|

Đảng Lao động Na Uy một tấm gương “tự diễn biến hòa bình” thành công rực rỡ

Thủ tướng Nauy Jen StoltenbergDo vị trí chiến lược quan trọng của Na Uy, Hitler đã bố trí một lực lượng rất lớn tại đây. Vào thời điểm quân Đức đầu hàng (1945), có không dưới 400 ngàn quân Đức đóng tại Na Uy. Đó là một lực lượng khổng lồ so với dân số Na Uy vào lúc đó chỉ có khoảng 4 triệu người.

Khi cuộc Chiến tranh Thế giới lần II kết thúc, vai trò lãnh đạo DNA được chuyển giao cho Einar Gerhardsen (1897 – 1987).

Xuất thân từ một gia đình công nhân, vào năm 18 tuổi Gerhardsen trở thành một công nhân sửa chữa đường phố ở Kristiania (Oslo), và đến năm 1920 được bầu làm Chủ tịch Công đoàn của ngành này tại thủ đô. Ông cũng sớm tham gia vào Đoàn Thanh niên của Đảng Lao động. Là một người tích cực ủng hộ Martin Tranmæl, qua hoạt động công đoàn, đến giữa thập niên 1920 Gerhardsen trở thành thành viên của Ủy ban Trung ương của DNA và là Bí thư đảng bộ Oslo.

Trong thập niên 1920, Gerhardsen vẫn chưa dứt khoát giữa hai lập trường “cách mạng hay cải cách”, thậm chí đã có lúc nghiêng về xu hướng đấu tranh bạo động. Ông đã vài lần bị tù vì các hoạt động phá rối trị an. Mãi đến Đại hội Đảng năm 1933, Gerhardsen mới chuyển sang phía cải cách. Mặc dù vậy, trong thời gian đầu, ông vẫn còn xem đấu tranh nghị trường chỉ là phương tiện hoạt động chứ chưa thật sự là mục tiêu chủ yếu.

Từ 1936 đến 1939 Gerhardsen là Bí thư toàn quốc kiêm Phó Chủ tịch của Đảng bộ Oslo. Năm 1939 ông được bầu làm Phó Chủ tịch của DNA. Là Phó Thị trưởng của Oslo từ năm 1938, đến tháng 4 năm 1940, ông nắm quyền Thị trưởng Oslo chỉ vài giờ trước khi quân Đức tấn công Na Uy. Sau khi Quân Đức chiếm Na Uy, Gerhardsen trốn khỏi thành phố và tị nạn ở Thụy Điển. Nhưng đến tháng 6 năm 1940, ông quyết định rời bỏ nơi ẩn náu an toàn ở Thụy Điển để trở về nước hoạt động trong vùng bị chiếm đóng.

Vì Chủ tịch Đảng lúc đó là Oscar Torp đã qua London, Gerhardsen được chỉ định làm quyền Chủ tịch DNA. Ngày 11/9/1941, ông bị quân Đức bắt, lúc đầu chuyển đến trại tập trung Grini ở phía tây của Oslo. Mùa xuân năm 1942, ông bị chuyển sang trại tập trung Sachsenhausen ở Đức, tại đây ông đóng vai trò một nhà lãnh đạo của các tù nhân người Na Uy. Phía quân Đức đã thông qua một bản án tử hình bí mật nhằm thủ tiêu ông, nhưng nhờ sự giúp đỡ của một sĩ quan cảnh sát mật của Đức có liên hệ với Phong trào Kháng chiến Na Uy, Gerhardsen đã được đưa trở lại Grini vào mùa thu năm 1944, tại đây ông lãnh đạo các hoạt động chuẩn bị cho giai đoạn hậu chiến. Một giả thuyết khác về lý do ông không bị thủ tiêu là: quân Đức muốn giữ ông lại như một tù binh cao cấp để khi cần, sử dụng ông như một con bài để đàm phán[9].

