|

Vũ Hoàng Chương, lạc loài trong cõi nhân sinh

 

 (Viết nhân 100 năm ngày sinh của thi sĩ Vũ Hoàng Chương 1915-2015)

Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương

Khi tiếng kêu đớn đau của thi sĩ Hàn Mặc Tử ở phương Nam chợt vụt tắt, thì vòm trời thi ca đất Việt dường như chỉ còn một Vũ Hoàng Chương đang quằn quại với những vết thương xẻ nát tâm hồn. Thì kỳ lạ thay, từ chính vết thương đang rỉ máu ấy lại vẽ ra một lối đi riêng, một con đường cho thi ca ngay từ buổi đầu đến với thơ mới. Nếu ai đó đã nói, thơ là tiếng nói hồn nhiên trong trẻo của tâm hồn, là tuổi thơ của loài người còn xót lại…thì quả thật với Vũ Hoàng Chương, nó lại là tiếng bi ai được cất lên từ nỗi đau rách nát của linh hồn. Chính vì vậy, thơ ông đã chạm đến tận cùng nỗi đau và sự cảm thông của con người. Để rồi thơ văn Vũ Hoàng Chương không chỉ đóng đinh vào lòng người, mà còn dán chặt tên tuổi ông vào nền văn học nước nhà. Ông viết nhiều thể loại, từ thơ, văn đến cả kịch thơ…Hơn hai chục tác phẩm tuy chưa hẳn đã là nhiều, nhưng chính tư tưởng, hình tượng nghệ thuật mới làm nên chân dung và sự nghiệp sáng tác đồ sộ Vũ Hoàng Chương.

Vũ Hoàng Chương sinh năm 1915 tại Nam Định, trong một gia đình nho giáo. Cha ông là quan tri huyện, mẹ ông cũng hay chữ, yêu văn học và âm nhạc, nên ông được học và tiếp cận với Hán văn từ nhỏ. Sau đó, Vũ Hoàng Chương học tiếp tiếng Pháp và vào học trung học, đỗ tú tài Pháp tại Hà Nội năm 1938. Đang học luật ông bỏ đi làm ngành hỏa xa và in tập Thơ Say đầu tay vào năm 1940. Năm 1941 ông theo học khoa toán, Đại học khoa học Hà Nội. Rồi một lần nữa ông lại bỏ xuống Hải Phòng dạy học và cùng với Chu Ngọc, Nguyễn Bính lập ra Ban Kịch Hà Nội. Năm 1943 ông in tập thơ Mây, rồi theo kháng chiến. Một thời gian sau ông bỏ kháng chiến về thành, rồi di cư vào Nam. Từ đây ông theo nghề dạy học và viết văn làm thơ. Thời gian này, ông viết nhiều, được dịch và in ra nhiều thứ tiếng. Do vậy, tên tuổi ông đến gần hơn với bạn đọc nước ngoài cũng như văn bút quốc tế.

Sau biến cố 30-4-1975 ông bị bắt vào tù và mất ngay sau đó vào tháng 9 năm 1976.

Có thể nói, Vũ Hoàng Chương là nhà thơ lớn của dân tộc. Nếu nhìn lại văn học sử, ta có thể thấy: Sau sự cổ vũ của các cụ Phan Khôi, Nguyễn Văn Vĩnh… Vũ Hoàng Chương góp phần không nhỏ, cùng với những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nguyễn Nhược Pháp, Xuân Diệu, Huy Cận…mở đường, tiên phong cho phong trào thơ mới từ những thập niên đầu của thế kỷ hai mươi. Thơ ông sang trọng, giàu nhạc tính, tuy cách tân mà vẫn mang mang hoài cổ.

Tập Mây (in năm 1943) và Lửa Từ Bi (năm 1963) có thể chưa phải là những thi tập hay nhất của Vũ Hoàng Chương, nhưng với tôi, nó là hai tập thơ tiêu biểu nhất cho từng giai đoạn, tư tưởng cũng như thi pháp sáng tác của ông.

*Men khói “ba mươi năm” sầu dựng mộ.

Vũ Hoàng Chương xuất hiện vào thời kỳ cuối của phong trào thơ mới bằng tập Thơ Say. Nhưng phải đến thi tập Mây (năm 1943) tên tuổi ông mới được khẳng định trên thi đàn. Và tập thơ này đã làm rung động giới thưởng ngoạn, bởi giọng điệu thơ khác hẳn với những thi sĩ cùng thời.

Thật vậy, khi đọc và và nghiên cứu sâu về thơ Vũ Hoàng Chương, tôi mới chợt nhận ra cái tôi, cái riêng biệt trong thiên tình sử của ông, sao mà nó khác với những tuyên ngôn tình yêu, dành cho hội trường, đọc nơi đông người như trong thơ tình Xuân Diệu đến vậy. Với khoảng cách, sự trái ngược này, chỉ có cảm thụ của cá nhân người đọc mới có thể tự so sánh rạch ròi. Nếu được phép gắn ông hoàng, bà chúa cho thơ (tình) như người ta vẫn thường làm, với tôi chắc chắn vương miện đó phải được trao cho Vũ Hoàng Chương.

Sinh ra, lớn lên trong gia đình quyền quí, nhưng cuộc sống, tình yêu Vũ Hoàng Chương luôn tuyệt vọng, chán chường. Để tự thoát ra khỏi cuộc sống bơ vơ nơi địa ngục: “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa/ Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh” ông đã treo hồn mình lơ lửng giữa vòm trời thi ca. Và Vũ Hoàng Chương không chỉ lạc loài giữa cõi nhân sinh hiện hữu này, mà chính linh hồn ông cũng lạc khỏi thân xác mình. Do vậy, đọc Vũ Hoàng Chương, ta có cảm giác thơ ông được chiết ra từ khói thuốc, men rượu trong những cơn chao đảo, thất tình điên loạn.

