|

Người Việt và lễ Tạ Ơn 2009 tại Hoa Kỳ

Lịch sử 400 năm của Thanksgiving Hoa Kỳ

Mùa Lễ Tạ Ơn năm 2009, người Việt chúng ta tại Hoa Kỳ sẽ tham dự Thanksgiving Day lần thứ 10, thứ 20 hay là lần thứ 30. Và những người Việt tại Úc, Canada, tại Âu châu cũng đều có mùa tạ ơn trên khắp thế giới. Là người dân Việt tha hương, chúng ta sẽ có nhiều lý do để tạ ơn cuộc đời vì còn tồn tại đến ngày nay.

Trước năm 1975, nửa triệu chiến binh Hoa Kỳ có mặt tại Việt Nam đã đem đến Sài Gòn một nền văn hóa đặc biệt cùng với những con gà tây hiện diện trên bàn ăn suốt từ Thanksgiving tháng 11 đến mùa Lễ Giáng Sinh tháng 12. Tuy nhiên, thực sự tục lệ tạ ơn vẫn còn xa lạ với phần đông người Việt.

Qua định cư tại Hoa Kỳ, ảnh hưởng của nền văn hóa Hiệp Chủng Quốc đã đến với các gia đình Việt Nam, nhất là trường hợp con cái chúng ta làm ăn xa, tháng 11 kéo về xum họp một nhà.

Bên lò sưởi ấm, gia đình tỵ nạn quây quần tưởng nhớ bà con thân thuộc, nhắc lại chuyện xưa và bữa ăn gà tây vì làm theo đám nhỏ yêu cầu nên thực đơn không khác gì gia đình người Mỹ đến xứ này 400 năm về trước.

Câu chuyện sự tích mà chúng tôi kể lại hầu quý vị ngày hôm nay thực sự là một loại sử liệu rất tầm thường mà các bà giáo hiền lành đã bắt đầu kể cho các trò lớp tiểu học tại khắp nước Mỹ vào đầu tuần này.

Tục lễ ăn uống hội hè gọi là lễ tạ ơn trời đất vốn đã được người La Mã và Hy Lạp truyền bá từ lâu. Sau đó người Anh, Nga, Na Uy, Hòa Lan, Ba Lan đều có ngày Lễ Tạ Ơn vào mùa Thu.

Câu chuyện Lễ Tạ Ơn của Hoa Kỳ phải bắt đầu từ lúc con tàu May Flower chở di dân Thanh Giáo từ Anh quốc đi Tân Thế Giới vào ngày 6 tháng 9-1620 với các gia đình di dân chỉ vỏn vẹn có 44 người. Con tàu Hoa Tháng Năm lịch sử này lại được yểm trợ đông đảo bởi hơn 60 thành viên thuộc thủy thủ đoàn.

Họ đi theo hải trình mà các nhà thám hiểm tiền phong đã mở đường từ trước, vượt Ðại Tây Dương 65 ngày để đến miền bờ biển miền Ðông Hoa Kỳ.

Khi đến miền đất mới, đám di dân đã trải qua một mùa đông đầu tiên vô cùng khắc nghiệt làm chết 47 người trong số hơn 100 thành viên của May Flower.

Qua mùa Xuân, với sự giúp đỡ của thổ dân da đỏ thuộc một bộ lạc hiền lành kế cận, di dân bắt đầu canh tác và vị thống đốc là William Bradford tổ chức Lễ Tạ Ơn vào năm 1621. Di dân và thổ dân đã có một lễ Thanksgiving đầu tiên tại Hoa Kỳ với các món gà rừng, đậu, bắp của năm đầu gặt hái được mùa. Tất cả các thực đơn chế biến pha trộn theo kinh nghiệm từ các món ăn quê hương Âu Châu phối hợp với các thức ăn của thổ dân da đỏ ở Mỹ châu.

Lịch sử ghi lại là gần 100 di dân tỵ nạn đã cùng với 90 thổ dân tham dự một lễ hội hòa bình suốt ba ngày. Sau mỗi bữa ăn còn có các cuộc thi tài giữa hai bên.

Buổi Lễ Tạ Ơn đầu tiên dù đã mở đầu nhưng rồi tiếp theo những năm sau vì những khó khăn, thiên tai, chiến tranh nên chưa chính thực tạo thành truyền thống. Năm 1789, tổng thống Washington mới ra tuyên ngôn ngày 26 tháng 11 là Ngày Tạ Ơn, nhưng cũng chỉ có một ngày.

