|

Đem tâm tình viết lịch sử: Dân Việt mình cần thay máu (1)

 (Bài thứ nhất)

Thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, ngày 3 tháng 9 năm 2010

Anh Đỗ văn Minh thân mến,

Anh em mình chọn tên đầu sách của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn để ghi lại một giai đoạn lịch sử cho thế hệ mai sau, giống như nhờ ông Côn đã viết tác phẩm ấy mà thế hệ chúng ta hiểu được phần nào tình hình nước nhà, sau biến cố gọi là Cách mạng Mùa Thu năm 1945. Hy vọng rằng cuốn sách của chúng ta cũng giúp cho thế hệ mai sau biết một phần nào diễn biến vào thời mà chúng ta đang sống. Dù không là nhà văn, không là nhà viết sử, không giữ trọng trách lớn của Đất Nước, nhưng chúng ta cũng đủ khả năng tường trình những sự kiện một cách sáng sủa, trung thực mà mình đã nghe, đã thấy.

 Trước tháng 4 năm 1975, hai anh em ta cùng phục vụ dưới lá cờ Quân chủng Không Quân. Tuy phòng sở chỉ xa nhau chừng hai trăm mét, phân cách bởi vòng rào dây kẽm gai, mà chúng ta không hề quen biết nhau. Sau khi sang định cư ở Hoa Kỳ, chúng ta cũng chẳng hề biết nhau. Cho đến khi, Tướng Nguyễn Cao Kỳ về Việt Nam 2004, dư luận quần chúng trong cộng đồng người Việt xôn xao bởi một số phần tử có tên tuổi, danh vọng, nhưng vốn đã không có tâm, không có tầm (trí tuệ), không có dũng lại nhảy ra quấy rối giống như những kẻ phá hoại, thay vì đóng góp một cách hữu ích cho mối nguy cơ Đất Nước sẽ phải đối diện. Mối nguy cơ đó là hiểm họa Trung Quốc, một kẻ thù không bao giờ ngừng bành trướng lãnh thổ. Tất cả những nhà tranh đấu, những đoàn thể chính trị ở hải ngoại hoàn toàn không hề thấy mối hiểm họa đó. Các Mặt Trận chủ trương lật đổ chính quyền cộng sản bằng bạo lực vũ trang đều thất bại. Trước hết là tổ chức của ông Lê Quốc Túy gửi cán bộ về nước bị bắt trọn. Trần văn Bá, Lê Quốc Quân bị tử hình, nhiều đảng viên bị án tù, trong đó có Trương văn Sương, một Nelson Mandela của Việt Nam, mới đây được thả để chữa bệnh, rồi lại vào tù thi hành bản án chung thân. Mặt Trận của ông Hoàng Cơ Minh có thanh thế nhất do lòng nhiệt thành của quần chúng, nhưng là một tổ chức mang tai tiếng nhất về sự mờ ám tài chánh và có phương thức hoạt động bắt chước cách làm cách mạng kiểu cộng sản. Mặt trận Biên Thùy Đông Dương của Tướng Nguyễn văn Chức cũng về rừng núi Thái Lan đọc nhật lệnh (!) để trở lại Hoa Kỳ phổ biến tin tức có tính quảng cáo gây quỹ, rồi cũng chìm vào quên lãng. Mặt trận của ông Hà Thúc Ký (mà tôi là thành viên sáng lập và có chân trong Ban chấp hành Trung ương), Liên Minh Dân chủ của ông Nguyễn Ngọc Huy cũng chủ trương bạo lực, âm thầm phát triển cơ sở ở hải ngoại, gửi cán bộ về Thái Lan lập đầu cầu để xâm nhập nội địa hầu xây dựng hạ tầng cơ sở cũng thất bại. Do sự sụp đổ của khối cộng sản Đông Âu, Liên Xô, xu hướng đối đầu bằng vũ lực không còn nữa, các đoàn thể chủ trương đấu tranh bạo lực của ta cũng phải chấm dứt và chuyển sang đấu tranh chính trị.