Ông Gerhardsen, Thủ Tướng Na Uy (05/11/1945 – 19/11/1951)

Sau khi quân Đức đầu hàng (đầu tháng 5 năm 1945), Gerhardsen trở lại với vai trò Thị trưởng của Oslo và quyền Chủ tịch của Đảng Lao động. Khi Chánh án Tòa án Tối cao Paal Berg từ chối vai trò điều hành chính phủ tạm quyền, Gerhardsen được Vua Haakon VII giao trách nhiệm đó. Chính phủ đầu tiên của Gerhardsen – được bổ nhiệm vào ngày 25/6/1945, là một chính phủ liên minh giữa Đảng Lao động và Phong trào Kháng chiến, với thành phần đại diện cho tất cả các đảng phái.

Trong cuộc bầu cử đầu tiên sau chiến tranh, Đảng Lao động giành thắng lợi lớn với 41% số phiếu và chiếm 76 ghế trên tống số 150 ghế tại Nghị viện. Einar Gerhardsen chính thức đứng ra thành lập Chính phủ thứ hai (5/11/1945 – 19/11/1951). Cuối năm 1951, Gerhardsen nhường chức Thủ tướng cho Oscar Torp – Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ của ông, chuyển sang vai trò lãnh đạo nhóm Nghị sĩ của DNA tại Nghị viện và sau đó được bầu làm Chủ tịch Nghị viện. Đầu năm 1955, khi Oscar Torp rút lui khỏi chức Thủ tướng vì sự chống đối trong nội bộ Đảng đối với chính sách ngoại giao và an ninh của ban lãnh đạo DNA, Gerhardsen trở lại với chức vụ Thủ tướng. Mặc dù đã điều chỉnh đường lối ngoại giao và an ninh, Gerhardsen vẫn không ngăn cản được sự phân hóa trong Đảng. Năm 1961, một bộ phận đảng viên không bằng lòng với chính sách đối ngoại “thân – NATO, thân Cộng đồng Kinh tế Châu Âu” của DNA, đã tách ra thành lập Đảng Xã hội chủ nghĩa Nhân dân (Socialist Peoples’ Party, Sosialistisk Folkeparti, SF)[10] khiến cho Đảng Lao động không còn giữ được đa số tại Nghị viện. Chính phủ thứ ba của Gerhardsen (1955-1963) trở thành chính phủ thiểu số và đến 28/8/1963, phải từ chức vì một tai nạn nghiêm trọng xảy ra tại mỏ Kings Bay ở Ny-Ålesund. Nhưng Chính phủ liên minh của phái hữu do John Lyng thành lập chỉ tồn tại được trong thời gian ngắn ngủi (1 tháng), sau đó Gerhardsen lại trở lại thành lập một Chính phủ thứ tư vào ngày 25/9/1963. Cuộc tổng tuyển cử hai năm sau đó đã dẫn đến kết quả một liên minh trung hữu (center-right) gồm 4 đảng giành được đa số ghế tại Nghị viện, Per Boten (Đảng Trung tâm) trở thành Thủ tướng. Ngày 12/10/1965, Gerhardsen từ chức Thủ tướng và cũng rời bỏ chức Chủ tịch Đảng Lao động, vào lúc ông được 68 tuổi. Ông trở lại với vai trò Nghị sĩ cho đến năm 1969 mới rút lui khỏi hoạt động chính trị. Trong những năm cuối đời, ông viết hồi ký và thường xuyên đi diễn thuyết. Ông mất năm 1987, thọ 90 tuổi.

Gerhardsen giữ gìn một nếp sống giản dị của một công nhân và duy trì những tiếp xúc thường xuyên với những người lao động cho đến cuối đời. Với 17 năm làm Thủ tướng và 20 năm làm Chủ tịch đảng, Einar Gerhardsen là người giữ chức vụ Thủ tướng lâu năm nhất trong lịch sử của Na Uy kể từ khi thiết lập chế độ Nghị viện. Được coi như một trong những kiến trúc sư của công cuộc tái thiết Na Uy sau Chiến tranh Thế giới II, ông thường được ví như “Landsfaderen” (Cha già dân tộc, Father of Nation).

