sau bị bắn chết với lý do chạy trốn, nhưng ai cũng biết y bị giết để bịt kín nội vụ .

Số tài sản tiền, vàng bạc nầy Dương Văn Minh không trình lên trên mà giữ làm của riêng, bị An ninh quân Đội phát hiện và báo cáo, phúc trình nầy qua tay ông cố Vấn Ngô đình Nhu, mở cuộc điều tra, Dương Văn Minh được mời đến trình bày sự kiện, Tổng Thống Ngô  Đình Diệm, để tránh tiếng ” được chim bẻ ná “…và quân tử nên không trách phạt, nhưng không còn tín nhiệm, cho dù có thăng cấp nhưng Dương Văn Minh chỉ giữ các chức vụ “ngồi chơi xơi nước” mà thôi.

Từ đó Tướng Dương Văn Minh bất mãn chính phủ Ngô Đình Diệm nên xoay qua cộng tác với đoàn quân Bắc xâm Việt cộng để tiêu diệt cả hai nền đệ I và đệ II cộng hòa Việt Nam.

Chỉ vì tự ái cá nhân cũng như thù oán cá nhân mà gây nên những cảnh đau thương cho cả dân tộc, bài học ngày trước và hôm nay nó không có sự khác biệt.

Và Dương Văn Minh cũng chết già ở hải ngoại trong sự tránh né gặp mặt với cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản.

Số phận của Nguyễn Chí Vịnh cũng sẽ như Trần Kiện, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Dương Văn Minh mà thôi.

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai thì

Điều nêu trên cho chúng ta thấy rằng, nếu biết dẹp bỏ tự ái cũng như thù oán cá nhân để một lòng lo lắng cho việc nước, người nào, vị Tướng nào làm được như thế mới xứng đáng cho ngàn đời sau kính trọng.

Cho nên

Trăm năm nước chảy đá mòn
Ngàn năm sử sách lưu truyền không phai

IV. Kết Luận:

Cho dù có nói gì đi nữa, mọi chuyện đã xảy ra rồi, không thể nào trở ngược lại được. Tình hình trước mặt của dân tộc Việt Nam vừa phải chống thù trong (tập đoàn An nam đô hộ phủ ở Hà Nội) và giặc ngoài (Tầu cộng phương Bắc), việc phải làm trước tiên là nhận định rõ ràng kẻ thù của dân tộc sau đó mới có thể tìm cách để đối phó.

Kế đó, tùy theo khả năng, phương tiện, vị trí của mỗi người, hãy kiên trì, bền bĩ, cũng như xử dụng trí tuệ sâu xa đấu tranh từng bước để đẩy thù trong và xua giặc ngoài ra khỏi đất nước Việt Nam.

Điều quan trọng làm thế nào hội tụ được nội lực tiềm tàng của dân tộc để chống quân Tầu cộng xâm lược. Cộng đồng Việt Nam tỵ nạn cộng sản, cũng như những người Việt Nam có tinh thần dân tộc ở nội địa đã có lập trường dứt khoát chống Việt cộng bán nước và Tầu cộng xâm lăng.

Riêng đối với những đảng viên cộng sản Việt Nam nào còn tinh thần yêu nước thương dân thật sự hãy mạnh dạn kiến nghị lên trung ương đảng cộng sản để thực thi những điều sau đây:

1/ Hủy bỏ điều 4 hiến pháp về việc độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam.

2/ Ân xá tất cả tù chính trị và bất đồng chính kiến.

3/ Tiến hành tự do ngôn luận, tự do internet, và tự do lập hội.

4/ Trao trả linh quyền cho người chết và nhân quyền cho người sống như Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang đã đề nghị cách đây nhiều năm.

5/ Bỏ hẳn hình tượng của hồ chí minh, không cần phải xưng tụng y nữa, vì con người này là gián điệp Tầu cộng trà trộn vào trong đảng cộng sản Việt Nam để tiến hành cuộc chiến tiêu diệt tộc Việt.

Nếu quý vị (đảng viên cộng sản) nào thấy khó khăn trong việc kiến nghị đối với trung ương đảng, thì hãy tự động thực hiện việc đó nơi địa phương cai quản của mình.

Làm được những điều trên thì sự kêu gọi hóa giải hay hòa giải không còn cần thiết nữa.