Vâng! Chỉ có những cơn say ấy mới có thể nhập linh hồn vào với thể xác, để thi nhân đủ can đảm đi đến tận cùng sự thật đắng cay. Đọc thơ ông, vẳng lên tiếng kêu sầu thảm, dường như không phải từ con chữ, mà được vắt ra từ trái tim đang vỡ vụn. Và biết bao đêm trường ấy, nấm mồ sầu thảm đó vẫn được đong bằng nước mắt của thi nhân:

“Là thế là thôi là thế đó
Mười năm thôi thế mộng tan tành
Mười năm trăng cũ ai nguyện ước
Tố của Hoàng ơi Tố của Anh
———————————–

Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu ghi mười hai
Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc
Tố của Hoàng nay Tố của Ai” (Mười hai tháng sáu)
Có lẽ, không có nỗi đau nào bằng sự đổ vỡ, phụ bạc của tình yêu, nhất là trái tim dễ vỡ của thi nhân. Và Vũ Hoàng Chương cũng không nằm ngoài cái qui luật đó “Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp/ Tình mười năm còn lại mấy tờ thư!”. Đứng trước sự bế tắc của xã hội và tình yêu nhà thơ luôn cảm thấy lạc loài, bơ vơ với cuộc sống đang hiện hữu, nên luôn luôn muốn từ bỏ, thoát ly nó, tìm đến cõi mộng ảo địa đàng. Thật vậy! Vũ Hoàng Chương đang trốn chạy, tìm nơi ẩn nấp. Và cứ tưởng rằng, trốn vào men say và khói thuốc, thì sẽ mất đi nỗi đau, sầu nhớ đó, nhưng rượu đã cạn, thuốc đã tàn càng buốt lạnh thêm tâm hồn thi nhân:

“Say đã gắng để khuây sầu lẻ gối
Mưa, mưa hoài rượu chẳng ấm lòng đau
Gấm thế nào từ buổi lạnh lùng nhau
Vàng son có thay màu đôi mắt biếc?
Tình đã rời đi riêng mình tưởng tiếc
Thôi rồi đây chiều xuống giấc mơ xưa
Lá, lá rơi nằm bệnh mấy tuần mưa
Say chẳng ngắn những đêm dằng dặc nhớ…”.
(Lá thư ngày trước)

Có thể nói, Mây là tập thơ hay và tiêu biểu về sự bế tắc tình yêu, cuộc sống của Vũ Hoàng Chương. Trong đó, có một số bài, một số câu thơ mới táo bạo đã đạt đến độ toàn bích. Có lẽ, ở thời điểm đó, ngoài Vũ Hoàng Chương không ai dám viết và viết hay được như vậy. Có một điều đặc biệt, đa phần những bài thơ hay của ông đều thuộc thể thất ngôn. Ta hãy đọc lại đoạn trích trong bài Đời Vắng Em Rồi, để thấy rõ sự chia ly và tình yêu đắng chát như vậy, nhưng lời thơ rất đẹp, nhẹ nhàng và trau chuốt:

“…Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai”
———————————-
Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không
Mà đây lòng trắng một mùa đông
Tương tư nối đuốc thâu canh đợi
Thoảng gió trà mi động mấy bông.”
Trong cuộc sống đầy thị phi này, có rất nhiều người có những mối tình đầu đổ vỡ, đắng cay. Nhưng thất vọng sầu thảm, gục mặt vào bồng bềnh men khói, tìm đam mê, khoái cảm, quên đi nỗi buồn dằng dặc như Vũ Hoàng Chương, thì quả thật trong văn học sử đất Việt, (ngoài Hàn Mặc Tử cùng thời) dường như chỉ có nhà thơ, nhà biên kịch Lưu Quang Vũ (có thể) coi là hậu nhân của ông mà thôi.

Vũ Hoàng Chương là người giỏi Hán Văn và chịu nhiều ảnh hưởng Đường thi.

Mỗi lần đọc ông, ta lại thấy hồn cốt của Bạch Cư Dị, Lý Bạch… chợt hiện về. Những Đà Giang, Nghe Hát…đã nối dài thêm mạch chảy Tỳ Bà Hành, một thi phẩm gắn liền với tên tuổi Bạch Cư Dị. Và khi viết, ông sử dụng nhiều từ Hán Việt cũng như hình tượng điển tích, làm cho lời thơ sang trọng ẩn chứa thiền triết hoài cổ. Những nét phương đông cổ kính ấy cho ta cảm giác gần gũi lạ thường.

Tuy sâu sắc như vậy, nhưng thơ ông lại kén người đọc, nhất là tầng lớp bình dân và những người ít am hiểu văn học cũng như (tích tuồng) lịch sử. Đoạn trích trong bài Chân Hứng dưới đây, cho ta thấy rõ điều đó:

“Từ thuở chàng say ôm vũ trụ
Thu trong bầu rượu một đêm trăng.
Nhảy xuống muôn trùng sông quạnh quẽ
Đem theo chân hứng gửi cô Hằng.
————————————-
Ngựa ơi hãy nghỉ chân cuồng khấu
Cho thoả lòng ta nỗi khát khao
Ta chẳng mò trăng như Lý Bạch
Nhưng tìm thi hứng mất đêm nao…

Tình hoa thuở trước xô về đọng
Ơi phiến gương vàng một tối nay.
Ta lặng buông thân trời lảo đảo,
Mơ hồ sông nước choáng men say…”
Cũng là người yêu thích thơ Đường, nên tôi hay tìm đọc những bài cổ thi qua bản dịch của các nhà thơ, dịch giả tên tuổi. Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, tôi đã được đọc từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường qua bản dịch của Tản Đà, sau đó là những bản dịch Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng và một số người khác. Tuy nhiên bản dịch của Tản Đà hay và nhiều người biết hơn cả. Nhưng gần đây tôi mới tìm được bản dịch của Vũ Hoàng Chương. Đọc xong, tôi lặng người, bởi lời thơ thoát, thoáng đạt giữ nguyên thể thơ Đường, nhưng vẫn kéo tâm trạng sầu nhớ nao nao đi đến tận cùng trong lòng người lữ khách. Qủa thật, bản dịch của Vũ Hoàng Chương tôi thích hơn so với bản dịch theo thể lục bát của Tản Đà. Với tôi, đây là tác phẩm (dịch) tuyệt bút của ông. Chúng ta đọc lại dịch phẩm cuả Tản Đà và của Vũ Hoàng Chương, để nhìn nhận so sánh:

“Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” (Tản Đà)

“Xưa hạc vàng bay vút bóng người,
Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mất,
Trắng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!” (Vũ Hoàng Chương)
*Sự giải thoát linh hồn.

