|

Hiến pháp phải gắn liền với con người Việt Nam.

Muốn thiết lập một Thể Chế Tự Do Việt Nam cần một Hiến Pháp Dân Chủ điều này không cần phải bàn tới, nhưng có người vẫn tin rằng phải trở lại với Hiến Pháp 1946.

Trên diễn đàn BBC trước đây, người viết chứng minh rằng chính Hiến Pháp 1946 xây dựng nền tảng cho thể chế độc tài cộng sản. Các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Hiến Pháp này không được rõ ràng. Nghị Viện (Quốc Hội) chỉ có Một Viện duy nhất và cũng chính Viện này lại bầu lên một Chủ tịch nước. Quyền hạn của chủ tịch nước được liệt kê ở Điều thứ 49, cho phép chủ tịch nước các quyền hạn tuyệt đối không thua gì Tổng Thống Hoa Kỳ.

Nhưng đến Điều thứ 50 lại ghi rõ “Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc.” Khi ấy Hồ chí Minh là chủ tịch nước, Điều 50 đặt ông Hồ trên cả Hiến pháp và Luật pháp quốc gia.

Ông Hồ còn kiêm nhiệm chủ tịch đảng Cộng sản. Điều 50 như vậy sửa soạn cho cả một guồng máy chuyên chính cộng sản thần thánh hoá biến ông thành nhà độc tài trong một thể chế chuyên chính toàn trị. Vì thế ông Hồ đã tùy tiện xé bỏ Hiến Pháp 1946 để thay bằng các Cương Lĩnh Đảng 1959, 1980 và 1992. Thật ra dưới chế độ cộng sản Hiến Pháp chỉ là hình thức. Mọi quyết định đều từ các Nghị Quyết Đảng và không ít Nghị quyết hòan tòan vi hiến, thí dụ Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Công Thương Nghiệp hay Nhân Văn Giai Phẩm.

Học theo gương Hồ chí Minh đặt chủ tịch trên Hiến Pháp trên Luật Pháp Quốc Gia, các cháu ngoan của “Bác” đặt Điều 4 vào Hiến Pháp thôn tính tất cả quyền lực nhưng chẳng ai “phải chịu một trách nhiệm nào”. Trường hợp Đại tá Công an Đỗ Hữu Ca vi phạm Hiến Pháp và luật pháp tấn công lương dân nhưng lại trở thành người điều tra xét xử, trong khi gia đình Đòan văn Vươn vì tự vệ lại phải tù. Nhờ tiếng súng của gia đình Đòan văn Vươn mới biết Hiến Pháp 1992 không có điều lệ nào cho phép quân đội (và cả công an) tham gia cưỡng chế đất đai. Hai lực lượng này là để bảo vệ dân chứ không phải để tấn công dân. Còn “luật đất” thì có nhưng nhà nước cộng sản không áp dụng mà chỉ dùng “luật rừng”. Tình trạng lộng quyền đã nói lên tình trạng khủng hỏang Hiến Pháp, khủng hỏang luật pháp và phá sản của guồng máy cai trị tại Việt Nam.

Hồ chí Minh còn sợ bị người dân lật mặt nạ phản quốc. Con và cháu “Bác” ngày nay thì vượt “Bác” ở chỗ không sợ cả tội phản quốc công khai bán nước cho Tầu.

Nhưng khuyết điểm lớn nhất của Bản Hiến Pháp 1946 là thiếu vắng “con người Việt Nam”. Một Hiến Pháp đúng nghĩa cho Việt Nam cần gắn liền với làng xã với con người Việt Nam.

Hiến Pháp Hoa Kỳ

Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ đã xác nhận “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc“. Tư tưởng này là nền tảng cho Bản Hiến pháp Hoa Kỳ, nó đặt quyền người dân trên hết, còn quyền hạn của Chính phủ và Quốc Hội là những quyền do người dân ủy nhiệm.