Hãy can đảm như Bảo Nghĩa Hầu Trần Bình Trọng “Thà làm ma nước Nam, chứ không làm Vương đất Bắc“.

Và sớm thức tỉnh trước khi quá muộn.

Điểm sau cùng, xin mượn trang giấy này để trung chuyển lời thề “phải đánh” cùng kiên quyết không “đón hàng” kẻ thù của quân dân Đại Việt thời nhà Trần đến mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước còn quan tâm đến vận mệnh dân tộc, và chúng ta hãy cùng nhau một lần nữa

Đoạt sáu chương dương độ
Cầm hồ hàm tử quan
Thái bình tu vĩnh lực
Vạn cổ thử giang sơn

Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo, kỷ niệm lần thứ 35 ngày quốc tang, quốc hận của tộc Việt 30/4/1975 – 30/4/2010.

© Trúc Lâm Lê An Bình

Thư mục:

- 55 Ngày và 55 Đêm – Chính Đạo, xuất bản năm 1999 Hoa Kỳ.

- Đời Chiến Binh – Gia đình 81 BCDLLĐB, xuất bản tại Hoa Kỳ.

- Sáng 30/4/1975 Những Đơn Vị Nào Tiến Về Giải Cứu Thủ Ðô Saigon Bỏ Ngõ ? – William Hoang.

- Những Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Hòa – Nguyễn Khắc Ngữ, Tủ sách Nghiên cứu Sử-Địa xuất bản năm 1979.

- Cuộc phản công chớp nhoáng của Liên Đoàn 3 Kỵ Binh ở Đức Huệ – Chuẩn tướng Trần Quang Khôi.

- Chiến dịch hồ chí minh – vi.wikipedia.

- Tháng ba gãy súng – Cao Xuân Huy.

- Hồi kí 25 Năm Khói Lửa – Thiếu tướng Lý Tòng Bá.

- Nam Việt-Nam 1954-1975 Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới – Hoàng Lạc Hà Mai Việt, xuất bản ở Hoa Kỳ tháng 4 năm 1990.

- Việt Sử Toàn Thư – Đại tá Phạm Văn Sơn.

- Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập – Tiến sĩ Nguyễn Đức Phương. Làng Văn xuất bản năm 2001.

- Thiên tài Quân Sự Trần Nhân Tông – Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo.

(*) Tiểu sử Dương Văn Minh, tài liệu mật của Việt cộng, được đăng tải trên các trang take2tango.com, haingoaiphiemdan.com…

Thân thế và gia đình Ông Dương Văn Minh

Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Thọ Cha là ông Dương Văn Huề, khi đi học mướn lấy tên là Dương Văn Mau (tên của người bà con), làm thầy giáo, sau làm tri phủ, rồi đốc phủ sứ (hàm)

Ông Dương Văn Huề (gốc Hoa) và bà Nguyễn Thị Kỹ có bảy người con: bốn trai, ba gáị Ông Minh là con cả. Dương Thanh Nhựt là con trai kế, có tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám (năm 1944) và suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, là Thiếu tướng Quân đội nhân dân VN. Dương Thanh Sơn, em trai thứ năm, là Đại tá Quân đội VNCH .

Gia đình ông Minh theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp.

- Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sĩ quan dự bị của Pháp. Năm 1942 vào quân đội Pháp.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư về Chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp. Năm 1946, Dương Văn Minh là thiếu úy, đại đội phó quân đội Pháp.

Lần lượt lên đến cấp tá, rồi qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên của quân đội “VNCH”.

Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, sợ phải giết người. Thấy ai bị nạn thì ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi Thị Mè một chiến sĩ điệp báo là thiếu tá quân đội VNCH bị tình nghi hoạt động cho “VC” được thả ra; giúp ông Nguyễn Minh Triết cán bộ của ta bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù…

- Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30.4.1975, ông được về nhà (98 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư cách một “công dân của một nước độc lập” (2). Đời sống khó khăn, ông lại bị bệnh tiểu đường, bị đau dạ dàỵ Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ trợ ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị sống được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”.

Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị bệnh và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Saigon đề nghị Bộ Ngoại giao Pháp giúp ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ chối, nói rằng “đã có Chính phủ VN lo rồi”.

Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, ông không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.