Nếu thi phẩm Mây chỉ là những tiếng than trong sự bế tắc cuộc sống,tình yêu, thì đến Lửa Từ Bi là sự giải thoát linh hồn. Điều mà trước đây Vũ Hoàng Chương đã thử nghiệm và kiếm tìm trong kháng chiến. Nhưng con đường giải thoát ấy, không chỉ đắng cay thêm mà còn giết chết cả hồn thơ ông. Những bài thơ, câu thơ ông viết trong thời gian này không hồn vía, nặng tính tụng ca, hò vè hô khẩu hiệu. Có những câu thơ tối nghĩa và mất gốc ” Vì giang sơn quyết bỏ gia đình”. Nhớ Về Hà Nội Vàng Son được Vũ Hoàng Chương viết vào năm 1947, là một bài thơ điển hình như vậy:

“…Năm cánh hoa xoè trên năm cửa ô (…)
Chen tiếng hoan hô, này khẩu hiệu
Muôn năm Chủ tịch Hồ Chí Minh!
Muôn năm người lính già tiêu biểu
Vì giang sơn quyết bỏ gia đình.
Ôi ngày mười chín, ngày sung sướng!
Vạn ước mong dồn một ước mong!
Ôi mùa thu ấy, mùa tin tưởng!
Một tấm lòng mang vạn tấm lòng.”

Nhát dao cắt đôi đất nước và cuộc di cư năm 1954 là bước ngoặt lớn nhất không chỉ cho riêng Vũ Hoàng Chương, mà cho cả dân tộc. Ông thực sự hoang mang trước sự bi đát ấy. Và với ông, lúc này bàn đèn khói thuốc dường như không còn là nơi trú ngụ cho thể xác lẫn tâm hồn. Sự dằn vặt làm ông thao thức và luôn tự hỏi về thân phận con người trong loạn ly. Bài Nguyện Cầu của Vũ Hoàng Chương ra đời trong hoàn cảnh, tâm trạng như vậy. Bài thơ mang hương vị thiền ở thể lục bát. Khi viết bài này, dường như thi sĩ muốn bỏ cái tham, sân, si của con người để đến gần nơi cửa phật. Cả bài thơ như một câu hỏi tu từ: “Ta còn để lại gì không?” nhằm răn mình, răn đời vậy. Đây là bài thơ không chỉ hay nhất trong thi tập Rừng Phong, mà còn là trong số (ít) những bài hay nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông:

“,Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi.
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước, xa xôi dặm về
Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương
Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.
Ðể ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời.
Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu.
Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặc, ta cầu đó thôi!
Ðêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian.
Một phen đã nín cung đàn
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm.”
Đến với Lửa Từ Bi, Vũ Hoàng Chương đã bốc được ngôi mộ sầu thảm ba mươi năm dài dằng dặc (1933-1963) ra khỏi linh hồn. Ông hoàn toàn trở thành con người khác lạ. Ngòi bút của ông đã chọc thẳng vào cuộc sống xã hội đương thời. Đứng trước sự đàn áp bắt bớ tù đày của chế độ đương thời, ông đã đứng hẳn về phía công lý và sự thật. Thi sĩ tìm ra con đường tự giải thoát mình, giải thoát đời. Và ông đang đi từ hiện hữu đến với cái vô thường:

“Rồi đây, rồi mai sau, còn chi ?
Ngọc đá cũng thành tro
lụa tre dần mục nát
Với Thời-Gian lê vết máu qua đi.
Còn mãi chứ! còn TRÁI TIM BỒ TÁT
Gội hào quang xuống tận ngục A-tỳ.”
Ngọn đuốc sống (Bồ Tát) Quảng Đức đã cháy vào lòng thi sĩ, để Vũ Hoàng Chương viết lên (Ngọn) Lửa Từ Bi gửi tình yêu thương con người đến với con người. Bài thơ được chảy ra từ cảm xúc tự nhiên của người thi sĩ, mang một chút hơi hưởng Tế Ca, không phải sở trường viết của Vũ Hoàng Chương. Nhưng nó làm xúc động hàng triệu con tim, không chỉ đóng khung trong đất Việt. Bởi, ngoài giá trị thi ca và thông điệp chỉ có tình yêu mới xóa bỏ được hận thù, khổ đau, nó còn là một lời cảnh tỉnh cho cả chế độ độc tài, độc đảng, gia đình trị, phe nhóm trị. Với tôi, đây là một trong những bài thơ hay nhất, nhân bản nhất trong thơ ca Việt từ một trăm năm nay:


“Lửa! Lửa cháy ngất Tòa Sen!
Tám chín phương nhục thể trần tâm
hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,
Ánh Đạo Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên…
————————————–
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc!
Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi!
Chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên thu tuyệt tác
Trong vô-hình sáng chói nét TỪ-BI .”
Trong cái bi thương ấy, cũng thật may mắn thay, chiến tranh, bom đạn bắt bớ tù đày, thi sĩ Vũ Hoàng Chương chợt nhận ra ngọn Lửa Từ Bi đang ngùn ngụt cháy là nơi ẩn nấp, che chắn duy nhất cho những linh hồn bơ vơ. Sự giải thoát ấy đã phá bỏ cái vòng tròn ba mươi năm luẩn quẩn, từ đó con đường lên cõi Niết Bàn được mở ra trong ông.
Thật vậy, không có chủ thuyết nào, chế độ nào giải thoát được linh hồn con người, ngoài Đạo Giáo:

“…Nghe được từ lâu cá thở than
Hôm nay mới sõi tiếng cây ngàn
Bao giờ tôi hiểu sâu lòng đất
Là thấy đường lên cõi Niết Bàn…”. (Nhị thập bát tú 2)
Trong cái xã hội nhá nhem điên loạn và sự bấp bênh của thân phận con người, tết Bính thìn 1976 Vũ Hoàng Chương trải lòng mình vào Vịnh Bức Tranh Gà Lợn. Đây là bài thơ hay và lạ. Lạ bởi có lẽ ít ai dám đưa tục ngữ, thành ngữ vào trong thơ như ông một cách dân dã và châm biếm như vậy. Đây là bài thơ có tính thời sự cao, dễ thuộc đi vào mọi tầng lớp trong xã hội và lan truyền nhanh ở trong nước cũng như ra hải ngoại. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, vì bài thơ này Vũ Hoàng Chương đã phải vào tù. Tuy nhiên, tôi không nghĩ như vậy, mà đây chỉ là cái cớ, nếu không có bài thơ trên, họ cũng sẽ tìm ra muôn vàn lý do khác để bắt ông. Bởi cái Bóng của Vũ Hoàng Chương quá rộng, quá dày đối với một chế độ nhìn đâu cũng thấy vi trùng sợ hãi, dẫn đến việc ông phải nhập kho là điều không thể tránh:

“Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn, om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có hoạ
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh“

Tôi không rõ bài thất ngôn tứ tuyệt: Dấu Hỏi Vây Quanh Kiếp Người, được thi sĩ Vũ Hoàng sáng tác từ khi nào? Đây là bài thơ có tính thiền triết, đầy hình tượng ám ảnh, cho ta cảm giác rờn rợn khi đọc. Cả kiếp người là một câu hỏi, một câu hỏi trong vòng luẩn quẩn, đến lúc nhắm mắt xuôi tay không lời giải đáp, mà chỉ có tiếng vọng lại khi nắp quan tài sập lại:

“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời.”
Bài thơ này, tiếng vọng kia, phải chăng là câu kết hay lời khép lại của chính cuộc đời thi sĩ Vũ Hoàng Chương?

Leipzig 16-4-2015

Đỗ Trường

23 Phản hồi cho “Vũ Hoàng Chương, lạc loài trong cõi nhân sinh”

  1. Lên Đài says:

    Nick Thắc Mắc viết : “Tôi có đọc comment của ” Lên Đài “. Bạn muốn điều-chỉnh chữ cuối ” người ” trong câu 1, bởi chữ ” ngời “. Chữ ” ngời ” có thể hay, bay-bướm, nhưng tôi e chữ đó không đúng theo : (a) chữ Hán ” Tích-nhân ” – nghĩa là người xưa – (b) Nội-dung của bài nói về chuyện ” người xưa cưỡi hạc bay mất “… .
    Bạn có biết một quasar star không? Một loại sao sau khi đã xử dụng hết nhiên liệu của nó, rồi ngời sáng lên trong vũ trụ lạnh lẽo và tăm tối, rồi nó tự sụp đổ vào trong nó để trở thành một lỗ đen, nhưng nó cách xa qủa đất qúa xa nên chính ra là nó đã tắt cả triệu năm rồi, bây giờ com người mới ghi nhận được vụ nổ đó.
    Chữ “Ngời” thi hào họ Vũ xử dụng quá thơ, quá hay, không còn chữ nào linh độn hơn, hay hơn. Nó làm cho tích truyện như thật và ghi nhận vào hồn người đọc cảnh thần tiên, thơ mộng, diễm ảo một lần mà như mãi mãi. Giống như một quasar star.
    Bạn Nick Thắc Mắc đọc thơ mà chỉ kẹt (Chấp) trên chữ là không bao giờ nắm bắt được hồn thơ, thơ trở thành bất hủ là nhờ hồn thơ. Bài dịch của Vũ thi sĩ còn thơ hơn nguyên tác nhiều và trong nhiều trường hợp nhờ bài dịch mà nguyên tác trở nên giá trị hơn. Đã cảm đưọc ý thơ trong bản dịch “Ngó lơ” bản chánh đi cũng chẳng sao.
    Có 3 chữ trong bài giới thiệu của Đỗ Trưòng cần phải sửa các câu : (Không phải chữ của tôi, mà là từ nguyên tác, tôi nghĩ là từ bản đúng nhất của tác giả)
    Câu 1/ Xưa Hạc Vàng bay vút bóng người . Sửa thành : Xưa Hạc Vàng bay vút bóng ngời
    Câu 2/Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi. Sửa thành : Tây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
    Câu 8/ Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi Sửa thành : Đừng gợi sầu dâng nữa sóng ơi.
    Trong dĩ vãng, có nhà “học giả, tiến sĩ “ Nguyễn Ngọc Bích viết ý kiến trên diễn đàn thường ký tên là Tâm Việt, vì đã quá “Ngộ” chữ nên đã dịch cụm từ “ Bể dâu” ra tiếng Anh là : Mulberry Sea. Và sự kiện này đã gây nên sự đàm tiếu từ đó cho tới bây giờ. Vì đương không một cụm từ mang tính tang tóc thành ra đẹp đẽ, thanh bình, vui mắt hết biết : Cả một biền Dâu xanh đỏ, ngút ngàn đẹp quá chừng chừng.
    Nhưng cho tới nay, chưa có ai chịu dịch (giải thích cặn kẽ) chữ này ra cho văn đàn cả.
    Thế nên nhân cơ hội hôm nay, LĐ tôi xin giải thích cụm từ này cho rõ nghĩa. Để hy vọng từ nay “thị trường văn chương” sẽ hết thắc mắc, đàm tiếu về cụm từ này nữa.
    Đây là chữ viết tắt của thành ngữ hán việt : “Tang điền, thương hải”. Ý nói sự tàn phá của thiên nhiên, hay của chiến tranh từ bàn tay con người trên một diện rộng lớn, một loại MD (Mass destruction) của thời xưa.
    Giải nghĩa văn thì như sau : Sự tàn phá từ vị trí tận ngoài bờ biển cho tới tận cuối chân trời. Nhưng thật ra chữ “bể” nếu chỉ hiểu là sự tan vỡ, và “dâu” có nghĩa là vườn tược ruộng nương thì dịch theo thơ có thể là : “Tàn phá tang thương đến tận cuối trời”. Hoặc : “Tang tóc, thương đau từ biển cho tới tận cuối trời”. Để cho sát nghĩa với thành ngữ gốc cũng được.
    Xin đóng góp vài hàng cho vui cửa vui nhà.

