|

Hà Nội: 1948-1954, những năm tháng cũ (3)

Trường trung học phổ thông Chu Văn An, trước kia là trường Bưởi

(Phần 1)

(Phần 2)

Nói qua những biến thiên về thời tiết, nay xin trở lại với Hà Nội của những năm 1948-1949 khi dân chúng bắt đầu tấp nập hồi cư về. Và là một học sinh của thời gian đó, tôi biết nói gì hơn là khởi đầu với những câu chuyện học đường.

Từ 1945 về trước, Hà Nội có 2 trường trung học công lập: trường Bưởi hay trường Bảo Hộ bên bờ hồ Tây cho nam sinh và trường Đồng Khánh trông ra phố Hàng Bài gần hồ Hoàn Kiếm cho nữ sinh. Dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, trường Bảo Hộ được đổi tên thành trường Chu Văn An và trường Đồng Khánh, thành trường Trưng Vương. Cuộc chiến tranh Việt Pháp đã khởi đầu vào ngày 19 tháng 12 năm 1946. Sau khi kiểm soát được thành phố Hà Nội, quân đội Pháp đã dùng nhiều trường học làm nơi trú quân. Cho nên, khi trường Chu Văn An mở lại vào niên khóa 1948-1949, trường đã phải tạm dùng trường tiểu học Thanh Quan ở phố Hàng Cót làm nơi dạy học. Sang niên khóa 1949-1950, quân đội Pháp rút ra khỏi trường nữ trung học Trưng Vương ở phố Hàng Bài thì trường Chu Văn An dọn về đây. Còn trường Trưng Vương thì có trường sở mới ở phố Hai Bà Trưng kế góc đường Lê Thánh Tông, gần viện Đại Học Hà Nội. Ngay niên khóa sau, 1950-1951, quân đội Pháp lại trả thêm trường Cao Đẳng Sư Phạm trên con đường từ góc phố Cửa Bắc chạy ngang sang góc phố Quan Thánh. Nha Học Chánh Bắc Việt lại chuyển trường Chu Văn An từ phố Hàng Bài lên đây và mở một trường nam trung học mới là trường Nguyễn Trãi tại trường sở ở phố Hàng Bài, đồng thời chỉ định những học sinh nào nhà ở bắc Hồ Hoàn Kiếm thì học tại Chu Văn An, ở nam Hồ Hoàn Kiếm thì học tại Nguyễn Trãi. Hiệu trưởng Chu Văn An thời đó là thầy Vũ Ngô Xán và hiệu trưởng Nguyễn Trãi là thầy Đào Văn Trinh.

Ngoài ra, ở Hà Nội còn có trường trung học Pháp là trường Albert Sarreau, nam nữ học chung ở khu phía bắc gần hồ Tây và 2 trường đạo là trường nam Puginier ở phố Trần Hưng Đạo (Gambetta) và trường nữ Sainte Marie ở phố Lý Thường Kiệt (Carreau),. Dĩ nhiên là quân đội Pháp, khi tìm địa điểm đồn trú quân, đã không bao giờ đụng đến các ngôi trường này. Xin nói thêm là chỉ ở Hà Nội mới có các lớp trung học đệ nhị cấp học thi tú tài, từ lớp đệ tam trở lên. Vì thế, học sinh các trường trung học công lập Ngô Quyền ở Hải Phòng và Nguyễn Khuyến ở Nam Định, sau khi hết lớp đệ tứ, nếu muốn học tiếp, thì phải lên Hà Nội vào các trường Chu Văn An, Nguyễn Trãi, hoặc Trưng Vương. Và cho đến năm 1954, Trưng Vương vẫn chưa có lớp đệ nhất thi tú tài 2, cho nên thi đậu tú tài 1 xong, các nữ sinh Trưng Vương phải chuyển sang học tại Chu Văn An hay Nguyễn Trãi.

Học sinh về thành càng đông thì càng có nhiều trung học tư thục được mở thêm vì trường công chỉ có khả năng thu nhận rất hạn chế. Hai trường mở sớm nhất là trường Dũng Lạc và trường Văn Lang.

Toạ lạc bên hông trái Nhà Thờ Lớn đứng từ ngoài nhìn vào, trường Dũng Lạc do cha Phạm Huy Mai làm hiệu trưởng và cha Nam làm giám học. Trường có cơ sở khang trang nhất với hai tầng: các lớp học rộng rãi, thoáng đãng, hai mặt nhìn ra một sân chơi có chỗ tập bóng chuyền, bóng rổ, phía bên kia là nhà chơi (préau) bên trong có bàn ping pong (bóng bàn). Trong mấy năm liên tiếp, học sinh Dũng Lạc đã đoạt chức vô địch bóng bàn đơn, anh Phạm Ngọc Hải, và vô địch đánh đôi, hai anh Phan Hữu Chương và Trần Đình Đại. Tre chưa già mà măng đã mọc, hai anh Chương và Đại tài nghệ còn đang lên thì đã có 2 mầm non sẵn sàng thay thế: hai anh Phan Hữu Cảnh, em anh Chương, và Trần Đình Thu, em anh Đại. Trường Dũng Lạc còn mở lớp nhất và lớp nhì bậc tiểu học. Ngoài các môn học chính, trường còn dạy nhạc phụ trách bởi các nhạc sĩ Hùng Lân, tác giả các bài Khoẻ Vì Nước, VN Minh Châu Trời Đông, Hè Về … và nhạc sĩ Chung Quân, tác bài Làng Tôi.