Giai đoạn 1945 – 1965 thường được coi là “thời hoàng kim” của Đảng Lao động Na Uy. Cũng chính trong giai đoạn này, một sự kiện quan trọng đã diễn ra: đó là việc Na Uy chuyển hướng về chiến lược ngoại giao và an ninh quốc phòng.

Kể từ khi giành lại được độc lập (1905) cho đến hết cuộc Chiến tranh Thế giới lần I, Na Uy là một nước trung lập. Năm 1939, khi nổ ra cuộc Chiến tranh Thế giới lần II, Na Uy cũng tuyên bố trung lập, nhưng không giữ vững được chủ quyền khi bị quân phát-xít Đức xâm lược vào tháng 4 năm 1940. Sau Chiến tranh Thế giới II, cuộc đối đầu quốc tế giữa một bên là khối cộng sản do Liên Xô lãnh đạo và bên kia là khối phương Tây do Hoa Kỳ lãnh đạo đã buộc Na Uy phải chọn lựa thế đứng về ngoại giao và an ninh quốc phòng. Chính phủ Gerhardsen đã nhận sự giúp đỡ về quân sự của Hoa Kỳ thông qua Kế hoạch Marshall vào năm 1947 và đến năm 1949, Na Uy chính thức trở thành thành viên của NATO. Quyết định quan trọng này đã được sự ủng hộ của Martin Tranmæl.

Như vậy là chỉ trong vòng 30 năm, từ chỗ là một đảng cộng sản chủ trương đồng minh với Liên Xô, Đảng Lao động đã lãnh đạo đất nước Na Uy gia nhập vào khối NATO, trở thành “đồng minh” với Hoa Kỳ.

Tổng kết lại, trong 30 năm (1935 – 1965), chỉ trừ giai đoạn của Chính phủ lưu vong trong Chiến tranh Thế giới II (1940 – 1945) và một tháng vào năm 1963, Đảng Lao động liên tục đóng vai trò của một đảng cầm quyền. Sau năm 1965, DNA không còn giữ được địa vị độc tôn như trước mà phải luân phiên cầm quyền cùng với các đảng cánh hữu khác. Các giai đoạn mà Đảng Lao động đóng vai trò lãnh đạo chính phủ là 1971 – 1972, 1973 – 1981, 1986 – 1989, 1990 – 1997, 2000 – 2001 và từ 2005 đến nay. Như vậy, nếu tính từ 1971 đến 2010, đảng này đã nắm quyền 25/39 năm. Uy tín của đảng phần lớn nhờ vào nỗ lực xây dựng “Nhà nước phúc lợi” (welfare state) ở Na Uy.

Bước sang thế kỷ XXI, do ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, tự do hóa kinh tế, cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực chính trị ngày càng trở nên gay go hơn trước. Nhưng trong khi Đảng Dân chủ – Xã hội Thụy Điển (SAP) thất bại trong các cuộc bầu cử năm 2006, thì tại Na Uy, Đảng Lao động lại giành thắng lợi liên tiếp trong hai kỳ tổng tuyển cử 2005 và 2009. Thành tích này có liên quan đến vị Thủ tướng Na Uy hiện nay: Jens Stoltenberg.

Đọc tiểu sử của ông, chúng ta được biết Jens Stoltenberg có một người chị lớn hơn ông một tuổi tên là Camilla; cô này ngay từ năm 13 tuổi đã tham gia vào một nhóm thanh thiếu niên chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao có tên là Tuổi trẻ Đỏ (Red Youth)[11]. Do ảnh hưởng của người chị này, Jens đã tích cực tham gia vào phong trào phản chiến chống lại cuộc Chiến tranh Việt Nam. Đầu thập niên 1970, sau một đợt ném bom của không quân Mỹ vào thành phố cảng Hải Phòng, Jens đã tham gia biểu tình trước Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại thủ đô Oslo. Cậu bé đã ném đá làm vỡ một số cửa sổ nhưng may mắn thoát được, trong khi một vài người bạn bị cảnh sát bắt giam.