    • Lê Quang says:

      Bài Hoàng Hạc Lâu do VHC dịch, mà tác giả Đỗ Trường đưa ra hoàn toàn chính xác bản gốc- không hiểu sao bác Lên Đài chữa đi thành ra những câu thơ thiếu sức sống- ví dụ giục và gợi nó khác nhau nhiều lắm- Người và ngời- ngời trong câu thơ trở thành vô nghĩa…
      HOÀNG HẠC LÂU
      Xưa hạc vàng bay vút bóng người,
      Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
      Vàng tung cánh hạc đi đi mất,
      Trắng một màu mây vạn vạn đời.
      Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,
      Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
      Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
      Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!”

      • Lên Đài says:

        @Lê Quang: Lên Đài không có sửa một chữ nào trong bài dịch của VHC cả, mà đây là nguyên văn bài dịch mà Đài mỗ biết, xin đối chiếu vì xem kỹ lại thì thấy nhiều chữ khác hơn chứ không phải chỉ có ở 3 giòng :
        HOÀNG HẠC LÂU (từ bản của ĐT) HOÀNG HẠC LÂU (Theo như Đài mỗ biết)
        Xưa hạc vàng bay vút bóng người Xưa Hạc Vàng bay vút bóng ngời
        Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi. Tây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
        Vàng tung cánh hạc đi đi mất, Vàng tung cánh Hạc đi đi mãi
        Trắng một màu mây vạn vạn đời. Trắng một mầu mây vạn vạn đời

        Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu, Cây bến Hán Dương còn nắng chiều
        Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi. Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
        Gần xa chiều xuống đâu quê quán? Gần xa chiều xuống đâu quê quán
        Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!” Đừng gợi sầu dâng nữa sóng ơi.
        Xin nhấn mạnh, bài mà tôi giới thiệu là bài mà tôi đã từng biết, và tôi không có sửa chữ nào cả, riêng chữ “ngời” bạn cho là vô nghĩa, nhưng tôi “cảm” chữ này nhất, tôi cho là nó linh động, nó làm động tác “bay vút” trở nên linh động hơn, và nhất là nó ghi dấu vào hồn (tôi) người đọc hơn những chữ khác, ở vào vị trí này.
        Tôi thấy chữ “gợi” hay hơn chữ “giục”. Nó cho người đọc một cảm giác có sự chọn lựa, có nên tiếp tục quan sát quang cảnh để nhớ nhà hay không? Nó làm cho nỗi buồn trở nên ray rức hơn chữ “giục”, nửa muốn quay đi nửa muốn nhìn, nên nó làm cho câu thơ trở nên sống và linh động hơn cho (tôi) người đọc?
        Bạn thấy bài của ĐT giới thiệu là hay hơn bài dịch mà tôi biết thì cũng không sao cả, mỗi người một ý, và xin chấm dứt nơi đây.

  2. Thắc-Mắc says:

    Cảm ơn tác-giả ĐT đưa ra bài viết này, nhân kỷ-niệm 100 năm ngày sinh của VHC. Có 15 comments, nhưng không giúp gì cho tôi để hiểu thêm về Cố Thi-sĩ VHC, một trong vài thi-sĩ tôi rất thích, cũng như không thấy ai thắc-mắc về tâm-tình của tác-giả bài viết này đối với VHC.
    Tôi có 3 điều trình-bày :
    (1) Tác-giả bài viết này, vì có quá nhiều tình-cảm đối với VHC nên ” thứ gì của VHC ” cũng khen cả. Để ví-dụ, bài ” Hoàng-Hạc-Lâu ” của Thôi-Hiệu đời Đướng cũng đã được dịch thành thơ tiếng Việt không it, và tác-giả bài viết có nêu ra it bài. Tuy nhiên tác-giả cho rằng thơ dịch của VHC là số một. Chúng ta hãy xem nguyên-bản và thử đối chiếu :
    ” Tích-nhân dĩ thừa Hoàng-Hạc khứ
    Thử địa không dư Hoàng-Hạc-lâu
    Hoàng-Hạc nhất khứ bất phục phản
    Bạch-vân thiên-tải không du du
    Tịnh xuyên lịch-lịch Hán-Dương vũ
    Phương-thảo thê thê Anh-Vũ châu
    Nhật-mộ hương-quan hà xứ thị
    Yên-ba giang-thượng sử nhân sầu ”
    Tôi chỉ đơn cử 2 câu của bản dịch mà tác-giả bài viết cho rằng do VHC dịch và cho là số 1, vì tôi vốn không phải giáo-sư quốc-văn như ông bạn tôi là NTD để làm phiền BBT/ĐCV.
    Đó là câu 1, chữ ” Xưa ” dùng theo thể trạng-từ, không sát ý với ” Tích-nhân “. Vai-trò chính không phải ” hạc vàng “, mà chính là ” người đã cưỡi hạc vàng “… Và câu 8, làm sao người dịch thơ nở bỏ mất đi chữ ” yên ba “, nghĩa là ” khói sóng “. Chữ ” yên ” là khói, khói sóng mà Đỗ Mục ( hình như vậy, tôi không nhớ rõ) trong bài ” Bạc Tần-Hoài ” viết ” Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa …”. Hình như các thi-sĩ đó thích và yêu ” yên ba ” lắm – và tôi cũng yêu-thích vô cùng…
    (2) Mong NTD tiếp giùm tôi, nếu tôi có gì thiếu-sót.
    (3) Tôi có đọc comment của ” Lên Đài “. Bạn muốn điều-chỉnh chữ cuối ” người ” trong câu 1, bởi chữ ” ngời “. Chữ ” ngời ” có thể hay, bay-bướm, nhưng tôi e chữ đó không đúng theo : (a) chữ Hán ” Tích-nhân ” – nghĩa là người xưa – (b) Nội-dung của bài nói về chuyện ” người xưa cưỡi hạc bay mất “. Chính vì nội-dung như vậy, mà nếu bài dịch ra thơ Việt – theo tác-giả bài này – là của VHC, thì tôi tiếc riêng cho tôi vì trong tôi, một thần-tượng thi-ca của ” tôi ngày xưa ” sẽ biến mất.