Trường Văn Lang ở khúc cong trên đường Phạm Phú Thứ gần góc phố Hồng Bàng, đầu kia trông thẳng vào chợ Hàng Da. Đây là trường sở chính, còn một trường sở phụ nữa trên phố Hồng Bàng. Trường sở chính này chỉ có 4 phòng học lớn và dài bên cạnh một sân nhỏ xíu, giờ ra chơi học trò tràn ra đứng tận ngoài đường phố, nhưng phố Phạm Phú Thứ này lúc nào cũng vắng vẻ nên không hề có trở ngại lưu thông. Giáo sư Ngô Duy Cầu là hiệu trưởng Văn Lang, chuyên dạy môn toán, Trường chú trọng đặc biệt đến các lớp đệ tứ thi Trung học phổ thông và đệ nhị thi tú tài 1. Học sinh các lớp này rất đông, có lớp tới 100 người, ít thì cũng phải 7, 8 chục, có lẽ vì trường nổi tiếng là dạy các lớp đi thi hay “trúng tủ” do đó thi đậu nhiều nên học sinh tin tưởng đua nhau tới học. Dạy môn toán lớp đệ tứ, thầy Ngô Duy Cầu dùng bộ sách 2 cuốn đại số và hình học của Marijon, và khuyên học trò mua để làm thêm ở nhà những bài tập trong sách, mỗi cuốn cả mấy trăm bài. Không rõ hai chữ “trúng tủ” thực sự được hiểu như thế nào, nhưng tôi nhớ rõ là kỳ thi trung học phổ thông khóa 2 năm 1952, bài toán hình học không gian đã được lấy nguyên văn dịch từ bài tập cuối cùng của sách Marijon, bài số ba trăm mấy chực gì đó tôi không nhớ rõ.

Trường Phan Đình Phùng bắt đầu khai giảng vào niên khóa 1950-1951 tại phố Hàng Đẫy (đại lộ Nguyễn Thái Học) do giáo sư Bùi Quang Tời làm hiệu trưởng. Trường sở là một dãy nhà 2 tầng , mỗi tầng nhiều phòng nhìn thẳng ra phố, có sân rộng phía trước, có tường với chấn song sắt chạy dài phía ngoài cùng. Có lẽ Phan Đình Phùng là trường trung học tư thục duy nhất ở Hà Nội thời đó có ký túc xá cho học sinh trọ học ăn ở ngay trong trường. Nhà văn KQ Thế Phong Đỗ Mạnh Tường, trong cuốn “Nửa đường nhìn xuống” đã kể về những ngày ông học tại Phan Đình Phùng cùng những kỷ niệm về thời gian ăn ở trong ký túc xá trường này.

Rải rác quanh phố phường Hà Nội còn nhiều trường khác như trường Nguyễn Huệ ở phố Hàng Bè của anh em giáo sư Bùi Hữu Sủng, Bùi Hữu Đột, trường Văn Hóa ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm của giáo sư Nguyễn Khắc Kham, trường Hàn Thuyên trên đường Hai Bà Trưng gần góc đường Hàng Bài nơi có rạp chiếu bóng Ciros, trường Phan Chu Trinh ở khu phố gần hồ Halais (hồ Thuyền Cuông), phố Halais tức phố Nguyễn Du, nơi có những biệt thự kiến trúc đẹp nhất Hà Nội, và trường Trương Hán Siêu trên đường Bảo Khánh từ góc phố Hàng Trống chạy thẳng xuống hồ Gươm. Các trường trung học tư thục ở Hà Nội, phần lớn vì trường sở chật hẹp, nên học sinh học một buổi để một phòng học có thể dùng cho 2 lớp, một lớp buổi sáng, một lớp  buổi chiều.

Một trường tư được mở sau cùng trước khi có cuộc di cư vào Nam là trường Minh Tân, khai giảng đầu tiên vào niên khóa 1952-1953 trên một phố rộng, tôi không nhớ tên, cắt ngang phố Huế phía gần hồ Gươm. Minh Tân là một trường lớn, được quảng cáo rộng rãi, nhiều thầy danh tiếng như các giáo sư Nguyễn Dương Đôn (Toán), Nguyễn Uyển Diễm (Việt), Nguyễn Khắc Kham (Pháp), và đặc biệt có gíáo sư Nghiêm Xuân Thiện, cựu Tổng trấn Bắc Phần trong những năm 1948-1949. Sau khi thôi làm Tổng trấn, ông sang du học bên Anh, đậu bằng Kỹ Sư và mới trở về nước. Trường đã thu hút được nhiều học sinh, nhưng chỉ được hai năm thì trường không còn nữa do cuộc phân chia đất nước.