Đại sứ Bùi Diễm là một người đồng chí của tôi trong Đảng Đại Việt và là một người bạn đồng song của các anh tôi mà tôi xem ông như là anh của mình, bằng sự kính trọng và yêu thương. Tôi đánh giá Đại sứ Bùi Diễm là nhà hoạt động chính trị lương thiện (honest politician). Sự đánh giá đó không do mối thân tình riêng tư, mà là căn cứ trên quá trình hoạt động của ông. Khi Đại sứ Bùi Diễm lập ra Nghị Hội Toàn Quốc, tôi đã bàn với các cấp lãnh đạo trong tổ chức của tôi là nên ủng hộ Nghị Hội, bởi vì nó sẽ là cơ cấu cho công cuộc đấu tranh chính trị với Nhà Nước cộng sản trong tương lai. Tiếc thay! Mặt Trận Việt Nam Tự Do dưới sự lãnh đạo của ông Hà Thúc Ký cũng như Nghị Hội Toàn Quốc của Đại sứ Bùi Diễm đều lụi dần, vì những lý do chủ quan và khách quan mà tôi sẽ bàn tới trong những bức thư kế tiếp. Bây giờ tôi xin viết đôi lời phi lộ với các nhà trí thức trẻ ở hải ngoại, một thành phần mà tôi tin rằng họ sẽ đóng góp lớn lao cho tương lai xứ sở một cách hữu hiệu và tích cực.

Thưa tất cả quý anh chị trí thức trẻ hải ngoại,

Chúng tôi, thế hệ cha hoặc anh của quý anh chị, rất ngưỡng mộ và hãnh diện vì những thành tựu khoa học, y tế, nghệ thuật, thể thao, thương mại đủ các ngành nghề do các anh chị đã mang lại khắp nơi trên thế giới. Ngược lại, chúng tôi – những người dân sự và quân sự trong cuộc chiến Quốc Cộng vừa qua – chẳng những không đóng góp gì vào các sự thành tựu đó, mà lại bày ra những tấm gương xấu khiến cho các anh chị cảm thấy buồn và xấu hổ, nhưng không thể nói ra vì sợ mang tội bất kính với các bậc trưởng thượng (?!) Chính chúng tôi cũng không vui vẻ gì để nói ra những khuyết tật của thế hệ mình (vì cứ nghĩ xấu chàng thì hổ ai? Chẳng lẽ vạch áo cho người xem lưng?). Nhưng mới đây, nhân đọc bài viết “Niềm Tin và Đạo Đức” của Lưu Á Châu, một vị Tướng Trung Quốc; một bài trả lời phỏng vấn của tù nhân Trương văn Sương, người được dư luận tôn vinh là một Nelson Mandela Việt Nam và bài tham luận “Sự Thật Giải Phóng Con Người, Giải Phóng Đất Nước” của nhà văn Trần Mạnh Hảo, chúng tôi không còn do dự nữa. Chúng tôi sẽ noi gương những tác giả ấy để mạnh dạn nhìn lại bản thân chúng tôi với hy vọng sẽ đóng góp vào tư duy, nhận thức của các bạn trẻ, những người cùng mang dòng máu như chúng tôi. Các anh chị được thừa hưởng nền giáo dục khai phóng của các quốc gia văn minh. Các anh chị được tiếp cận với nền văn hóa tôn trọng phẩm giá con người. Đặc biệt, các anh chị không mang nợ xương, nợ máu, không chịu trách nhiệm trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn Quốc Cộng. Các anh chị hãy hành động theo lương tâm sai bảo, đừng sợ hãi bất cứ áp lực từ phía nào. Bởi vì tất cả áp lực ấy đều là ảo, không đủ khả năng và sức mạnh làm chùn bước anh chị.

Chúng tôi là sản phẩm của một nền văn hóa nô dịch của Tầu, của Tây, lại là nạn nhân của một cuộc chiến tranh ý thức hệ không những bằng súng đạn, mà còn bằng “võ miệng” tuyên truyền để hạ bệ cái gọi là “chính nghĩa” của nhau. Miền Bắc lên án Miền Nam tay sai Đế Quốc Mỹ; Miền Nam chửi Miền Bắc là Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà. Mặt mũi hai phía đều lem luốc. Ông Hồ Chí Minh phải tranh thủ sự ủng hộ của Nga Tầu để được làm lãnh tụ cộng sản. Ông Ngô Đình Diệm được Hoa Kỳ ủng hộ để lãnh đạo Miền Nam thành một tiền đồn ngăn chặn làn Sóng Đỏ. Ông Ngô Đình Diệm dù tài giỏi đến mấy mà không được Hoa Kỳ ủng hộ thì cũng không thể nào trở thành lãnh đạo Miền Nam. Nói tóm lại, dân Việt Nam mình không thể tự bảo nhau để đưa một nhân vật xứng đáng trở thành người cầm lái con thuyền quốc gia. Ngay như cụ Trần trọng Kim là nhân vật khả kính, cũng là người được Nhật đưa lên làm Thủ tướng. Ngay như Đảng Cộng sản đang cầm quyền hiện nay trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thì vẫn còn có phe thân Tầu, phe thân Mỹ để tranh thủ chiếc ghế lãnh đạo.