    • Thắc-Mắc says:

      Tôi xin đính-chính đã đánh sai : thay vì ” Hán-Dương vũ “, xin đọc là ” Hán-Dương thụ “

    • THƠ NGÀN says:

      THƠ HAY

      Thơ hay trước phải có hồn
      Còn vần và điệu vẫn còn chưa xong
      Lại thêm ý tứ thong dong
      Tự nhiên như gió mới càng thơ hay !

      NHẠC NGÀN
      (29/4/15)

    • Nguyễn Trọng Dân says:

      Mon men dịch thơ xưa phá phách Thắc-Mắc chơi ….
      *********************

      Lầu Hoàng Hạc

      Dáng xưa, hoàng hạc chở về đâu?
      Giờ sao trơ trọi Hoàng Hạc lầu
      Hạc vàng phiêu lãng không quay lại,
      Mây trắng phiêu diêu mãi trên đầu
      Hán-Dương sông lạnh ôm bóng thụ
      Anh-Vũ cỏ hiền tỏa huơng lâu
      Ngày tàn, THẮC-MẮC đâu quê cũ?
      Khói dâng, sóng gợn réo rắt sầu.
      **************

      hehehehe…. nay ki’nh .

      • Thắc-Mắc says:

        Cảm ơn các bạn reply. Riêng bài dịch của NTD – it nhất là vậy, so với bài dịch mà tác-giả bài này qui cho VHC [tôi không tin lắm], thì rõ-ràng thơ dịch của NTD ” ăn đứt ” về dịch sát và ” có hồn ” hơn [đây là cảm-nhận riêng của tôi, không bởi tình-cảm cá-nhân, cũng không " nịnh " người dịch một cách đãi-bôi đâu].
        Duy tôi có ý-kiến về bài dịch của bạn :
        (1) Câu 1 : ” Dáng ” xưa. ” Dáng ” thể-hiện phần nào ” một người ” tạm gọi là dịch sát-nghĩa. Tuy nhiên suy-gẫm thì thấy ” sáo “. Đó là vì hoàng-hạc ” không chở dáng xưa ” mà chỉ ” chở người xưa “, dù đó là ” tiên “, là ” truyền-thuyết “. Vậy câu dịch của Tản-Đà ” Người xưa cởi hạc đi đâu ” tuy không bay-bướm nhưng rất sát-nghĩa và chủ-động, vì rằng ” người xưa cởi hạc “, chứ không phải ” hạc chở người xưa “.
        (2) Câu 2 : Chữ ” trơ-trọi ” nghe ” bình-dân ” quá. Sao không chon ” cô-quạnh, đơn-chiếc, vắng-vẻ, quạnh-quẽ …
        (3) Câu 4 : Câu 3 ở trên đã dùng ” phiêu-lãng “, câu 4 dùng ” phiêu-diêu ” thấy nên tránh sự lập lại chữ ” phiêu “. Có thể dùng chữ khác như ” loanh-quanh, bơ-vơ, … chăng ?
        (4) Câu 5 : ” sông lạnh ” e không sát nghĩa với ” Tịnh xuyên “, lại còn trái với ý-nghĩa ” lịch-lịch ” theo sau. Có thể dùng ” sông lặng “. Chữ ” sông tạnh ” được nhiều người dùng, nhưng tôi thấy có vẻ ” gượng-ép “.

  3. Kevin To says:

    ÂM HƯỞNG

    “If music be the food of love, play on..”
    - William Shakespeare: Twelfth Night

    Chúng ta có thể viết:
    * Tinh hoa của văn là thơ,
    * Tinh hoa của thơ là nhạc,…

    Người Đức thì có âm hưởng với nhạc Đức, còn người Việt hẳn là có âm hưởng với nhạc Việt, v.v…
    May mắn cho chúng ta, có nhạc của cố thiên tài Trịnh Công Sơn đã tạo “ÂM HƯỞNG” cho nhiều
    người Việt; trong đó, rải rác có một số bài thơ ca của mốt số nhạc sĩ khác cũng tạo “Âm Hưởng”…

    Khi chúng ta một mình thường hát thầm một số bản nhạc mà chúng ta ưa thích,… đó được gọi là “Âm hưởng”.

    Ví dụ như bài “Không tên số 2″, thơ của Nguyễn Đình Toàn được Vũ Thành An phổ nhạc, có đoạn:

    …” Gió thốt trên hàng cây,
    Gió lũ theo đường mây;
    Có yêu, xin những ngày thơ ngây,

    Lúc mắt chưa nhạt phai,
    Lúc tóc chưa đổi thay,
    Lúc môi chưa biết dối cho lời,…”

    Kevin To, USA.