Kể chuyện học ở Hà Nội thời đó thì không thể không nói đến các lớp hơc tư, thường được gọi là các “cua pạc” (cours particuliers), chuyên dạy về một môn nào đó, nhiều nhất là các lớp Pháp văn và Anh văn.

Sách Pháp Văn thông dụng là cuốn Morceaux Choisis des Auteurs Francais của Des Granges cho các lớp từ đệ tứ đến đệ nhị. Giáo sư Bùi Hữu Sủng có các lớp tư Pháp Văn ngay tại trường trung học Nguyễn Huệ của ông. Giáo sư Nguyễn Văn Mẫn mở lớp riêng tại nhà ở trong khu phố ngay phía bắc hồ Thuyền Cuông. Mấy tháng hè năm 1952, giáo sư Mẫn mở một lớp dạy Triết, môn Siêu Hình Học và giới hạn cho những học sinh đã học hết lớp đệ tứ trở lên. Số học sinh ghi tên cũng đến 4, 5 chục người, phần đông có lẽ vì lòng tò mò hơn là có nhu cầu học vấn.

Có một giáo sư Pháp văn thật là đặc biệt nhưng chắc ít người biết đến và nay không mấy ai nhớ tới: giáo sư Pétrus Lê Công Đắc. Ông là người đã sớm làm cuốn tự điển Pháp Việt loại nhỏ, trước những tự điển lớn của Đào Duy Anh, Đào Văn Tập sau này. Ông dạy tiếng Pháp và cả tiếng La Tinh (Latin) nữa. Người ta kể rằng luật sư Nguyễn Mạnh Tường, người đã đậu 2 bằng tiến sĩ Văn Chương và Luật Khoa năm mới có 22 tuổi, đã chấm thi tú tài Pháp ở Hà Nội, có bài viết đã bị ông Lê Công Đắc vạch ra những chỗ chê là không hay trên báo, và luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã phải công nhận là phê bình đúng. Giáo sư Lê Công Đắc bị thiên hạ coi là một ông “gàn bát sách” và từng là đầu đề chế giễu trên báo Phong Hóa của Tự Lực Văn Đòàn. Ông mở lớp Pháp Văn nhiều trình độ cao thấp tại tư gia giữa phố Gia Long, từ góc tây nam hồ Gươm nơi có Sở Cẩm Hàng Trống đi xuống, song song và gần với phố Hàng Bài. Lóp học của ông không có bàn ghế kiểu bàn ghế nhà trường. Có 1 bàn tròn thật lớn, học sinh ngồi chung quanh, và nếu không đủ chỗ thì có thêm 1 bàn vuông bên cạnh. Giáo sư ngồi giảng bài, chấm bài ở 1 bàn nhỏ phía trước. Ông cho bài tập thật nhiều, bài dịch Pháp Việt, Việt Pháp, viết chinh tả, làm luận văn. Ông vừa giảng bài, vừa trả lời câu hỏi, vừa lia lịa chấm bài không ngùng trong suốt giờ học. Có một chuyện thật lạ, không thấy ở bất cứ một “cua Pạc” nào khác: Học sinh sau khi thôi học, ít ngày sau, đều được giáo sư Lê Công Đắc đến tận nhà trả lại những bài ông chưa chấm xong hoặc đã chấm xong nhưng chua kịp trả lại trước khi học sinh đó rời lớp học. Có lẽ vì những chuyện như thế mà người ta cho ông là gàn dở.

Thủa ấy, học Anh Văn không ai không biết đến bộ Anglais Vivant của Carpentier & Fialip. Đây là bộ sách của người Pháp soạn cho học sinh Pháp học tiếng Anh. Bộ này gồm 6 cuốn, từ sixième tới première tương ứng với các lớp từ đệ thất tới đệ nhị, đệ nhất và 2 loại dựa theo màu: bleu (xanh) và beige (nâu pha vàng nhạt), chẳng hạn sixième bleu, cinquième beige, … Loại beige nhiều bài hơn loại bleu. Thí dụ quyển sixième hoặc cinquième loại bleu có 54 bài thì loại beige có 72 bài. Tuy nhiên, loại bleu chỉ thấy dùng 2 quyển sixième và cinquième thôi cho các lớp thất lục, các quyển từ quatrième trở lên thì toàn dùng loại beige. Một bộ sách nữa, ít thông dụng hơn, chỉ gồm có 2 quyển với bía sách màu nâu đỏ đậm: Quyển England and the English và quyển The British Empire, trình độ cho các lớp đệ từ và đệ tam. Còn để tập nói và luyện giọng thì có bộ điã Assimil với cuốn Anglais sans peine, phương pháp nghe đĩa để học nói cho đúng giọng. Điều bất tiện là muốn học thì phải có máy hát. Vì thế hiếm có ai dùng.