Hai câu thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương phản ảnh khá đúng tình cảnh lêu têu bêu của chúng tôi:

 “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa,

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh”

Người Việt Nam của thế hệ chúng tôi nói chung, bất kể thuộc ý thức hệ nào, ở phe thắng trận hay phe thua trận, đều mang trong người hai thứ tâm bệnh: mặc cảm tự tôn và mặc cảm tự ti. Tự tôn cho mình là Con Rồng Cháu Tiên có bốn ngàn năm Văn Hiến (một truyền thuyết ảo). Tự ti vì mang tâm trạng nhược tiểu thấp kém. Hai thứ tâm bệnh mặc cảm đó xung đột thường xuyên trong một bộ não, đã biến người Việt lớp chúng tôi thành một kẻ dị dạng giống như loại người từ hành tinh khác đến. Cái tâm bệnh đó có thể chữa được bằng con đường Sám Hối để tự Giác Ngộ. Tức là dũng cảm nhìn lại bản thân để tự chữa thì sẽ có cơ may bình phục. Nếu không có can đảm tự chữa thì chỉ còn có cách Thay Máu! Sự thật đó phũ phàng, nhưng chúng tôi phải nhìn nhận, đúng không thưa quý anh chị?

Theo nhận định của chúng tôi, Lưu Á Châu (Liu Ya-zhou) là một nhà phê bình rất can đảm và tâm huyết đối với đất nước của ông. Can đảm vì xuất thân từ giới cầm quyền, Lưu Á Châu là Con rể của Lý Tiên Niệm, Cố Chủ tịch Nước Trung Quốc; ông Lưu Á Châu là một vị Tướng đang giữ chức lớn (Chính Ủy Trường Đại học Quốc phòng) trong một thể chế vẫn còn độc tài mà mọi hành vi hay tư tưởng rất dễ bị quy cho cái tội phản động. Tâm huyết vì dám đả phá nền văn hóa cổ truyền của nước mình được nhiều thế hệ tôn vinh, để thăng tiến nước mình trong cộng đồng nhân loại, chứ không phải làm giảm giá trị nước mình. Bài viết của Tướng Lưu Á Châu có thể ví như một quả bom nổ nhằm phá tan một nền văn hóa bị đóng băng. Không những thế, Tướng Lưu còn có khả năng nhìn thấy sức mạnh của Hoa Kỳ mà một người sống ở Hoa Kỳ tương đối lâu như chúng tôi, nhưng không đủ tinh tế để nhìn thấy như ông ta. Trong một dịp khác, chúng tôi sẽ lạm bàn kỹ hơn về bài viết của ông Lưu Á Châu.

Ông Lưu Á Châu nói: “Trung Quốc không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược.” Đạo Đức Kinh của Lão Tử viết ra chỉ có 5 ngàn chữ, chưa thể coi là nhà tư tưởng. Khổng Tử là một bậc thầy được tôn vinh là Vạn Thế Sư Biểu được ông đánh giá: “Khổng Tử có thể coi là nhà tư tưởng chăng? Thế hệ chúng ta xem xét ông thế nào? Tác phẩm của ông bị xem xét ra sao? Tác phẩm của ông chưa từng cung cấp cho nội tâm người Trung Quốc một hệ thống giá trị có thể đối kháng quyền lực thế tục. Cái mà ông cung cấp là tất cả xoay xung quanh quyền lực.” Sau khi phê phán hai danh sĩ lập ra Lão Giáo và Khổng Giáo, ông kết luận: Nếu Nho học là một tôn giáo thì đó là một tôn giáo rởm; nếu là tín ngưỡng thì là tín ngưỡng rởm; nếu là triết học thì đó là triết học của xã hội quan trường hóa. Xét trên ý nghĩa này thì Nho học có tội với người Trung Quốc. Trung Quốc không thể có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Xã hội Trung Quốc là xã hội binh pháp, dân tộc ta chỉ tôn sùng nhà mưu lược. Một Gia Cát Lượng chẳng mấy thành công về sự nghiệp lại được người ta kỷ niệm nhiều lần. Ông ấy bụng dạ kém khoáng đạt, cách dùng người cũng chưa thích hợp”. Do đó đường lối cai trị của các triều đại Trung Quốc và Việt Nam sử dụng mưu mẹo nhiều hơn để giữ quyền; chứ không sản sinh ra được nền dân chủ như các nước Phương Tây. Nhà Nước Cộng sản Việt Nam cai trị Đất Nước cũng bằng mẹo, tức là bằng mánh mung để giữ địa vị; chứ không thi hành chính sách mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân như tự do, dân chủ, nhân quyền để được có cái thế chính thống (legitimacy).