  4. Kevin To says:

    ÂM HƯỞNG

    “If music be the food of love, play on..”
    - William Shakespeare: Twelfth Night

    Chúng ta có thể viết:
    * Tinh hoa của văn là thơ,
    * Tinh hoa của thơ là nhạc,…

    Người Đức thì có âm hưởng với nhạc Đức, còn người Việt hẳn là có âm hưởng với nhạc Việt, v.v…
    May mắn cho chúng ta, có nhạc của cố thiên tài Trịnh Công Sơn đã tạo “ÂM HƯỞNG” cho nhiều
    người Việt; trong đó, rải rác có một số bài thơ ca của mốt số nhạc sĩ khác cũng tạo “Âm Hưởng”…

    Ví dụ như bài “Không tên số 2″, thơ của Nguyễn Đình Toàn được Vũ Thành An phổ nhạc, có đoạn:

    …” Gió hát trên hàng cây,
    Gió lũ theo đường mây;
    Có yêu, xin những ngày thơ ngây,

    Lúc mắt chưa nhạt phai,
    Lúc tóc chưa đổi thay,
    Lúc môi chưa biết dối cho lời,…”

    Kevin To, USA.

    • THƠ NGÀN says:

      THƠ VÀ NHẠC

      Thơ trung hữu nhạc mới thơ
      Thơ trung vô nhạc bơ thờ ra chi !

      Nhà thơ giỏi vẫn khi tự phát
      Ướm hơi thơ liền nhạc đi theo !

      Còn như nếu thứ thơ lèo
      Đố mà tìm nhạc lộn phèo cóc ra !

      Thơ chữ Việt quả nhiều âm hưởng
      Bởi tiếng ta ngất ngưỡng âm thanh !

      Tố Như cao vút trời xanh
      Còn Đoàn Thị Điểm lại thần thi ca !

      Nói chơi thế mà là thật đúng
      Tiếng nước ta hay chẳng đâu bằng !

      Không tin lên hỏi chị Hằng
      Chị Hằng gật lịa phán rằng đúng thôi !

      NON NGÀN
      (27/4/15)

  5. Tien Ngu says:

    Thưa,

    Một nhát dao bay, ngàn thuở đẹp…

    Tính ra thì con nai vàng ngơ ngác số …hên, thành ra đạp trên lá vàng khô mà chạy vào miền Nam, phom phom nhảy cái tọt vào…Văn học Sử.

    Vừa…sướng được tấm thân, vửa…để cho đời xôn xao.

    Thấy ông VHC, mà thương cho người hùng…Quang Dũng. Thơ Quang Dũng, đọc lên, ngu như Tiên Ngu, mà còn nghe được cái dòng máu trong ngươi nó…sôi sùng sục.

    Chỉ tiếc, vì tính…trật, hay vì châm chân, mà…chịu khổ cả một đời…

    Cả hai nhà thơ này, đều được…thi nô chê rề. Các em VN chịu ảnh hưởng giáo dục của…thi nô sau này cũng thế, chỉ có ta là…đỉnh cao trí tuệ, thắng bọn Nguỵ từ A đến Z…

  6. Nguyễn Trọng Dân says:

    Thưa,

    Lời thơ của Vũ Hoàng Chương là “Tiếng Vọng Ngàn Thuơng “, ông kêu lên bằng tấm lòng ray rứt , trải lòng mình trước những bế tắt của thời cuộc :

    “Trải bốn nghìn năm dựng nước nhà
    Sông khoe hùng dũng , núi nguy nga
    “Trả ta sông núi ” bao người trước
    Gào thét đòi cho bọn chúng ta…
    “Trả ta sông núi từng trang sử
    Dân tộc còn nghe VỌNG thiết tha.
    Ngược Vết Thời gian, cùng nhắn nhủ
    KHÔNG ĐÒI , AI TRẢ NÚI SÔNG TA ?!”

    Đoạn thơ trích ở trên là đoạn thơ đầu của trường thi “TRẢ TA SÔNG NÚI” được Vũ thi sĩ cho đăng trong tập thơ Hoa Đăng hình như được Hội Văn Hữu Á Châu Xuất bản tháng Bảy năm 1959 nếu nhớ không lầm.

    Cộng Sản sợ lắm những ai đòi lại quê huơng & cất “Tiếng Vọng Ngàn Thuơng” như ông, nên đã bắt Vũ thi sĩ không xét xử với lý do phản động vào ngày 13 tháng Tư năm 1976 , nhốt vào Khám Chí Hòa , đói khổ khiến ông lâm trọng bệnh mà qua đời chỉ sau năm tháng sau đó , vào ngày 6 tháng Chín cùng năm.

    Thật không ngờ , đoạn thơ chót trong bài trường thi “TRẢ TA SÔNG NÚI” lại ứng vào đời ông , vào dân tộc Việt Nam Cộng Hòa của ông :

    ” “Trả núi sông ta” lời Dĩ Vãng
    THIÊN THU CÒN VỌNG ĐẾN TƯƠNG LAI
    “Trả ta sông núi” câu hùng tráng
    Là súng là gương giữ đất đai…
    Trông lên cao ngất phương trời
    Hồn Thiêng Liệt sĩ CÒN TƯƠI SẮC CỜ.”

    Nay thì Cờ Vàng vẫn lộng lẫy khắp năm châu, vẫn lòng lẫy trong lòng người dân Việt Nam Cộng Hòa từ Nam chí Bắc, lộng lẫy trong cái chết đói nghèo quỵ bệnh của chính ông do Cộng Sản đã gây ra.

    Rest In Peace , My Country Man !

    Ki’nh

    (Merci DCV)

    • Nguyễn Trọng Dân says:

      Thưa ,

      “Là súng là gươm giữ đất đai..”

      Ki’nh

    • THƠ CHƯƠNG

      Thơ Chương thật cũng chẳng hay
      Nhất là trong đoạn thơ này chẳng sai
      Tiếc rằng họ Vũ it tài
      Huy Hoàng cho lắm một thời vậy thôi !

      HƯƠNG NGÀN
      (19/4/15)

      • Tudo.com says:

        Ông Trời.. ơi hởi. . .Ơi Trồng!

        Tài nhiều thì bự bao nhiêu?
        Nổ văng miểng chén ít sao, vẫn còn ?