Trường tư chuyên dạy Anh Văn đầu tiên và quy mô nhất ở Hà Nội là trường Ziên Hồng của hai anh em giáo sư Lê Bá Kông và Lê Bá Khanh. Trường mở dường như ngay từ cuối năm 1948 ở góc một phố (Ngô Thời Nhiệm?) không xa phố Huế lắm. Trường chuyên trị dạy 2 cuốn 6ème bleu và 5ème beige, lên cao hơn là đến lớp đệ tứ, nghĩa là trình độ các lớp phổ thông. Có thể so sánh Ziên Hồng với trường Anh Văn Nguyễn Ngọc Linh ở Sài Gòn sau này, có khác là chương trình sau này không dùng bộ Anglais Vivant nữa và phần thực hành được chú trọng tới nhiều hơn.

Học Anh Văn cấp phổ thông thì có Ziên Hồng, nhưng đến các lớp Anh Văn chuyên khoa thi tú tài 1 và tú tài 2 thì đã có giáo sư Bùi Ý. Nhiều học sinh các lớp đệ nhị và đệ nhất ban văn chương C các trường công và tư ở Hà Nội những năm 1952-1954 hẳn còn nhớ căn nhà 3 tầng ở phố Vũ Lợi, khu gần hồ Halais, nơi giáo sư Bùi Ý mở các lớp Anh Văn tư ở phòng học trên tầng giữa. Giáo sư Bùi Ý hồi cư về Hà Nội vào gần giữa năm 1950, thoạt tiên dạy tại trường Nguyễn Huệ và trường Phan Đình Phùng đồng thời mở mấy lớp Anh Văn tư trình độ đệ tứ. Dần dần ông được học sinh biết tiếng là một giáo sư giỏi, dạy hay, tận tâm, có kiến thức cao. Bắt đầu từ hè năm 1952, các lớp tư của ông chuyển về phố Vũ Lợi và ông chỉ còn mở các lớp từ đệ tam trở lên mà thôi. Lớp nào của ông cũng không còn chỗ trống, mỗi lớp có khoảng 40 học sinh. Suốt thời gian này, dạy tư Anh Văn lớp đệ nhị cấp để luyện thi tú tài 1 và tú tài 2, theo tôi nhớ, chỉ có giáo sư Bùi Ý. Cũng có nhiều giáo sư khác như các giáo sư Dương Tự Nguyên, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Xuân Kỳ trường Nguyễn Trãi, giáo sư Nguyễn Văn Nguyên, giáo sư Thiều (tôi không nhớ họ) trường Chu Văn An, … nhưng các vị này không mở lớp dạy tư. Một điểm đặc biệt khác nữa là giáo sư Bùi Ý tự học, tự luyện về môn Anh Văn. Năm 1946, ông đã được học bổng du học ở Luân Đôn bên Anh và đã có thông hành nhưng chiến tranh xảy ra nên chuyến đi đành hủy bỏ.

Hà Nội thời ấy không có nhiều cửa hàng bán sách báo. Tôi nhớ có hiệu sách Nam Hoa phố Đinh Tiên Hoàng trông sang trạm xe điện chinh trước Hồ Gươm, 1 hiệu sách nữa cũng ở bờ hồ gần Phòng Thông Tin nhìn ra Đền Bà Kiệu. Phố Hàng Bông có nhà sách và nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh và phố Huế có nhà sách và nhà xuất bản Thế Giới, hay in các bản nhạc. Riêng người Pháp có cửa hàng bán sách báo tiếng Pháp và tiếng ngoại quốc khác như tiếng Anh ở ngay tầng dưới cùng của nhà xuất bản IDEO, tức Kim Lai Ấn Quán phố Trường Tiền. Nhà sách này kể như là lớn nhất Hà Nội, cũng tương tự như nhà sách Albert Portail ở đường Tự Do Sài Gòn những năm giữa thập niên 1950, sau đổi tên thành nhà sách Xuân Thu.

Có học thì có thi, nhưng thi rồi có đậu hay không nhiều khi chỉ còn biết lấy câu “học tài thi phận” để tự an ủi. Thi cử đối với lũ học sinh chúng tôi lúc nào cũng như một cơn ác mộng. Bởi vì số người dự thi thì nhiều nhưng số thi đậu thì lại quá khó. Kỳ thi trung học phổ thông khóa 1 năm 1952, cả hội đồng Hà Nội có trên 2000 thí sinh mà chỉ có từ 400 tới 500 người đậu. Còn may là không cần đậu cấp bằng này vẫn lên được lớp đệ tam. Kỳ thi tú tài 1 khóa 1 năm 1954, cả hội đồng thi ở Hà Nội cho toàn cõi Bắc Phần có gần 2000 thí sinh mà chỉ có chưa tới 500 học sinh trúng tuyển. Mà không trúng tuyển tú tài 1 thì không được lên lớp đệ nhất thi tú tài 2. Vì vậy, vào mùa thi, chúng tôi phải học ngày học đêm, tới mức gọi là học “gạo”. Tôi nhớ lúc đó có phong trào học sinh đua nhau mua thuốc Maxiton uống để có thể thức khuya học bài, làm bài. Không hiểu hồi đó có ai dùng nhiều thuốc quá đến nỗi bị ảnh hưởng đến tâm thần không, riêng tôi chưa từng nghe nói tới.