Một mô hình tam quyền phân lập rõ ràng được đưa vào Hiến Pháp Hoa Kỳ. Quốc hội được trao quyền lập pháp, Tổng thống quyền hành pháp và Tòa án quyền tư pháp. Các quyền của mỗi nhánh lại được cân bằng và kiểm soát bởi các quyền của hai nhánh kia.

Hiến pháp Hoa Kỳ còn nêu rõ quyền hạn của các viên chức chính phủ. Các Nghị sỹ Dân Biểu chỉ được tiếp tục phục vụ nếu họ được tái bầu cử trong các cuộc bầu cử có định kỳ. Các viên chức bổ nhiệm phải được bổ nhiệm theo đúng Hiến Pháp. Nhờ Bản Hiến Pháp này Hoa Kỳ đã thiết lập một chính quyền Trung Ương Liên bang có thực quyền và thống nhất quyền lực đưa Hoa Kỳ từ những thuộc địa trở thành một cường quốc số một trên thế giới.

Cũng chính nhờ Bản Hiến pháp đặt quyền con người trên hết, dù xuất thân từ bất cứ nguồn gốc nào, mỗi người dân đều gắn bó với đất nước trong một niềm tự hào chung là công dân Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Và vì thế Hiến Pháp Hoa Kỳ đã trở thành một Hiến Pháp kiểu mẫu, một mô hình kiểu mẫu được nhiều quốc gia trên thế giới noi theo.

Hiến Pháp 1946 Thiếu Vắng Con Người Việt Nam

Trong bài “Viễn Tượng Việt Nam”, người viết có nhắc đến những người sọan ra Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945 đã sao chép những lời vàng ngọc trong Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ. Trước đó năm 1919 tại Hội Nghị Versailles, nhân Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson tham dự và phát biểu về quyền tự quyết dân tộc, Nhóm Người Việt Yêu Nước Nguyễn ái Quốc đã gởi bản “Yêu sách của Nhân Dân Việt Nam” với yêu sách thứ bẩy mong người Pháp ban hành Hiến Pháp cho Việt Nam. Điều này cho thấy giới trí thức Việt Nam từ lâu đã hướng đến Hoa Kỳ như một quốc gia mẫu mực cho Việt Nam noi theo.

Hiến Pháp 1946 cũng được xây dựng dựa trên Hiến Pháp Hoa Kỳ như Điều 49 quyền hạn của Chủ tịch nước tương tự như quyền hạn của vị Tổng Thống Hoa Kỳ. Nhưng các điều khác trong Hiến Pháp này lại trái ngược như tam quyền không phân lập. Việc nghiên cứu tìm hiểu thêm về Hiến Pháp này sẽ giúp cho chúng ta nắm được một giai đọan lịch sử mà tòan dân vừa giành được độc lập đang hướng đến xây dựng một thể chế tự do theo khuôn mẫu Hoa Kỳ.

Điều cần nói Hiến Pháp Hoa Kỳ là mô hình xây dựng cho một quốc gia lớn gồm nhiều cựu thuộc địa và dân chúng xuất xứ từ nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng tất cả đều ham muốn tự do và quyết tâm khai phá miền đất mới Hoa Kỳ.

Trong khi ấy Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp nhỏ. Vào năm 1946 có đến 90 phần trăm dân Việt sống ở nông thôn và cơ cấu hạ tầng của Việt Nam là làng xã. Người Việt luôn gắn bó với làng xã quê hương. Cho dù phải sống xa quê hương người Việt luôn hướng về làng mạc nơi ông cha họ đã khai phá gầy dựng. Chương V của Hiến Pháp 1946 đề cập đến cơ cấu và trách nhiệm Hội Đồng Nhân Dân và Ủy Ban Hành Chánh. Nhưng Chương này nhằm mục đích duy nhất là để Trung Ương cai trị địa phương và địa phương cai trị người dân.