        Hữu xạ thì Tự nhiên Hương
        Đâu cần phải có xịt mùi. . .Xà Neo?( Chanel )

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Thưa,

        Bác Ngàn lâu lâu hứng chí chơi chữ , bốn câu điều có ba chữ Vũ , Hoàng , và chữ Chương ….cũng là tên của thi sĩ…trên thì nick Ngàn Huơng , dưới thì hoán lại thành Huơng Ngàn…

        Thôi để mạt Dân xin tiếp chưởng…

        Ngàn Huơng tụ ở cõi xa ,
        VŨ thi trút xuống HOÀNG Hà cuộn dâng
        Văn CHƯƠNG là kiếp nợ nần,
        Tuổi đời là thoáng…lân lân Hương Ngàn !

        Nay Ki’nh

      • ĐaoDu! says:

        Chồn HƯƠNG cũng ngỡ mình thơm
        NGÀN ”mơ” thúiđịt, tự bơm HƯƠNGNGÀN!
        TrọngDân vì củacải DÂN
        Dụ DÂN laokhổ để hưởng phần thanhcao!
        Chuá nào cũng chuá tàolao
        ”Sảnphẩmtưởngtượng” để dựa vào mà lừa DÂN!
        Chiên ngu kính sợ chủchăn
        Có ngờ đâu chúng sẽ ăn thịt mình!!!???

    • Tudo.com says:

      @NTrD:

      Sư huynh,
      Nghe người ta đồn, sau khi VC đổi tên đường ở Sàigòn nên ông Vũ Hoàng Chương làm hai câu dưới đây:

      Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý
      Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do

      Có đúng vậy không, huynh?

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Thưa ,

        Chắc là không đúng lắm đâu vì hai câu thơ trên xuất phát từ giới buôn bán chợ trời cũng như giới đạp xích lô ở Sài Gòn sau năm 1975. Theo như ông Thân , nay đã quá cố, nguyên là đệ tử tài xế cho ông Lu-Y , kể lại cho mạt Dân biết thì hai câu thơ trên là của một anh chuẩn úy Biệt Động Quân tên là Tuấn gà , tại anh chàng này trước nhà có làm trại nuôi gà, sau nhà cửa tài sản bị Cộng Sản đánh tư sản cướp trắng, phải đạp xích lô mà sống.

        Nay Ki’nh

  7. Lên Đài says:

    Thơ của Ngàn làm đọc lên tôi thấy không hơn một phát Rắm, nghĩa là nó chẳng có gì là đặc sắc cả. Hay là Ngàn cố tình muốn nghe những phát rắm phản hồi vào tai Ngàn thì Ngàn mới yên tâm sì thơ ra? Rằng ta cũng có “Rắm” (tức là si thơ ra đó) “rễ ràng” có Rắm đây?
    Thơ Ngàn như con muỗi, dám đi chê bai một con chim Phượng hoàng hử?
    Tuy thế, xin đính chính dùm ở câu đầu bài dịch Hoàng Hạc Lâu của Vũ Hoàng Chương :
    Câu đầu tiên là : “Xưa Hoàng Hạc bay vút bóng người” Yêu cầu sửa lại là :”Xưa Hoàng Hạc bay vút bóng ngời”. Nó đúng và có ý nghĩa hơn và hay cho câu thơ hơn.
    Thơ văn là trò chơi của chữ nghĩa, suy tư và trình độ không tới thì đừng có lạng quạng với cao, sẽ bị té đó,
    À, bên bài : “Tháng 3 Thanh Tâm Tuyền…” đang sôi nổi vì bài thơ hay : “Anh Về” đó, Thi Sỡi Ngàn Thơ, nhận là mình làm thơ hay thi hãy thì binh giải nó cho anh nhem thưởng lãm để kỷ niện cho ngày 30 tháng 4 năm 2015 này xem sao? Không bình được thì từ nay chớ có “nếu náo” nữa nghe chưa?

    • Tudo.com says:

      @Lên Đài:

      Trong một bài báo, (hình như) ông Công Tử Hà Đông-Hoàng Hải Thuỷ có kể: Chế Lan Viên, Tố Hữu. . . vào Sàigòn mời Vũ Hoàng Chương đến để đàm luận văn thơ hay “dạy ” thi sĩ họ Vũ thế “lào” là văn chương Thi Thú gì gì đó.
      Bị “nài nỉ ” mãi từ chối không được thi bá VHC bèn “khen” loại Dzăng chương thi Thú của Chó Ngáp Xó Hè một cách thậm tệ. Khi “khen” như vậy, tác giả Hoàng Hạc Lâu thừa biết ông sẽ lên đoạn đầu đài nhưng ông đã chấp nhận!

      Bình thường, người ta thường nói: văn chương là chốn Gió Tanh Mưa Máu. Ở đây VHC lại gặp những tay văn chương Dao găm Mã tấu, khóc ông cố nội Stalin hơn khóc cha chết thì ông phải đi tàu suốt về miền vĩnh cửu là phải thôi!

      Chuyện củ nhớ tới đã sợ, bây giờ thấy những cái “gene” Chó Ngáp Xó Hè của Tố Hủ còn sót lại trên diễn đàn mà. . .ớn lạnh!

  8. NGÀN THƠ says:

    THƠ TIỀN CHIẾN

    Hồi nhỏ ta cũng thích
    Loại thơ tiền chiến này
    Cũng mê say hết biết
    Vũ Hoàng Chương, Nguyên Sa …

    Nhiều khi giờ đọc lại
    Sao chỉ thấy rườm rà
    Thấy phần nhiều giả tạo
    Nên cũng lại xót xa

    Bởi thơ phải nhẹ nhàng
    Phải tự nhiên như gió
    Thơ mà lại bộn bàng
    Muốn thấy hay cũng khó

    Chỉ riêng nhạc tiền chiến
    Ca từ hay như thơ
    Thơ chan hòa trong nhạc
    Nghe cứ phải ngẩn ngơ

    Nên dẫu thơ hay nhạc
    Điều cần nhất thực tài
    Nếu như nhiều giả tạo
    Thật tình có giống ai

    THƠ NGÀN
    (17/4/15)

Leave a Reply to THƠ NGÀN