Học thì vất vả như thế đấy, nhưng có học thì phải có chơi  Những năm 1948-1954, Hà Nội ở trong tình trạng chiến tranh cho nên phần đông đi chơi thì chỉ quanh quẩn trong thành phố hoặc ra vùng ngoại ô gần như hồ Tây, Voi Phục, Chùa Láng … Tất nhiên là phải đi bằng xe đạp. Nếu rộng thời giờ thì có thể đi xa hơn nữa, 12 cây số vào Hà Đông rồi từ đây đi thêm khoảng đường dài như vậy là tới Chùa Trầm. Chùa Trầm là một ngôi chùa xây từ đầu thế kỷ thứ 16 trên lưng chừng một quả núi nhỏ, Trầm Tử Sơn. Dưới chân núi có 1 hang miệng rộng nhưng không sâu lắm có tên là động Long Tiên. Có một đường mòn đi lên đỉnh núi, một khoảng bằng phẳng rộng chừng 2, 3 chiếc chiếu. Xa hơn chừng qúa một cây số nữa là đến Chùa Trăm Gian, còn gọi là Chùa So. Chùa cất trên một quả đồi cao chừng 50 thước, còn cổ hơn chùa Trầm, xây vào khoảng đầu thế kỷ thứ 12. Từ ngoài đi vào, lên mấy chục bậc là tới sân chùa. Gọi là Chùa Trăm Gian vì hai bên hành lang có 100 gian, cứ 4 cột thì coi là một gian. Có lẽ đây là địa điểm đi chơi xa nhất mà chúng tôi có thể tới được.

Môn thể thao mà thanh niên học sinh Hà Nội ưa thích nhất là bơi lội. Cả Hà Nội lúc đó chỉ có một hồ bơi (piscine) dành riêng cho nguòi Pháp bên trong sân vận động cũng của người Pháp, sân Mangin ở Cửa Bắc, xế bên vườn hoa Canh Nông. Chúng tôi chỉ đi tắm, đi bơi ở sông, ở hồ. Sông đây là nhánh nhỏ của sông Hồng, phía Ô Quan Chưởng đi thẳng ra, có bãi cát và bờ bên kia nhánh sông là hòn đảo dài với những đá tảng lớn, khoảng cách chừng vài trăm thước. Chúng tôi thường bơi qua, leo lên ngồi chơi trên những tảng đá này. Còn hồ thì là hồ Tây, phía Yên Phụ đi thẳng lên, với các điạ danh như Nghi Tàm, Quảng Bá, nơi ven hồ có những bãi cát nhỏ, đủ để từ đó chúng tôi đua nhau bơi ra ngoài hồ phía xa rồi trở vào. Có một địa điểm nữa mà đôi khi chúng tôi cũng đến như là để thay đổi không khí. Đó là Rặng Ổi. Đây là 1 khúc sông nhỏ từ sông Cái tách vào, chiều ngang chừng hơn 50 thước, trên bờ là một vườn ổi xanh tươi. Chỉ những ai biết bơi mới tắm ở đây được vì không có bãi cát, từ bờ nhảy xuống là nước sâu tới ngực, tới cổ ngay.

Mùa hè năm 1950, thanh niên học sinh Hà Nội đã đến Sở Thanh Niên Thành Phố để ký tên vào danh sách trưng cầu ý kiến về vụ xây một hồ bơi tại hồ Tây trên đường Cổ Ngư. Sau đó ít tháng, hồ bơi đã được thực hiện xong , ngay cạnh con đường đất đi vào chuà Trấn Quốc. Từ trong bờ đi ra, mực nước dần dần từ nông tới sâu, đáy hồ được vét bùn, đổ đá sởi, ngoài cùng có đường dây ngăn ranh giới hồ tắm. Có cầu nhẩy ở nhiều mức khác nhau từ thấp tới cao, có phòng thay quần áo, nam nữ riêng biệt. Từ đó, học sinh Hà Nội có nơi tắm chinh thức, đông đảo người lui tới, nhất là cuối tuần, chiều thứ bẩy tới trọn ngày Chủ Nhật. Chỉ có một điều bất tiện là sát ngay bên ngoài chùa, nơi tu hành thanh tịnh mà hàng ngày lại ồn ào tiếng người nói cười đùa nghịch, rồi trên con đường đất chật hẹp ra vào chùa lại có những thanh niên thiếu nữ mặc đồ tắm lượn lờ qua lại, thì những vị sư trong chùa hay khách thập phương viếng chùa hẳn không khỏi cảm  thấy khó chịu trong lòng.

Ngoài bơi lội, nhiều học sinh cũng ham chơi thể dục thể thao. Hà Nội có 2 sân vận động có tường bao bọc chung quanh, nghĩa là có thể bán vé vào cửa trong những buổi tranh tài thể thao, phần nhiều là bóng tròn: sân Mangin của người Pháp và sân Septo của người Việt trên phố Hàng Đẫy. Sân Mangin có khán đài chính với mái che và khán giả ngồi xem trên ghế dài dọc theo từng bậc, khu danh dự có ghế với tựa lưng riêng cho quan khách. Đối diện với khán đài chính phía bên kia sân là khán đài phụ, không mái và không ghế ngồi. Sân Septo chỉ có khán đài chính có mái che nhưng không có ghế, khán giả ngồi bệt trên bậc xi măng.