Thưa quý anh chị trí thức trẻ,

Việt Nam ta là “một nước nhỏ bé nằm mơ màng bên góc bể Thái Bình Dương”, một nước từng bị Tầu đô hộ có dã tâm đồng hóa bằng cách bắt buộc dân mình ăn mặc như Tầu, nhồi nhét Nho giáo, Lão giáo, tập tục thờ cúng cả ông Quan Vân Trường. Tổ tiên anh hùng của ta nhiều phen nổi dậy đánh đuổi ngoại xâm để giành độc lập. Sau khi giành được độc lập, vua chúa xứ ta vẫn phải xin phong vương và triều cống như một chư hầu để được yên ổn làm ăn. Nói một cách rốt ráo hơn, tổ tiên ta có lúc giành được quyền tự chủ trong việc sử dụng lãnh thổ và cai trị nhân dân, nhưng về mặt văn hóa thì từ vua quan của ta đến dân chúng vẫn là nô lệ Tầu! Nô lệ về nếp sống lẫn nô lệ về tư duy. Người Tầu mang trong người những khuyết tật gì thì người Việt ta cũng đều mang cái khuyết tật đó. Cái tinh thần “trung quân” đặt lên hàng đầu và tinh thần “ái quốc” đứng vào hàng thứ nhì. Giai cấp, thứ bậc được đặt ra một cách ngăn nắp để tạo nên một xã hội ổn định nhằm phục vụ kẻ thống trị. Bất cứ ai có tư duy chống lại hệ thống cầm quyền thì đều bị “tru di tam tộc” (chặt đầu cả ba họ: họ nội, họ ngoại, họ vợ hoặc chồng). Nguyễn Trãi là một công thần giúp vua Lê Lợi dựng nên triều đại Nhà Lê; nhà thơ Cao Bá Quát ngang tàng của chúng ta đều bị tru di tam tộc, là hai sự kiện điển hình.

Tướng Lưu Á Châu kể mẩu chuyện người đàn bà ghen tương định nhảy lầu tự tử, hàng xóm hiếu kỳ bu lại xem và mong người phụ nữ đó nhảy xuống để thấy máu đổ, không một ai có ý định cứu nàng. Tới chừng cảnh sát mang được người đàn bà đó xuống thì có kẻ lấy làm tiếc rẻ, vì mất một dịp chứng kiến cái chết của một người! Cái ác đó cũng có trong máu người Việt mình. Cùng mang thân phận mất quê hương, phải sống nhờ vào đồng tiền đất nước người, thay vì đùm bọc tương trợ nhau, người Việt tị nạn ta có một tâm thế hết sức lạ lùng. Đó là thấy ai giàu có thì ghen ghét, thấy ai nghèo thì khinh khi. Ngồi với nhau thì nói xấu người vắng mặt, kể những chuyện phòng the bịa đặt để chế giễu như câu chuyện làm quà, mà người kể phải nằm dưới gầm giường nạn nhân thì mới biết. Lấy sự bất hạnh của người khác làm niềm hạnh phúc của mình. Cái tâm lý đố kỵ không muốn ai hơn mình, cái dã tâm đó có xu hướng phát triển mạnh mẽ là vì không bị pháp luật trừng trị. Thành lập đảng để cứu nước thì trở thành băng đảng, giết người để bịt miệng, hù dọa khủng bố. Dù sao Miền Nam trước năm 1975 còn có chính quyền, nên những tội ác đó còn bị kiềm hãm. Sau năm 1975, tất cả đều bị rơi vào tình trạng cá đối bằng đầu, cá mè một lứa thì những phần tử xấu, vô đạo đức mặc sức tung hoành. Hiện tượng tồi tệ đó sở dĩ mà có là do đa số người Việt Nam mình thụ động, bị hấp thụ nền văn hóa Trung Quốc!? Tuy nhiên, vẫn có những thành phần tốt, có đạo đức, có văn hóa. Tôi không vơ đũa cả nắm.