Thế nhưng, tiểu sử của Jens Stoltenberg không chỉ dừng lại ở đó. Ông sinh ngày 16/3/1959, xuất thân từ một gia đình có truyền thống làm chính trị. Cha ông – Thorvald Stoltenberg, là một trong những nhà chính trị nổi tiếng ở Na Uy, đã từng hai lần làm Bộ trưởng Ngoại giao, mẹ ông – Karin Stoltenberg, đã từng giữ chức Thứ trưởng. Cả hai người đều là những đảng viên kỳ cựu của DNA.

Tốt nghiệp về kinh tế học tại Đại học Oslo, Jens Stoltenberg tham gia vào các hoạt động của DNA từ rất sớm. Từ 1979 đến 1981, ông là nhà báo không chuyên của tờ Arbeiderbladet (tờ báo của đảng DNA); từ 1985 đến 1989 là thủ lãnh của Liên đoàn Thanh niên Lao động (Labour Youth League, Arbeidernes Ungdomsfylking, viết tắt là AUF) và từ giữa 1990 đến 1992, là Chủ tịch đảng bộ Oslo.

Năm 1993 (34 tuổi), Stoltenberg đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Thương mại và Năng lượng trong Nội các của nữ Thủ tướng Gro Harlem Brundtland. Ba năm sau, ông nhận chức vụ Bộ trưởng Tài chính trong Chính phủ của Thorbjørn Jagland. Vào ngày 29/9/1997, Jagland từ chức vì ông đã tuyên bố trước cuộc tổng tuyển cử rằng nếu Đảng DNA không đạt được 36,9% số phiếu của cử tri, nội các của ông sẽ từ chức. Trong kỳ bầu cử đó, Đảng Lao động chỉ đạt được 35% số phiếu, vì vậy Jagland phải giữ lời hứa; quyền lực được chuyển cho một liên minh cánh hữu dưới sự lãnh đạo của Kjell Magne Bondevik (Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo)[12].

Tháng 3 năm 2000, chính phủ của Bondevik phải từ chức sau một cuộc biểu quyết tín nhiệm (không đạt đủ số phiếu để thực hiện dự án xây dựng nhà máy khí đốt đầu tiên của Na Uy). Stoltenberg đảm nhiệm việc thành lập Chính phủ và trở thành Thủ tướng vào năm 41 tuổi – Thủ tướng trẻ tuổi nhất trong lịch sử của Na Uy. Lúc này, Stoltenberg là Phó Chủ tịch Đảng, trong khi Chủ tịch Đảng vẫn là Thorbjørn Jagland. Chính phủ của DNA chỉ tồn tại được chưa đầy 1 năm (17/3/2000 – 19/10/2001) vì trong cuộc tổng tuyển cử năm 2001, đảng chỉ đạt 24,3% số phiếu bầu (thấp nhất kể từ năm 1927). Nguyên nhân thất bại là do cử tri bất bình trước việc thiếu các trường mẫu giáo, các nhà dưỡng lão cũng như sự sa sút về tiêu chuẩn chất lượng của hệ thống giáo dục công lập.

Mặc dù vẫn còn là đảng lớn nhất tại Nghị viện, DNA phải nhường địa vị lãnh đạo cho một liên minh của cánh hữu. Năm 2002, Jagland rút lui, nhường vai trò lãnh đạo Đảng cho Stoltenberg. Trong cuộc bầu cử năm 2005, DNA đã giành thắng lợi, đạt được 32% số phiếu bầu. Nhưng để có thể thành lập được chính phủ, DNA phải liên minh với hai đảng nhỏ khác là Đảng Xã hội chủ nghĩa Cánh tả (Socialist Left Party, Sosialistisk Venstreparti – viết tắt là SV) và Đảng Trung tâm (Centre Party, Senterpartiet, viết tắt là Sp). Đó là chính phủ liên minh đầu tiên trong lịch sử của Đảng Lao động. Để có thể thành lập liên minh, ba đảng đã thương thảo một giải pháp chung, thể hiện trong bản Tuyên bố Soria Moria thứ nhất (First Declaration of Soria Moria).