+ Quá trình binh địch vận đối với Tướng Dương Văn Minh

Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 1959, với nhiều lực lượng, nhiều ban ngành tham gia: Binh vận Trung Ương Cục, Tình báo, An ninh T4 (Saigon – Gia Định), Trí vận…

1. Ban binh vận Trung Ương Cục miền Nam

Năm 1960, theo yêu cầu của Ban binh vận Xứ ủy Nam bộ (sau này là Trung Ương Cục miền Nam) Ông Võ Văn Thời, Cục trưởng Cục địch vận Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân VN đề nghị và được cấp trên đồng ý điều động Trung tá Dương Thanh Nhựt (3) về Cục để giao nhiệm vụ về miền Nam vận động Dương Văn Minh. Trung tá Nhựt được đặt bí danh là Mười Ty.

Cuối tháng 12.1960, Trung tá Mười Ty lên đường.

Tháng 8.1960, đồng chí Mười Ty móc được với gia đình, trước hết là với ông Nguyễn Văn Di, cậu ruột; qua cậu, móc vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty thăm em trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội VNCH và em thứ tám là Dương Thu Vân.

Thấy tình hình thuận lợi, Mười Ty hướng dẫn cán bộ mật đem ý kiến của lãnh đạo trao đổi với Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong lúc Tướng Minh đang bực tức Ngô Đình Diệm, phủ nhận công lao của mình (tảo thanh Bình Xuyên và các giáo phái Hoà Hảo). Tướng Minh hứa sẽ tìm cách làm.

Ngày 01.01.1963, Trung tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng phát lệnh đảo chính Chính phủ TT Ngô Đình Diệm và lên làm Quốc trưởng VNCH lần thứ nhất. Đồng chí Mười Ty nắm được ý định Tướng Minh chuẩn bị đảo chính Diệm và có báo cáo về Ban binh vận Trung Ương Cục.

Sau cuộc đảo chính TT Ngô Đình Diệm một thời gian, đồng chí Mười Ty có vào nhà Dương Văn Minh (98 Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó qua nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với Dương Văn Minh, đồng chí Mười Ty cho rằng Tướng Minh trước đây mơ hồ về Mỹ là tên xâm lược, nay thì hết tranh cãi về điều này, nhưng vẫn còn cho là Mỹ có giúp đỡ miền Nam. Tướng Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược, cho nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà.

Trong thời gian làm Quốc trưởng lần thứ nhất. Dương Văn Minh có một số hành động tiến bộ có lợi cho cách mạng:

+ Quyết định hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge hỏi Dương Văn Minh vì sao làm thế? Ông trả lời, đại ý: Người VN có phong tục tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả ông chạ Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó tôi giải tán ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình.

Nhờ quyết định của Tướng Minh, Quân đội cách mạng đã giải phóng 1/3 lãnh thổ VNCH.

+ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt mất mùa, người dân sẽ đói… Dương Văn Minh lắc đầu từ chối.

Tháng 1.1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A (hoạt động gián điệp, biệt kích chống miền Bắc). Dương Văn Minh không trả lời.

+ Theo lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4) Dương Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do, thực hiện một chế độ trung lập, lập Chính phủ liên hiệp. Nhưng Mỹ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập.

- Do những chủ trương và hành động của Dương Văn Minh không theo đúng “Bắc tiến” của Mỹ, theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Johnson, và gây bất mãn cho các tướng lãnh quân đội VNCH . 30. 01.1964, Tướng Nguyễn Khánh tiến hành chỉnh lý lên làm Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ Cộng Hòa VN bằng một cuộc đảo chính. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay CS”.

Mỹ thấy Dương Văn Minh có hậu thuẫn ở miền Nam, ( Nhóm Phật giáo của Thượng toạ Thích Trí Quang) nhưng khó điều khiển nên yêu cầu Chính quyền VNCH phong Dương Văn Minh làm đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài Loan. Mỹ mời ông Minh qua Mỹ một thời gian rồi cho lưu vong ở Thái Lan (từ đầu năm 1965) có sự giám sát của CIA.

Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, đồng chí Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là Dương Thu Vân qua Pháp.

Có thời gian Mười Ty ở nhà Dương Minh Đức (con trai Dương Văn Minh). Được biết, khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng vì bọn CIA bảo trung tá Đẩu (sĩ quan tùy viên của Tướng Minh) kêu ông Minh về Thái Lan, nên không ở lâu hơn được nữa.