Sau 35 năm tiếp cận với nền văn hóa, văn minh phương Tây, người Việt mình trong tiềm thức vẫn mang tinh thần nô lệ bị Trung Hoa và Pháp đô hộ, chưa thể gột rửa được. Người có “charisma” để lãnh đạo vốn đã hiếm, nhưng bất cứ người nào muốn đứng ra lãnh đạo thì tức khắc bị bôi nhọ, bị phỉ báng bằng mọi hình thức diệt đối thủ ngay. Sự bôi nhọ, sự phỉ báng được phụ họa bởi những bè đảng, những phần tử vô ý thức triệt để tiếp tay một cách hăng hái. Vì thế quang cảnh trong cộng đồng biến thành bát nháo, người ta chơi đủ thứ loại âm nhạc của đông tây kim cổ bằng nhiều nhạc cụ khác nhau, cho nên chẳng có cách nào tìm ra một nhạc trưởng có khả năng điều khiển ban nhạc lạ lùng ấy được.

Xin kể một mẩu chuyện bên lề, nhưng khá phản ảnh thực trạng ngày hôm nay ở hải ngoại. Mùa hè năm 1995, tôi sang thăm một người anh em sinh sống bằng nghề câu cua ở thành phố Lafayette, Tiểu bang Louisiana, Hoa Kỳ. Tôi thấy cái thùng đựng cua của người Mỹ có nắp đậy, còn cái thùng đựng cua của anh bạn Việt Nam không đậy nắp. Tôi hỏi tại sao anh không dùng cái nắp để đậy thùng cua của anh. Người bạn trả lời: Tại vì cua của ông Mỹ câu là cua Mỹ; còn cua của em câu là cua Việt Nam. Tôi không hiểu ý nghĩa của câu trả lời, bèn gặng hỏi lý do tại sao cho rõ hơn. Người bạn trả lời: “Tại vì cua Mỹ mà con nào bò lên tới miệng thùng thì con cua ở dưới đẩy lên, nên ông Mỹ phải đậy nắp để cua không thể ra ngoài được; còn cua do em câu là cua Việt Nam, hễ con nào có sức bò lên miệng thùng thì con ở dưới kéo xuống, nên em đâu cần đậy nắp?”. Tôi không ngờ anh bạn câu cua của tôi là người có tính tình chất phác, nhưng lại rất ý nhị, sâu sắc. Anh bạn tuy ít học, nhưng do sự quan sát thực tiễn sinh hoạt của người Việt mình, nên anh mới có nhận định vừa chua chát, vừa khôi hài.

Xin kể một khuyết tật của bản thân để các anh chị trí thức trẻ chia sẻ và cảm thông. Một hôm tôi dặn một đứa con gái tôi như sau: “Hôm nay cha mệt, cần đi ngủ sớm. Nếu có bác nào gọi cha thì con nói cha đi vắng, chưa về. Con hãy hỏi bác là ai, xin số điện thoại, khi nào cha con về thì cha con gọi lại bác”. Con tôi đáp lại bằng câu hỏi: “Cha ngủ thì con nói cha ngủ, con chỉ xin tên và số điện thoại của bác để mai cha gọi lại. Tại sao cha dạy con nói dối?” Do ảnh hưởng của nền luân lý cổ truyền, không muốn làm phật lòng người gọi điện thoại cho mình, tôi vô tình dạy cho con tôi nói dối. Cái lối nói dối đó mà tôi cho là khôn khéo muốn làm đẹp lòng người khác có thể do bị ảnh hưởng bởi cái “nho giáo cổ hủ” mà ra. Phản ứng của con tôi như thế, tôi nghĩ rằng đấy là nhờ nền giáo dục Hoa Kỳ. Thế hệ tôi không dám làm trái ý cha mẹ, bậc bề trên vì sợ mang tội vô lễ, bất kính. Con tôi đã dạy cho tôi một bài học nhớ đời. Tôi tin rằng các anh chị ở vào lứa tuổi em hoặc con tôi, cũng được dạy dỗ bởi nền giáo dục khai phóng của Phương Tây, thì các anh chị cũng sẽ có phản ứng tương tự như con tôi: sẵn sàng nói ra sự thật mà không sợ làm tổn thương người nghe, miễn là giữ lễ độ, lịch sự. Bởi vì, Sự thật trước hết sẽ giải phóng mình để giải phóng đất nước.