Liên minh này được gọi là Liên minh “Đỏ-Xanh” (Red-Green Coalition) bởi vì Đảng Xã hội chủ nghĩa Cánh tả (SV) có lập trường cấp tiến nhất (xã hội chủ nghĩa), tượng trưng bằng màu đỏ. Đảng Trung Tâm (Centre Party) đóng vai trò của các Đảng Xanh (Green Party) ở các nước khác, vì vậy được tượng trưng bằng màu xanh lá. DNA là đảng cánh tả lớn nhất, có lập trường trung – tả (center-left). Jens Stoltenberg (lúc này đã 46 tuổi) trở thành Thủ tướng lần thứ hai vào ngày 17/10/2005. Trong cuộc tổng tuyển cử năm 2009, Liên minh Đỏ – Xanh vẫn tiếp tục giữ được đa số trong Nghị viện, vì vậy Jens Stoltenberg tiếp tục giữ chức Thủ tướng. Ba đảng trong liên minh đã công bố một bản Tuyên bố Soria Maria thứ hai (Second Declaration of Soria Moria) – cương lĩnh chính trị của giai đoạn 2009 – 2013.

* * *

Kinh nghiệm của Đảng Lao động Na Uy cho thấy không phải bất cứ quá trình “tự diễn biến hòa bình” nào cũng là hiện tượng xấu, đáng lên án. Nếu “tự diễn biến hòa bình” để rũ bỏ một hệ tư tưởng lạc hậu, lỗi thời, đi ngược lại với xu thế phát triển của nhân loại thì quá trình chuyển hóa đó là một quá trình lột xác mang tính chất tiến bộ. Một đảng chính trị nhạy bén, quả cảm phải biết sớm phát hiện hướng phát triển đúng đắn để kịp thời điều chỉnh đường lối và phương thức tổ chức cho phù hợp, tránh bị tụt hậu hay đào thải.

Như vậy là ngay từ năm 1923, những người cộng sản Na Uy do sự thôi thúc của lòng yêu nước, của ý thức độc lập, tự cường, đã mạnh dạn từ bỏ Quốc tế Cộng sản để trở về với dân tộc. Họ đã mất một thời gian để nhìn lại chính mình và sau đó thừa nhận sự sai lầm về hệ tư tưởng, kiên quyết từ bỏ con đường cách mạng để trở thành một đảng cải cách. Việc từ bỏ quan niệm chuyên chính vô sản, kiên quyết chọn con đường dân chủ tự do của Đảng Lao động Na Uy đã không dẫn đảng này đến chỗ “tự sát”, mà ngược lại, đã mở ra một tương lai đầy triển vọng.

Chính việc chấp nhận các giá trị dân chủ, tự do đã đưa đến những thay đổi lớn về đường lối, chính sách kinh tế. Từ chỗ coi việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng “chủ nghĩa xã hội” là mục tiêu, kể từ thập niên 1930 Đảng Lao động Na Uy đã từ bỏ ý tưởng quốc hữu hóa bằng bất cứ giá nào để đưa ra lời cam kết “công ăn việc làm cho mọi người” và dồn mọi nỗ lực vào việc xây dựng một “Nhà nước phúc lợi” được tài trợ bằng thuế và nghĩa vụ. Mặt khác, nếu như dưới thời Einar Gerhardsen, DNA đã đưa Na Uy từ cơ chế thị trường sang một nền kinh tế có điều chỉnh, kiểm soát thì bước sang thập niên 1980, dưới thời của Nữ Thủ tướng Gro Harlem Brundtland, đảng đã bổ sung các nguyên tắc của kinh tế thị trường: Cho phép tư hữu hóa các tài sản và dịch vụ của Nhà nước, giảm bớt thuế thu nhập lũy tiến… Chính sự uyển chuyển, linh hoạt trong đường lối, chính sách đã tạo nên sức mạnh của DNA, hoàn toàn khác với cách tư duy bảo thủ, giáo điều của các đảng cộng sản trên thế giới.