Trong suốt 240 năm tiếp theo, Hoa Kỳ có tổ chức nhiều Lễ Tạ Ơn trong các dịp ký hòa ước, tuyên ngôn hòa bình, mừng chiến thắng trên chiến trường nhưng chưa có một ngày Thanksgiving với ý nghĩa thuần túy dâng lời cảm ơn về cuộc sống lên thượng đế. Do đó Hoa Kỳ vẫn chưa có một ngày Thanksgiving thống nhất.

Năm 1830, một nhà báo phụ nữ lên tiếng đòi hỏi chính phủ phải chính thức tuyên ngôn một ngày lễ tạ ơn cho toàn quốc. Bà tiếp tục đòi hỏi như vậy suốt 30 năm.
Cho đến năm 1863, sau khi chiến thắng miền Nam, thống nhất đất nước. Tổng thống Lincoln mới có cơ hội tuyên bố ngày thứ Năm cuối cùng của tháng 11 hàng năm sẽ là Ngày Lễ Tạ Ơn.

Từ 1863 đến năm nay 2009 là đã trải qua gần 150 năm, Hoa Kỳ đã làm gì với những ngày Thanksgiving. Một mặt họ giữ truyền thống văn hóa gồm các thực đơn căn bản và đốt ngọn lửa tâm linh trong tinh thần xum họp gia đình. Mặt khác nước Mỹ hùng cường đã có dịp thương mại hóa để ngày Lễ Tạ Ơn trở thành tuần lễ mở đầu cho mùa lễ hội cuối năm, kích thích cả guồng máy kinh tế quốc gia.

Khác với Lễ Giáng Sinh, Thanksgiving vượt lên trên các tập tục tôn giáo. Hầu như mọi gia đình đều có thể tổ chức Ngày Lễ Tạ Ơn theo các tôn giáo khác nhau đúng như 3 ngày Lễ Tạ Ơn của tiền nhân Bắc Mỹ vào năm 1621. Lúc đó các di dân và thổ dân không hề có một lễ nghi tôn giáo nào khác ngoài việc ăn uống, vui chơi.

Ngày Lễ Tạ Ơn hiện nay ấn định vào ngày thứ Năm đã cho Hoa Kỳ có cơ hội dành luôn 4 ngày cuối tuần được coi là tuần lễ bận rộn nhất trong năm. Các xa lộ, phi trường, các trạm xe đều tấp nập. Các tiệm ăn, các chợ thực phẩm phải chuẩn bị nhiều ngày cho các gia đình mua sắm. Những hàng trái cây, các con gà tây nhồi thịt được đặt trước, các siêu thị tấp nập khách ra vào.

Và sắc dân từ bốn phương trời đến định cư tại Hoa Kỳ đã đồng thời đem đến biết bao nhiêu thực đơn đặc thù bày trên bàn tiệc Thanksgiving những màu sắc văn hóa khác biệt để xây dựng Mỹ quốc thành một Hiệp Chủng Quốc đích thực trên toàn thế giới.

Trong các gia đình Việt Nam, Lễ Tạ Ơn có cả đèn nhang cúng ông bà, heo quay, bánh hỏi, chạo tôm, nem nướng, chả giò và phở tái tương gừng.

Khi những đứa con, đứa cháu từ xa về xum họp, tiếng Việt, tiếng Anh ồn ào trên bàn ăn với thực đơn ba miền vừa dọn dẹp xong thì cũng là lúc ông nội kể lại về chuyến tàu vượt biên Hải Hồng chở 2,500 người cả Hoa lẫn Việt cắm neo ở bờ biển Mãi Lai vào tháng 11-1978. Năm đó cả nhà Việt Nam mang tên giả Trung Hoa ghi danh đi bán chính thức phải nằm chờ đói khát hơn hai tháng trong mùa Lễ Tạ Ơn trên con tàu vượt biên vĩ đại ở biển Ðông. Hình ảnh tàu Hải Hồng đã làm rung động thế giới.

Ðó là lý do chúng ta mang câu chuyện tàu May Flower 400 năm về trước của thế kỷ 16 nối kết với các con tàu vượt biển Nam Hải của thế kỷ thứ 20.

Từ di dân đến tỵ nạn

Vào thế kỷ thứ 16, hơn 400 năm trước, May Flower đem di dân đến Bắc Mỹ không có phủ Cao Ủy Tỵ Nạn, không có Sở Di Trú. Ðến thế kỷ thứ 20 thì di dân Việt Nam vượt biển được gọi là tỵ nạn và bách khoa tự điển bắt đầu có chữ Boat People-Thuyền Nhân.

Ðể bắt đầu bài học lịch sử, chúng ta hãy chuẩn bị một chút kiến thức để làm hành trang cho cuộc đời tỵ nạn. Sau bao nhiêu gian khổ mà còn sống đến ngày nay thì hãy ngồi xuống để chiêm nghiệm xem mình là ai.