Người Việt thuộc thế hệ chúng tôi mang nhiều khuyết tật, nhưng hễ ai nói lên khuyết điểm của họ thì họ thường thường dẫy nẩy lên như đỉa phải vôi. Họ phản ứng lại bằng cách chụp mũ, bôi nhọ, nói quanh hoặc đổ tội làm mất đoàn kết quốc gia, phương hại chính nghĩa Chống Cộng. Một phần họ tự cho mình nắm chân lý và phần khác là do kém khả năng lý luận và kém đạo đức tối thiểu để phục thiện.

Người tù Trương văn Sương được người Việt tự do phong là Nelson Mandela. Tôi gọi anh là vị Bồ Tát xuống trần để chuyển một thông điệp: “Dân tộc Việt Nam phải biết thương dân tộc Việt Nam”. Anh Trương văn Sương có bố là người Trung Hoa và mẹ là người Khmer. Anh được coi là người Việt Nam chỉ vì sinh đẻ ở Việt Nam. Về huyết hệ, anh là người nước ngoài, không dính dáng gì đến máu mủ dân tộc Việt. Dù bị cộng sản Việt Nam dùng cực hình đầy đọa nhiều năm trời, chỉ được thả ra để chữa bệnh một năm rồi phải trở lại án tù chung thân, anh Sương vẫn là người bất khuất. Trả lời cuộc phỏng vấn của đài RFA, anh Sương đang mang án tù nhưng vẫn giống như vị quan tòa nghiêm khắc lên án cộng sản là kẻ có tội, nhưng anh sẵn sàng tha thứ để cùng nhau tiêu diệt cái ác, sự tham nhũng hầu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thịnh vượng. Không ai có thể bảo rằng anh Trương văn Sương nói theo chỉ thị của nhà cầm quyền cộng sản để đề cao chủ trương hòa giải hòa hợp dân tộc.

Nếu người nào tự hào về nòi giống Việt mà không làm theo thông điệp của anh Trương văn Sương, thì rõ ràng kẻ đó thuộc loại người vô cảm. Tuy là người chống Cộng, tôi vẫn nhận thấy lời của Karl Marx nói rất đáng được nghe theo: “chỉ có thú vật mới dửng dưng trước nỗi thống khổ của đồng loại và chỉ biết chăm chút cho bộ lông của chúng”. Đó là lý do tại sao ta phải chống lại CÁI ÁC.

 Anh Đỗ văn Minh và tôi sẽ cùng nhau ghi lại cho mai sau một số dữ kiện để các nhà viết sử có thể căn cứ vào mà ghi chép cho chính xác. Chắc chắn chúng tôi sẽ tường thuật về một số nhân vật có ảnh hưởng đến quần chúng đã gây nên tình hình “bát nháo” trong cộng đồng hiện nay. Những nhân vật này có bằng cấp, có tên tuổi, có địa vị xã hội được quần chúng đánh giá cao do tư tưởng lầm lạc “phi cao đẳng bất thành phu phụ” đã được truyền tụng từ đời này sang đời khác nên tưởng người có học, có địa vị xã hội thì có nhân cách. Nhưng thực chất một số phần tử hữu danh này được đánh giá là trí thức, lại là hạng người vừa bất tài, vừa kém đạo đức, vừa sa sút nhân cách. Những nhân vật mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong những bài viết tới là những nhân vật tiêu biểu khiến cho cộng đồng bị người bản địa khinh khi.

Chúng tôi mong được quý anh chị trí thức trẻ theo dõi và đánh giá tính trung thực của từng sự kiện. Chúng tôi đã từng hoạt động trong đoàn thể đấu tranh, nhưng hiện nay là những người độc lập, không thuộc phe phái nào, luôn luôn lấy sự vô tư, đạo đức và trách nhiệm của người cầm bút làm tôn chỉ.  

Hẹn gặp quý anh chị ở những bài viết tới.

© Bằng Phong Đặng văn Âu

© Đàn Chim Việt

Phản hồi