Khi chị Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là ông Minh không thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua em (Dương Thu Vân) và cháu (Dương Minh Đức) truyền đạt ý kiến của cấp trên cho Dương Văn Minh. Sau đó Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành phần là khó lắm, cần đánh cho văng Nguyễn Văn Thiệu, Mỹ phải rút đi là hết chiến tranh. Tôi có ra làm chính phủ ba thành phần khi bầu cử thì ông Thọ (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) cũng thắng cử, tôi có thất cử cũng không nghĩa lý gì, miễn có lợi cho đất nước là hơn”. Dương Minh Đức nói thêm: Ba cháu không còn lực lượng, không biết làm chính trị, không giỏi bằng ông Thọ; ra ngoài (ra khu) lúc này là không có lợi, ở trong này khi cần có lợi hơn…

Sau đó, đồng chí Mười Ty về Hà Nội, được Tổng bí thư Lê Duẩn gặp và mời cơm (với đồng chí Võ Văn Thời). Sau khi nghe đồng chí Mười Ty báo cáo đầy đủ chuyến đi công tác ở Pháp, TBT Lê Duẩn khen và nói: “Dương Văn Minh trả lời như vậy là thành thật, nói như vậy là làm được, chứ hứa hết có khi không làm được…”

Cuối năm 1970,… theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận vận động Dương Văn Minh. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của ta trong sĩ quan là bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành (tức Tám Vô Tư), bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh.

Tháng 3 và 4.1975, đồng chí Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh. Sau khi TT Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đồng chí Tám Vô Tư gợi ý ông Hạnh nên tiếp cận và vận động Dương Văn Minh nếu lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc cuộc chiến có lợi cho nhân dân.

Khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28.4.1975, từ Cần Thơ, ông Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Saigon gặp Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng. Với các cương vị này, ông Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Saigon “án binh bất động”, tan rã tại chỗ, không nổ súng và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao chính quyền cho cách mạng.

2. Thâm nhập vào “nhóm Dương Văn Minh”

Tháng 9.1972, Ban An ninh T4 (Thành phố Saigon – Gia Định) thành lập Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng điệp báo bí mật trong một số đối tượng, trong đó có lực lượng thứ ba, đặc biệt là “nhóm Dương Văn Minh”… (các thành viên bộ tham mưu nhóm Dương Văn Minh, ban biên tập bản tin nội bộ nhóm Dương Văn Minh, thư ký tòa soạn báo Điện Tín, báo Đại dân tộc…).

Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trưởng Ban An ninh T4, chỉ đạo A10 tìm cách thâm nhập vào lực lượng thứ ba và nhóm Dương Văn Minh để tác động, vận động lực lượng này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền TT Nguyễn Văn Thiệu.

Thời gian này, Cụm điệp báo A10 tiếp cận, sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) ở luôn trong nhà Dương Văn Minh; tham gia viết và in tuyên cáo “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ chức (Tổng thống).

Ngày 01.3 và cuối tháng 3.1975, Chiến sĩ điệp báo Huỳnh Bá Thành (lần sau có thêm các chiến sĩ Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề…) vào căn cứ báo cáo với đồng chí Mai Chí Thọ (Bí thư thành ủy), Trần Thanh Vân (Phó trưởng Ban An ninh T4). Đồng chí Mai Chí Thọ chỉ đạo: “…Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.

3. Tác động vào Chính phủ Dương Văn Minh

Cụm điệp báo VĐ2 thuộc phòng tình báo chiến lược M22, cục tham mưu Miền cũng có chỉ đạo vận động tác động nội các Dương Văn Minh đầu hàng thông qua kỹ sư Tô Văn Cang trong những ngày cuối cùng của chế độ VNCH. Theo ông Tô Văn Cang, sáng ngày 28.4.1975, ông Cang đến gặp Đại tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) ở nhà ông Ba Lễ (cơ sở tình báo) hẻm đường Triệu Đà, Saigon, để báo ý kiến của ông Nguyễn Văn Diệp (trong Chính phủ Dương Văn Minh) muốn tìm gặp đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam để xin ý kiến xử trí tình hình Saigon. Đồng chí Sáu Trí phân tích tình hình và “khuyên Chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng vô điều kiện”. Ý kiến này được ông Cang phản ánh lại cho ông Diệp và sau đó ông Diệp có báo cáo lại cho bộ ba Dương Văn Minh – Nguyễn Văn Huyền – Vũ Văn Mẫu.

4. Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị

Sau hiệp định Paris (1973), Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung Ương (tháng 7.1973) đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị”; “mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc Giải phóng gồm mọi giai cấp, tôn giáo, lực lượng hòa bình, độc lập, dân chủ ở miền Nam và Việt kiều ở nước ngoài”.

Năm 1974, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam, đồng chí QuốcHương (Mười Hương), Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban An ninh T4 đã chọn một số thanh niên, sinh viên cài vào hoạt động trong lực lượng thứ ba. Trên thực tế thì lực lượng ta đã hình thành trước khi có hiệp định Paris qua tổ chức “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do luật sư Trần Ngọc Liễng và nhà tư sản dân tộc (ngành vật liệu xây dựng) Phan Văn Mỹ thành lập tháng 6.1969 với mục tiêu là: đòi các lực lượng ngoại nhập (Mỹ và đồng minh) phải rút khỏi miền Nam, thành lập chính phủ hòa giải dân tộc. Sau đó, lợi dụng lúc Thiệu đi nước ngoài, luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Lực lượng hoà giải dân tộc”. Sau hiệp định Paris, tháng 02.1974, nhóm luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Tổ chức nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris”, xác định mình là lực lượng thứ ba, mục tiêu chính là đòi thi hành hiệp định Paris, Mỹ rút quân, thành lập Chính phủ hoà giải dân tộc.

Thành viên của “nhóm Dương Văn Minh” gồm một số trí thức, dân biểu đối lập, ký giả, tướng lĩnh[1]. Hằng tuần, nhóm họp bàn về tình hình thời sự chính trị (lúc tình hình sôi động mỗi tuần họp hai lần). Cạnh tướng Dương Văn Minh có Văn phòng báo chí. Lúc báo Điện tín bị đóng cửa, “nhóm Dương Văn Minh” ra bản tin bán công khai để phát cho các tổ chức, đoàn thể, báo chí trong và ngoài nước.

-Theo ông Lý Quý Chung (Hồi ký), tuần lễ đầu tháng 4.1975, tướng Dương Văn Minh và “nhóm Dương Văn Minh” đã họp tại Dinh Hoa Lan (nhà ông Minh) bàn và quyết định công bố ý định thay thế TT Nguyễn Văn Thiệu để góp phần chấm dứt chiến tranh.”

5. Phối hợp phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Saigon

Với các khẩu hiệu “đuổi Mỹ, lật Thiệu”, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức Nhóm 3 thành phần DVM, đòi thi hình hiệp định Paris, hòa bình, chấm dứt chiến tranh, đòi dân chủ, cải thiện dân sinh… các cuộc xuống đường diễn ra liên tục, mạnh mẽ thu hút hàng ngàn, hàng vạn người. Như cuộc xuống đường của 200 ký giả Saigon ngày 10.10.1974, ngày “ký giả đi ăn mày” lôi cuốn gần hai vạn quần chúng tham gia đã có tiếng vang lớn cả trong và ngoài nước. Cuộc tuần hành ngày 20.4.1974 của hàng vạn công nhân lao động, sinh viên, học sinh, trí thức, thương phế binh… đòi TT Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hành hiệp định Paris, đòi hòa bình, cơm áo, chống sa thải, chống thuế VAT…, là cuộc đấu tranh lớn nhất từ sau hiệp định Paris.

Sau khi TT Thiệu từ chức, Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay tổng thống, tuyên bố “cương quyết tử thủ dù phải hi sinh đến nắm xương tàn”, đã bị phong trào 3 thành phần do Tướng Minh lãnh đạo Saigon đấu tranh đòi Chính phủ Trần Văn Hương từ chức ngay lập tức. TT Trần Văn Hương trì hoãn việc giao quyền cho Dương Văn Minh, mãi đến ngày 26.4.1975, lưỡng viện quốc hội đã bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống VN Cộng hòa với 147.151 phiếu.

Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày 30.4.1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên kêu gọi Tàu can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay CS Bắc Việt. Ông Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Tàu”.