Đương nhiên là học sinh chúng tôi tập các môn chạy nhẩy ở sân Septo, thường thường vào chiều thứ bẩy và ngày chủ nhật. Một số các anh ham luyện tập cho có thân hình lực sĩ thì sáng đến trường, chiều ghé sân vận động tập tạ và có ít anh tập cả môn quyền Anh, nôm na là đánh “bốc” (boxe) trong ‘lò’ quyền Anh của võ sĩ Vĩnh Tiên. Võ sĩ Vĩnh Tiên là vô địch quyền anh hạng Gà, đã từng đại diện Việt Nam trong thế vận hội năm 1952 tại Helsinki, Phần Lan. Chúng tôi thỉnh thoảng tập xong lại ghé phòng dạy võ của võ sĩ Vĩnh Tiên nghe ông kể về chuyến đi tranh tài ở xứ Bắc Âu của ông. Thế vận năm 1952 tại Phần Lan là kỳ thế vận đầu tiên Việt Nam cử lực sĩ đến tham dự.

Ngoài võ sĩ Vĩnh Tiên môn quyền Anh hạng Gà (Coq), còn có Võ sĩ Nguyễn Văn Dậu môn quyền Anh hạng Ruồi (Mouche), tay đua xe đạp Lưu Quần, và lực sĩ điền kinh môn chạy bộ đường dài là Trần Văn Lý. Lần dầu dự thi cho nên cũng chỉ là cho có mặt chứ phái đoàn Việt Nam không trông mong tranh ngôi đoạt giải gì. Võ sĩ Vĩnh Tiên thua ngay ở vòng đầu. Võ sĩ Nguyễn Văn Dậu, vì nhà dìu dắt coi nhầm giờ đấu trên lịch trình tranh đua, khi đến nơi thì đã quá giờ và ban tổ chức coi là bỏ cuộc, nên đã không có dịp tranh tài. Trong cuộc đua đường trường, cua-rơ Lưu Quần Việt Nam về hạng thứ 37, nhưng vẫn đứng đầu các tay đua Á Châu. Riêng lực sĩ Trần Văn Lý thi môn chạy 10 cây số. Khi lực sĩ Emile Zatopek của Tiệp Khắc với danh hiệu “cái đầu máy xe lửa” về nhất, rồi tất cả các lực sĩ khác cũng đã chạy xong thì lực sĩ Trần Văn Lý của Việt Nam vẫn còn phải chạy trọn một vòng nữa mới tới đích. Nhưng anh vẫn kiên nhẫn không chịu bỏ cuộc, chạy cho hết vòng, và vòng chạy cuối cùng này Trần Văn Lý đã được khán giả Phần Lan nhiệt liệt hoan hô, hoan hô cái tinh thần tranh đua cho đến cùng chứ không phải hoan hô về tài nghệ.

Lò Quyền Anh Vĩnh Tiên đã đào luyện được một số võ sĩ trong đó có các võ sĩ Nguyễn Bằng, Nguyễn Dậu ở phố Nam Ngư, một đầu nối với phố Hàng Lọng, đầu kia nối với đường Phan Bội Châu. Hai anh Bằng, Dậu là dân càn, bạt hùng cứ ở khu Chợ Cửa Nam. Nói đến các tay càn, bạt ở Hà Nội thời đó thì nổi tiếng nhất phải là Ngọc Toét hay Ngọc Chả Cá vì nhà có cửa hàng bán Chả Cá ở phố Lã Vọng. Kế đó là Bằng Xoăn, Phúc Xế, Ngọc Lò Sũ, các võ sĩ Bằng, Dậu, … Phúc Xế là học sinh Nguyễn Trãi, niên khóa 1952-1953 học lớp đệ nhị C, nhưng rồi bị động viên và vì không có bằng trung học phổ thông cho nên đã phải vào học lớp hạ sĩ quan ở Quảng Yên.

Sân vận động Mangin nhờ có sức chứa nhiều khán giả và có nhiều tiện nghi hơn nên luôn luôn là nơi tổ chức những trận đấu quan trọng như giữa các hội tuyển Bắc, Trung và Nam trong giải Thống Nhất, các trận giao hữu với các hội ở Sài Gòn ra như Ngôi Sao Gia Định, Cảnh Sát Sài Gòn, AJS, và các trận giao hữu quốc tế, nhất là với các hội ở Hồng Kông qua như Nam Hoa, Kiệt Trí, các hội Âu Châu như Hội tuyển Quân Đội Pháp (hè 1952), Hội Djurgarden Thụy Điển (1953), Hội Kodge BoldClub, Đan Mạch (1953). Giá vé các trận quốc tế thời đó là 20 đồng cho hạng bình dân. Các hội Hà Nội được cử ra nghênh tiếp các đội bóng từ xa đến là hội Cảnh Sát Công An (Police-Sureté) với các danh thủ trung ứng Trần Văn Ứng, hữu biên Đoàn Khê Vinh tức Khê với tước hiệu Thăng Long Xích Thố, thủ môn Thọ Ve, trung phong Hùng Mậu Hối, .., hội Tổng Hành Dinh (A S Services) của quân đội Pháp với trung ứng Camille và tiền đạo Privet, Hội Tuyển Quân Đội, và Hội Tuyển Bắc Phần.