1. Tỵ nạn là ai?

Liên Hiệp Quốc định nghĩa rằng: “Người nào bị bắt buộc phải rời bỏ quê hương để tránh tù đày, hành hạ, vì lý do sắc tộc, tôn giáo, chính trị, hay xã hội, văn hóa khác biệt thì người đó là dân tỵ nạn. Nếu anh phải rời nơi cư trú, vượt biên, vượt biển vì chiến tranh, vì biến cố hay vì nhân quyền không được tôn trọng, rồi bây giờ không muốn trở về hay không trở về được thì anh sẽ thành người tỵ nạn.”

Một cách văn vẻ triết lý hơn, người ta nói rằng: “Tỵ nạn là con người bình thường ở trong một hoàn cảnh khác thường.” Như vậy, sau khi đã hiểu thân phận tỵ nạn thì chúng ta nên biết rằng dù có mang căn cước gốc tỵ nạn nhưng người Việt tại Hoa Kỳ hiện không còn là tỵ nạn đương nhiệm. Chúng ta đã trở thành công dân Mỹ gốc tỵ nạn Việt mà thôi.

Trên thế giới ngày nay có 15 triệu dân tỵ nạn còn nằm trong trại ở các quốc gia đệ tam và 22 triệu dân tỵ nạn lưu đày ngay trên xứ sở của mình vì lý do chiến tranh, biến cố chính trị hay thiên tai. Ðó mới là những người tỵ nạn đương nhiệm.

2. Sách vở tỵ nạn:

Lại nói một cách văn vẻ thì hiến chương tỵ nạn nằm trong điều 14 của tuyên ngôn thế giới nhân quyền ghi rằng dân tỵ nạn có toàn quyền đi tìm nơi để sinh sống. Các quốc gia đều phải có nghĩa vụ tiếp nhận và định cư người tỵ nạn nếu họ muốn đến nơi đó để lập nghiệp.

Trên thực tế thì chính các quốc gia tự do tùy lòng bác ái và khả năng tiếp nhận sẽ đứng ra lựa chọn người tỵ nạn. Và cũng trên thực tế, từ cuối thế kỷ 20 đến nay thế giới đã mỏi mệt và phần lớn đã làm ngơ. Các nước không còn tích cực thi hành sứ mạng nhân đạo mà sách vở đã ghi rõ cho quyền tỵ nạn.

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng lúc còn ở đảo khi được tin các phái đoàn quốc tế trở lại trại tỵ nạn để phỏng vấn tiếp nhận thuyền nhân đã vô cùng xúc động viết lên bản nhạc bất hủ với lời ca cay đắng: “Người đã cứu Người.”

3. Lịch sử của di dân tỵ nạn

Thực ra lịch sử của di dân tỵ nạn đã bắt đầu ngay từ lúc có loài người. Khi có tranh chấp, có chiến tranh là có di cư tỵ nạn. Tuy nhiên, thảm họa thực sự mang kích thước toàn thế giới là sau thế chiến thứ hai kết thúc năm 1945. Toàn thể Âu châu đầy rẫy di dân tỵ nạn của thời hậu chiến. Ba năm sau, 1948, Liên Hiệp Quốc ban hành tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, trong đó quyền tỵ nạn và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Năm 1950, Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn ra đời và năm 1951 soạn xong tuyên ngôn quốc tế về tỵ nạn. Bản tuyên ngôn này mới được duyệt lại và ký tên bởi 140 quốc gia vào tháng 2-2002.

4. Ðâu là miền đất khổ:

Cuối thế kỷ thứ 19, tâm điểm của tỵ nạn thế giới là Ðông Nam Á. Ðông Dương chính là miền đất khổ. Việt Nam là quốc gia đứng đầu trang sử tỵ nạn thế giới và trở thành công việc hàng ngày của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc.

Con số ngân sách tỵ nạn thường niên của Cao Ủy năm 1975 là 80 triệu Mỹ kim mà chỉ 5 năm sau vào năm 1980, thế giới phải đóng góp cho ngân sách Cao Ủy lên đến 500 triệu Mỹ kim.

Cũng vào năm 1980, con số tỵ nạn ở các trại Ðông Nam Á lên đến 140 ngàn người với 37 cơ quan thiện nguyện từ khắp thế giới về đảm trách điều hành sinh hoạt và lo kiếm đường cho tỵ nạn đến các quốc gia đệ tam.