+ Tướng Dương Văn Minh với 3 ngày làm tổng thống

15 giờ chiều ngày 28.4.1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.

Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân đội, cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc Mạnh, Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng.

Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ trưởng. (Theo ông Lý Quý Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm Bộ trưởng quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh).

17 giờ ngày 28.4.1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất.

Theo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính).

Đêm 28.4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ ném bom dinh Hoa Lan (nhà ông Minh).

Tướng Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại đài phát thanh Saigon trưa ngày 30.4.1975

+ Ngày 29.4.1975

Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi VN trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa bình ở VN.

Đến 16 giờ chiều ngày 29.4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính trị (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã tan rã (trừ bộ phận biệt phái).

Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29.4.1975, phụ tá Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu.

Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn chính phủ cách mạng lâm thời về chủ trương “không chống cự” của Tổng thống Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông báo cho bên trong biết “Saigon không chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến tranh. Theo Luật sư Liễng, Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa hôm đó (ngày 29.4.1975).

Từ chiều và tối ngày 29.4, cũng có một số người tác động Tổng thống Dương Văn Minh hướng “Thành phố để ngỏ”, đầu hàng. Như ông Lý Quý Chung, họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành). Thông qua ông Phan Xuân Huy và ông Đoàn Mai, thượng tọa Thích Trí Quang nói điện thoại trực tiếp với Tổng thống Dương Văn Minh: “còn chờ gì nữa mà không đầu hàng”[2].

+ Ngày 30.4.1975

- 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã di tan ) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sự. Sau đó, ông Minh (cùng các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng (số 7 Thống nhất, nay là đường Lê Duẩn).

Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố này.

- 9 giờ, Tổng thống Dương Van Minh đọc vào máy ghi âm.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh đồng ý có nhật lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh này. Đồng thời tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống trên đài phát thanh.

- 9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam VN để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.

Sau đó, cả các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng.

Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi người (trong Chính phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở thì tùy”.

- 11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Buổi trả tự do cho nhóm Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập tối ngày 2.5.1975

+ Kết luận

1. Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, giác ngộ cách mạng. Từ chỗ lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp đỡ miền Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và đồng minh vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước

2. Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với Miển Bắc vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ ở Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và luật sư Triệu Quốc Mạnh) nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội và cảnh sát; cử một người dân sự (giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chưa đầy một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29.4.1975, đã ra lệnh thả tù chính trị, đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân, không phá cầu v.v..

3. Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực vào Saigon – Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận động, binh địch vận của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự đồng tình, tác động tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không chống cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30.4.1975 là hành động thức thời, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội VNCH .

Hy vọng ban biên tập Take2tango đăng giùm vì sự thật lịch sử cần tôn trọng. Đã đến lúc chúng ta cần biết tại sao có ngày oan nghiệt, nếu chúng ta không nói rõ, chúng ta có tội với dân tộc VN.

Trân trọng

Nguyễn Hùng Kiệt

Cung cách làm việc của Tướng Dương Văn Minh:

Vấn đề chính là những gì ông Dương Văn Minh đã làm trong suốt thời gian phục vụ cho Việt Nam Cộng Hòa .

Theo Cựu Đại Tá Thẩm Phán Lê nguyên Phu với tác phẩm “Trong bóng tối Lịch Sử” thì Dương Văn Minh là một con người TÀN ÁC, DÃ MAN, PHẢN PHÚC, NHIỀU THÚ TÍNH và THAM NHŨNG. (từ trang 431 đến 438 dưới đề mục ; DƯƠNG VĂN MINH thiên cổ tội nhân số 1).

- Tàn ác, dã man, phản phúc, nhiều thú tính : Sự sát hại TT. Ngô đình Diệm và Ngô đình Nhu, Ngô đình Cẫn (Phản phúc, đuổi tận, giết tuyệt ), cách loại trừ Đại Tá Hồ tấn Quyền, Lê quang Tung, Lê quang Triệu… một cách hung hản và tàn khốc .

- Tham nhũng: Đặc biệt nhất là vụ “Kho tàng của Bảy Viển ở Rừng Sát” tịch thu chiến lợi phẩm của Bình Xuyên :

+ Theo Đại Tá Nguyễn hữu Duệ (Kho tàng của Bảy Viển ở Rừng Sát – từ trang 213 đến 226) trên chục triệu ( thời điểm 1955-1956 ) toàn giấy 500$ đựng trong ” 2 sac marin ” đầy ắp, no tròn .