Môn giải trí khác mà hầu hết các học sinh nam nữ ưa thích là coi chiếu bóng đến nỗi đã có hẳn một tờ báo (tuần hay tháng tôi không nhớ rõ) chuyên về chiếu bóng. Trước hết, xin điểm qua các rạp chiếu bóng ở Hà Nội thời bấy giờ. Phố Trường Tiền có rạp Eden, phố Hàng Bài có rạp Majestic và một rạp nhỏ ngay bên cạnh có tên là Studio Majestic, phố Đinh Tiên Hoàng gần Đền Bà Kiệu có rạp Philharmonique. Đây là những rạp từ thời tiền chiến và người Pháp thường lui tới. Cũng ở góc phố Hàng Bài và phố Hai Bà Trưng gần trường trung học Hàn Thuyên có rạp Ciros. Trước chợ Hàng Da có rạp Olympia. Rạp này cũng có từ trước năm 1945. Các rạp mở sau năm 1947 có Đại Nam, một rạp lớn ở phố Huế gần dưới Chợ Hôm, rạp Kinh Đô ở vườn hoa Cửa Nam gần nhà thuốc tây Thẩm Hoàng Tín, rạp Bắc Đô ở phố Hàng Giấy và rạp Long Biên ở phố Hàng Chiếu, hai rạp sau này ở khu lân cận chợ Đồng Xuân. Còn có một rạp ở phố Hàng Buồm, khu phố Tàu, có tên là Porte d’Or (Kim Môn hay Cửa Vàng), nhưng không chiếu phim Tàu mà chiếu phim Mỹ hay Pháp.

Hà Nội chưa từng có rạp chiếu bóng thường trực (permanent) như ở Sài Gòn mà chiếu từng xuất. Có nhiều giá vé. Thấp nhất là hạng Orchestre, những hàng ghế ngồi sát gần màn ảnh. Orchestre nghĩa là ban nhạc, trong rạp hát ban nhạc thường ở vị trí ngay bên dưới sân khấu, Vé hạng Orchestre là vé ngồi kế cận vị trí của ban nhạc. Nếu đi coi ca kịch vũ nhạc hay cải lương mà ngồi chỗ Orchestre gần với sân khấu để coi rõ mặt các tài tử thì là nhất rồi, nhưng ngồi coi chiếu bóng ở đây gần màn ảnh thì đúng là hạng bét.  Vé hạng kế trên là Parterre, những hàng ghế ở khoảng giữa rạp. Cao nhất ở tầng dưới là Fauteuil, hạng gọi là ghế bành nhưng thực ra cũng chỉ là ghế thường, ở xa màn ảnh nhất. Vé giá đắt nhất là hạng Balcon, cho những rạp có tầng gác ở trên. Giá vé thông thường cho các hạng là 10, 15, 20, 25 đồng. Có một số rạp bán giá vé đồng hạng 10 đồng cho xuất 10 giờ sáng Chủ nhật và học sinh chúng tôi đua nhau tới sớm để có cơ hội được ngồi ghế các hạng Fauteuil và Balcon.

Có những phim chúng tôi mong ngóng từng ngày từ khi biết qua quảng cáo, những phim loại ca vũ nhạc như La fille de Neptune, Match d’Amour, Un Americain à Paris, Les chaussons rouges, Escale à Holywood, những phim lịch sử như Les trois mousquetaire, Ivanhoe, những phim vĩ đại như Samson et Dalida, Quo Vadis những phim tình cảm như La valse dans l’ombre, và đặc biệt là Autant en emporte le vent lần đầu tiên có một phim dài tới 4 tiếng , và còn nhiều loại khác nữa. Hầu hết là phim Mỹ nhưng nói tiếng Pháp và phim cũng có tên bằng tiếng Pháp. Chúng tôi cũng thuộc nằm lòng tên và tiểu sử của những minh tinh tên tuổi thời đó như các nam tài tử Clark Gable, Robert Taylor, Gene Kelly, John Wayne, … các nữ tài tử như Ava Gardner, Lana Turner, Liz Taylor, Esther Williams, … Năm 1951 hay 1952, tạp chí chiếu bóng ở Hà Nội đã trưng cầu ý kiến và 2 tài tử Gene Kelly và Esther Williams đã được chọn là cặp tài tử được ái mộ nhất.