Ngày nay, đất nước Na Uy nhỏ bé với 4,9 triệu dân đã và đang tiếp tục giành được những thành tích đáng kinh ngạc. Với GDP tính trên đầu người trong năm 2010 ước tính 52.964 USD[13], Na Uy có thể được coi là quốc gia giàu thứ nhì trên thế giới, chỉ xếp sau Luxembourg. Nhưng sự phân phối thu nhập trong các tầng lớp dân cư cũng thể hiện rõ rệt tính bình đẳng. Theo đánh giá của UNDP, trong thập niên 2000 – 2010 chỉ số Gini (Gini Index) của Na Uy là 25,8 – thuộc loại thấp, được xếp thứ 4 trên thế giới, chỉ sau Đan Mạch, Nhật Bản và Thụy Điển (đồng hạng với Cộng hòa Tiệp)[14]. Mặt khác, chỉ số HDI (Human Development Index, chỉ số phát triển con người) của Na Uy năm 2010 đạt 0,938 điểm – xếp hạng 1 toàn thế giới. Đây không phải là kết quả ngẫu nhiên, bởi vì Na Uy đã từng được xếp thứ nhất về chỉ số HDI trong 6 năm liền (2001 – 2006) và trong hai năm gần đây (2009; 2010), lại trở về với vị trí dẫn đầu thế giới.

Về Chỉ số dân chủ (Democracy Index), năm 2010 tờ báo Economist xếp Na Uy đứng thứ 1 trong số 167 nước, với 9,80 điểm. Trước đó, vào năm 2007, tổ chức Phóng viên Không biên giới (Reporters Without Borders) đã đánh giá Chỉ số Tự do báo chí Toàn cầu (Worldwide Press Freedom Index) của 169 quốc gia trên thế giới và xếp Na Uy (cùng với Iceland) vào hàng số một trên thế giới. Tại Na Uy, án tử hình đã bị bãi bỏ vào năm 1902, và án tử hình dành cho tội phản bội trong chiến tranh và các tội ác chiến tranh cũng bị bãi bỏ vào năm 1979. Hiện nay, Na Uy là quốc gia có tỷ lệ thấp nhất trên thế giới về tội giết người.

Điều mà Đảng Lao động Na Uy có thể tự hào là trong những thành tích tốt đẹp mà đất nước Na Uy đạt được, bao giờ cũng có sự góp phần lớn lao của họ. Đáng lưu ý hơn nữa là: DNA thành công không phải bằng phương thức “giành và giữ chính quyền” với bất cứ giá nào mà bằng con đường cạnh tranh lành mạnh, tìm kiếm các lá phiếu của cử tri trong một hệ thống chính trị nổi tiếng là trong sạch và công bằng nhất trên thế giới.

Có thể nói: từ một đảng cộng sản tự chuyển hóa thành một đảng dân chủ – xã hội, Đảng Lao động Na Uy đã chứng tỏ một bản lĩnh đáng khâm phục. Họ đã sớm rút ra được một chân lý: sức mạnh của một đảng chính trị không thể là sức mạnh vay mượn từ bên ngoài, mà phải bắt nguồn từ sức mạnh của toàn dân. Chỉ bằng cách đồng hành cùng dân tộc, chia sẻ quyền lực với nhân dân trong một chế độ chính trị dân chủ, một đảng chính trị mới có thể làm nên những kỳ tích.

“Tự diễn biến hòa bình” để trở thành một đảng tôn trọng tự do, dân chủ không phải là chọn con đường tự sát. Chỉ khi nào một đảng chính trị đứng trên Hiến pháp và pháp luật, coi Nhà nước chỉ là phương tiện bảo vệ quyền lợi của đảng mình, kiên trì độc chiếm quyền hành, đứng trên dân tộc, coi thường nhân dân; đó mới thật sự là con đường tự sát.