+ Theo Huỳnh văn Lang ”Nhân chứng Một Chế Độ” dưới đề mục “Ai lấy 2 thùng “fut” vàng, bạc của Bình Xuyên (từ trang 57 đến 70). Dương Văn Minh bắt được Lê Paul (con ruột của Bảy Viển), khai thác lấy tiền và sau đó là vàng, bạc. Lê Paul về sau bị bắn chết với lý do chạy trốn, nhưng ai cũng biết y bị giết để bịt kín nội vụ .

Số tài sản tiền, vàng bạc nầy Dương Văn Minh không trình lên trên mà giữ làm của riêng, bị An ninh quân Đội phát hiện và báo cáo, phúc trình nầy qua tay ông cố Vấn Ngô đình Nhu, mở cuộc điều tra, Dương Văn Minh được mời đến trình bày sự kiện, Tổng Thống Ngô  Đình Diệm, để tránh tiếng ” được chim bẻ ná “…và quân tử nên không trách phạt, nhưng không còn tín nhiệm, từ đó dù có thăng cấp nhưng Dương Văn Minh chỉ giữ các chức vụ “ngồi chơi xơi nước” mà thôi .

+ Theo hai ông Hoàng Lạc và Hà Mai Việt trong quyển ” Nam Việt nam.1954 – 1975 ” trang 249, 2 ngày sau 1/11/1963 Dương Văn Minh lập tức ra lệnh xuất 8 triệu công quỹ xài riêng, và theo Trần văn Đôn trong quyển “Việt nam Nhân Chứng, trang 341, chỉ trong 3 tháng làm Quốc Trưởng, DVM đã chi “mật phí” không giấy tờ chừng minh là 80 triệu.

Số tiền DVM kiếm được đi đâu : giao cho 1 thương gia tên Đoàn Thuận, Giám Đốc hãng dệt Viatexco dẫn con trai y qua Pháp tạo dựng cơ ngơi …. (ngưng trích).

Trên đây chỉ là phần nhỏ những “hoạt động”của Tướng Dương văn Minh chứ chưa đề cập gì đến hành vi chính trị của ông ta, lợi, hại như thế nào với đất nước, dân tộc, mong rằng sẽ trình bày trong 1 dịp khác .

Xung Ho

Pages: 1 2 3 4

1 Phản hồi cho “Lịch Sử Quân Sử Việt Nam Ngày 30/04/1975”

  1. Nguyễn Anh Tuấn says:

    CSVN cần thực hiện 8 việc sau đây trước khi người dân trong nước và ở hải ngoại thật sự tin tưởng vào tiến trình hòa hợp, hòa giải dân tộc:

    1. Trả tự do cho những nhà đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền lập tức và vô điều kiện
    2. Xóa bỏ Điều 4 của Hiến Pháp nước CHXHCNVN vì điều này cho phép đảng CSVN là đại diện duy nhất cho dân tộc Việt Nam với độc quyền lãnh đạo đất nước.
    3. Tổ chức một cuộc tổng tuyển cử mà trong đó những người thật sự có tài và đức được chọn ra để lãnh đạo đất nước lèo lái con thuyền quốc gia. Từ những vị trí then chốt như lãnh đạo đất nước cho đến những vai trò lãnh đạo địa phương cũng như các đại biểu quốc hội phải là người được dân trực tiếp bầu ra chứ không phải do đảng đề cử
    4. Lập ra một chính phủ thật sự là của dân, do dân, và vì dân
    5. Tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người như đã được viết trong Tuyên Ngôn về Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc
    6. Xóa bỏ tất cả các hợp đồng, giao ước, hiệp ước, hiệp định, thoả ước, v.v…với cộng sản Trung Quốc
    7. Tách rời sự điều hành và quản lý của ngành giáo dục ra khỏi sự cai quản của đảng và nhà nước và phải trả lại cho lịch sử những sự thật về HCM và đảng CSVN
    8. Đem xác ông Hồ ra khỏi Lăng Ba Đình và chọn một nơi nào đó để chôn mà không lấn chiếm đất của dân, không cần bỏ công người và của để duy trì, đồng thời cũng không làm thiệt hại đến môi trường

Phản hồi