Cũng có 2 cuốn phim Việt Nam đã được thực hiện trong thời gian này. Phim Kiếp Hoa tại Hà Nội, 1 phim đen trắng do các tài tử trong đoàn cải lương Kim Chung đóng vai chính như Kim Chung, Kim Xuân, Ngọc Toàn. Phim Bến Cũ tại Sài Gòn, một phim mầu do Hoàng Vĩnh Lộc và  Bích Ngà thủ vai chính. Là những phim Việt Nam đầu tiên cho nên khán giả đua nhau đi coi, được khích động vì lòng tò mò hơn là tin tưởng ở giá trị nghệ thuật của cuốn phim cũng như tài nghệ diễn xuất của tài tử. Thời ấy cũng có mấy phim Tàu do nữ tài tử nổi tiếng là Lý Lệ Hoa đóng, nhưng phim không hề được chiếu ở rạp Porte d’Or của Tàu phố Hàng Buồm, mà chiếu ở các rạp có đông thanh niên học sinh hay lui tới.

Các phim Kiếp Hoa, Bến Cũ dầu sao cũng chỉ ở trình độ phôi thai trong ngành điện ảnh và về văn nghệ đích thực thì phải nói đến tiểu thuyết và thi ca. Ngay từ cuối năm 1948 khi mới hồi cư về Hà Nội, tôi đã thấy có tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy của ông Vũ Đình Long, tuần báo nổi tiếng thời tiền chiến mà tôi đã một thời ham thích khi mới có 9,10 tuổi. Tuần báo lúc này có khổ nhỏ hơn trước, lớn hơn tạp chí Reader Digest một chút, mỗi số chỉ có mấy chục trang. Lần đầu tiên tôi biết đến Hoàng Cầm qua các kịch thơ Lên Đường và Cô Gái Nước Tần. Báo cũng đăng truyện dài Tam Quốc Chí. Qua đến năm 1950, Tiểu Thuyết Thứ Bảy chuyển sang khổ lớn hơn, bìa chỉ in thay đổi màu sắc chứ không có hình ảnh như báo thời tiền chiến và đã thấy xuất hiện một số bài có khuynh hướng thân kháng chiến. Cũng khoảng thời gian này, ông Vũ Đình Long cho ra mắt lại Phổ Thông Bán Nguyệt San, mỗi số một truyện dài. Tuy gọi là Bán Nguyệt San, nhưng thời kỳ này tạp chí không ra mắt đều đặn nửa tháng 1 truyện được. Tôi nhớ có số đăng trọn 1 vở kịch dài của Tiền Phong, hình như có tên là Bông Hồng Dại. Tạp chí này chỉ ra được 5 số thì ngưng hẳn; số cuối cùng đăng một truyện dài của Vĩnh Lộc. Tiếp theo không lâu, tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy cũng âm thầm đóng cửa, vào khoảng năm 1952, có lẽ gặp nhiều khó khăn vì thiếu bài vở và không phát hành rộng rãi được.

Các văn thi sĩ tiền chiến phần lớn còn đi theo kháng chiến. Hồi cư về Hà Nội, tôi được biết, chỉ có mấy người trong số có nhà văn Ngọc Giao, nhà có cửa hàng ở phía đầu phố Hàng Chiếu, gần chợ Đồng Xuân. Ông cho tái bản những tiểu thuyết viết thời tiền chiến và sáng tác mấy truyện dài tình cảm như Quán Gió, Cầu Sương kể những chuyện tản cư, hồi cư của các nhân vật tiểu tư sản mang dấu vết thời đại. Ngọc Giao vào các năm 1949-1950 có viết một tiểu thuyết đăng hàng ngày trên nhật báo thật là đặc biệt có tên là “Đất”, cũng là chuyện tản cư về miền quê với nhân vật “Xã Bèo”, trong đó ông châm biếm, chế nhạo một cách thật lý thú những con người mới do thời cuộc tạo nên vào những ngày đầu kháng chiến. Khoảng năm 1950, ông cho xuất bản tờ tuần báo cho thiếu nhi có tên là ‘Cậu Ấm Cô Chiêu’, báo quán đặt ở nhà in Văn Hồng Thịnh phố Hàng Bông, nhưng tờ báo chỉ sống được một thời gian ngắn ngủi.

Cùng với Ngọc Giao còn có Vũ Bằng, cả 2 ông đều từng cộng tác mật thiết với Tiểu thuyết Thứ Bảy của Vũ Đình Long thời tiền chiền. Hồi cư về Hà Nội, Vũ Bằng tiếp tục là cây viết chủ lực cho Tiểu Thuyết Thứ Bẩy với các truyện dài như “Chớp bể mưa nguồn”, “Khúc Ngâm trong Đất Hà”, “Tân Liêu Trai”, và các truyện ngắn mà cốt chuyện thật là  giản dị thuộc loại mà ông đặt tên là “truyện không có truyện”. Nhưng loại ‘truyện không có truyện’ này không được độc giả thưởng thức cho nên đã sớm chìm vào dĩ vang, không một tiếng vang. Loạt bài “Miếng Ngon Hà Nội” sau được xuất bản thành sách tại Sài Gòn đã được Vũ Bằng khởi sự viết từ thời kỳ này.

(còn tiếp)

© Đỗ Văn Minh

© Đàn Chim Việt

 

1 Phản hồi cho “Hà Nội: 1948-1954, những năm tháng cũ (3)”

  1. Hoàn toàn đồng ý với Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thúc Vy và Huỳnh Trọng Hiếu

Phản hồi