© Mai Thái Lĩnh
Đà Lạt, 09/01/2011

Pages: 1 2

2 Phản hồi cho “Đảng Lao động Na Uy một tấm gương “tự diễn biến hòa bình” thành công rực rỡ”

  1. Hương Xa (Na Uy) says:

    GÓP Ý VỤN VẶT

    1__ Tư tưởng chỉ đạo của đảng Lao Động Na Uy, trong việc xây dựng đất nước Na Uy, thật sự theo 4 tiêu chuẩn chính: 1/ Tự Do, 2/ Dân Chủ, 3/ Công Ích (Phúc lợi xã hội) và 4/ Kỷ Luật (Tôn trọng Hiến pháp, Luật pháp). Đặc biệt chấp nhận sinh hoạt chính trị đa đảng.
    2__ Đảng Lao Động Na Uy chưa bao giờ dùng chữ “Đảng” (viết hoa). Không có chuyện “Độc tôn, độc tài ngay trong độc đảng” vì ở Na Uy không có tệ nạn “độc đảng”.
    3__ Tư tưởng chỉ đạo của đảng Lao Động Na Uy tuyệt đối không tôn thờ Mác, Lê, Mao vì Tinh thần Độc lập của Dân tộc Na Uy luôn luôn xa lạ với “ý thức nô lệ ngoại bang”.
    4__ Đảng Lao Động Na Uy coi CNXH chỉ là phương tiện, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc của toàn dân mới là cứu cánh.
    5__ Đảng Lao Động Na Uy không treo đầu dê, bán thịt chó. Không “người giàu thì bị cướp của, người nghèo thì bị cướp công.”
    6__Đảng Lao Động Na Uy KHÔNG “hễ đảng tính cao thì nhân tính thấp. Nhân tính thấp thì ác tính cao”. Nhờ: Chấp nhận đối lập, chấp nhận Báo chí Tư nhân. Chấp nhận tự do hàng đầu là Tự do Tư tưởng. Không thần thánh hóa lãnh tụ. Không bị bệnh ấu trĩ “Công thần, Gia trưởng”.
    7__ “XHCN Na Uy”, nơi tuyệt đối không có những cái gọi là “Sinh mệnh Chính trị, Chủ nghĩa Lý lịch, Chế độ Hộ khẩu, Chế độ Công an trị…” Không ai bị bắt, bị tù vì khác chính kiến.
    Còn khá nhiều điều hay nữa. Ai không tin, cứ thử đến thăm Na Uy một lần sẽ rõ.
    Cho nên: “Về Chỉ số dân chủ (Democracy Index), năm 2010 tờ báo Economist xếp Na Uy đứng thứ 1 trong số 167 nước, với 9,80 điểm…” Cảm ơn bài viết của ông Mai Thái Lĩnh.
    Hương Xa.(Na Uy)./

  2. D.Nhật Lệ says:

    Bài nhận định chính trị của ông Mai Thái Lĩnh thuộc loại nghiên cứu và tôi cũng rất thích đọc bài viết của
    ông khi ông tra cứu cẩn thận tài liệu để đưa ra những nhận xét thuyết phục về cuộc đời và sự gnghiệp chính trị của nhà yêu nước vĩ đại Phan Chu Trinh.
    Khi ông viết bài này,tôi nghĩ ông muốn nêu 1 tấm gương về Diễn biến Hòa bình rất đáng yêu và đáng trọng,chứ không phải đáng sợ như đảng CSVN.phóng đại lên thành ma thành qủy hòng nhát con nít ! Nếu người CS.còn tự hào vỗ ngực xưng mình yêu nước thì hãy bắt chước để biến thành cơ hội cho nước VN.được lãnh đạo bới một đảng như đảng Lao Động Na Uy,càng sớm càng tốt !
    Trước âm mưu chiếm đoạt VN.theo kiểu tằm ăn dâu của Tàu thì họ phải hành động ngay vì cứu nước
    còn khẩn cấp hơn cứu hỏa.Cứu nước bằng hành động,chứ không phải cứ huyênh hoang khoác lác !

Phản hồi