Ðó là thời gian vừa là thảm kịch vừa là vàng son của tỵ nạn Ðông Nam Á. Cả miền Nam Việt Nam đều ngó ra biển Nam hải. Những chuyến đi 5 ăn 5 thua. Người đi năm lần bảy lượt. Những câu chuyện về thảm kịch, sóng gió, hải tặc, người ăn thịt người cùng với những tấm hình màu từ Bắc Mỹ gửi về. Gia đình chú Sáu, cô Năm đi Mỹ gửi về tấm hình mặc áo lông đứng cạnh xe Mỹ, trước căn nhà tuyết phủ trông như ở cõi thiên đàng.

Rồi thì mặc cho sóng gió bão bùng, nhạc Phạm Duy như lời tiên tri của thế kỷ với những lời ca thúc dục lòng người trong bài Viễn Du. “Ra đi thấy trời Âu Á, Ra đi biết mặt trùng khơi. Ra đi thấy ta hãi hùng.”

Kèm theo những tấm hình màu là những gói quà gửi về quê hương. Những tờ giấy 100 Mỹ kim cho vào túp thuốc đánh răng. Và cho cả vào bao Plastic nhét dưới hộp cá mòi. Thư gửi về nói là cá này ăn bổ lắm, đứng có bán đi, mà cũng đừng nấu chín. Cá hộp của Mỹ phải mở ra ăn sống mới ngon. Quê nhà làm đúng lời dặn ngớ ngẩn của người phương xa đã tìm thấy đồng tiền Mỹ còn tanh mùi cá.

Từ San Jose, Việt Dzũng và Nguyệt Ánh cất tiếng ca gửi về cho mẹ những chiếc kim may, gửi về cho em hộp diêm nhóm lửa.

Những ngày cũ đã hơn 20 năm rồi. Những ngày cay đắng nở hoa. Khổ thì thật khổ, ra đi cả nhà đến trại chỉ còn một nửa. Chờ đợi hai năm ở đảo khi được đi đã vội mừng quên cả khổ đau. Ngày nay thì bao nhiêu đau khổ cũng chỉ là tiền kiếp.

Bước vào thế kỷ thứ 21, trang sử tỵ nạn đã lật qua. Tâm điểm hiện nay của thế giới là Trung Ðông và Phi châu. Tại rừng già Phi châu đen tối, dân nước nọ chạy qua nước kia. Chiến tranh tôn giáo ở Trung Ðông như cơn giận dữ trừng phạt của Thượng đế. Ðàn bà trẻ con cũng bị giết.

Mục tiêu của chiến tranh ngày nay không phải là trại lính với quân trường. Mục tiêu bây giờ là trường học, nhà thờ, quán ăn và chợ búa. Tất cả mọi người đều là mục tiêu và vũ khí lại chính là thân xác của người tử đạo. Thế giới đã quên tỵ nạn Việt Nam. Bây giờ khổ đau đến lượt người khác lên phiên.

5. Vì đâu nên nỗi:

Như vậy là, suốt cả 100 năm qua, thế giới đã vật lộn với vấn đề chiến tranh và tỵ nạn. Nhưng ngày nay thì cuộc chiến đã thay đổi. Khủng bố và chống khủng bố là đề tài số một. Tất cả còn lại chỉ là thứ yếu. Ðối với dân Việt tỵ nạn trên khắp thế giới, đây là giai đoạn tìm về sự ổn định và sống trong cuộc vui buồn với quê hương mới. Trong cái hỗn mang của thế giới ngày nay, ngồi kiểm điểm lại trang sử tỵ nạn của riêng ta trong suốt 50 năm qua để đi tìm ngày căn cước cho thế hệ mai sau.

Tuy nhiên, tất cả những người vươn lên được, tiến xa hơn được là nhờ đã rũ bỏ được những vướng bận của quá khứ để tiến bước vào tương lai.

Nếu quả thực cộng đồng Việt Nam đã tiến một bước dài suốt 34 năm qua thì đây là lúc chúng ta cùng nghỉ chân để cùng tìm lại kỷ niệm, xác định căn cước, bảo toàn các di sản cho thế hệ tương lai.

Nhưng nếu trong thời gian qua, người tỵ nạn vẫn còn đứng nguyên một chỗ khóc than cho quá khứ suốt một phần tư thế kỷ thì việc đi tìm kiếm căn cước tỵ nạn sẽ không cần thiết vì người ta chưa hề rời bỏ được gánh nặng của danh nghĩa tỵ nạn để nhập cuộc vào một dòng đời rào rạt trong nhịp sống mãnh liệt tại Hoa Kỳ.

Sau cùng thì đề tài căn cước của di dân không phải là của cả cộng đồng mà lại trở thành vấn đề của mỗi gia đình, mỗi người trong chúng ta.

Bài do tác giả gửi đăng

Phản hồi