Hiến Pháp 1946 cùng chung mục đích với Hiến Pháp Hoa Kỳ ở chỗ nó hướng đến việc tập trung quyền lực về Trung Ương. Tòan Bản Hiến Pháp 1946 thiếu hẳn sự kết hợp và tham dự của người dân địa phương vào việc hình thành chính sách và chiến lược quốc gia.

Đất và Con Người trong Mô Hình Phát Triển Quốc Gia

Đất, tài nguyên, tiền vốn, kỹ thuật, nhân lực và tri thức là các yếu tố chính trong một nền kinh tế quốc gia. Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp. Đến nay 70 phần trăm dân chúng vẫn sống tại thôn quê.

Theo Hiến Pháp hiện hành đất nông nghiệp không thuộc sở hữu nông dân mà thuộc sở hữu nhà nước. Nói cách khác người nông dân chỉ là những bần nông không ruộng không vườn. Dù họ đang sống trên mảnh đất do ông cha để lại, nhưng mảnh đất này đã bị đảng Cộng sản tước mất chủ quyền. Mất quyền sở hữu là mất động năng để người nông dân cần cù chăm sóc cho mảnh ruộng, mảnh vườn. Mất động năng làm việc người nông dân sẽ chỉ làm đủ sống qua ngày. Dân nghèo thì nước cũng nghèo.

Nhà nước giao đất cho nông dân và có quyền lấy lại đất bất cứ lúc nào. Quyền lấy lại đất lại bị các giới chức cầm quyền từ trung ương đến địa phương lạm dụng. Cũng như gia đình Đòan văn Vươn hằng triệu nông dân và gia đình đã, đang và sẽ lâm vào đường cùng. Trong khi đó giới chức cầm quyền càng ngày càng trở nên giàu có và quyền lực hơn.

Các phương cách thu hút vốn đầu tư hay phương cách phân chia vốn đầu tư quốc gia chủ yếu tập trung vào các thành phố các khu công nghệ càng làm cho nông thôn trở nên nghèo khó hơn. Người nông dân phải đóng thuế nhưng họ đóng thuế để phục vụ người giàu. Hậu quả là nông dân phải tha phương cầu thực hay sống nghèo đói tại quê nhà.

Một quốc gia mà phân cách giầu nghèo giữa thôn quê và thành thị càng ngày càng bị đào sâu thì dù giầu có cách mấy cũng không thể xem là một quốc gia phát triển. Đằng này Việt Nam lại là một nước nghèo và nông thôn Việt Nam ngày càng nghèo thêm.

Nói tóm lại cái nghèo của dân quê là do đảng Cộng sản tước bỏ tất cả các quyền mà tạo hóa đã ban cho con người. Muốn đất nước thóat khỏi cảnh nghèo vươn lên một Hiến Pháp mới phải gắn liền với làng xã Việt Nam, quyền của người nông dân phải được mang vào Hiến Pháp này.

Việt Nam Đất Nước của Làng Xã

Khi quân Nguyên xâm chiếm nước ta vua Trần cho vời các vị bô lão đại diện cho làng xã Việt Nam về kinh để xin ý kiến: Nên hòa hay nên chiến? Đây là bản sắc của dân tộc Việt Nam, là sự gắn bó dân chủ giữa trung ương và địa phương, là sự đòan kết giữa người cầm quyền chính danh và người dân từ khắp các thôn quê làng mạc.

Sự thất bại của chế độ cộng sản thúc đẩy chúng ta quay về tìm lại bản sắc dân tộc. Một trong những bản sắc nổi bật nhất chính là làng Việt truyền thống một tổ chức vô cùng đặc biệt. Trong bài viết mới đây tác giả Trần Trung Chính đã chỉ rõ làng là một tổ chức xã hội dân sự.

1. Mỗi làng đều có chợ, chùa, đình, văn từ văn chỉ, đền-miếu, công quán-điếm sở, giếng làng-ao làng, cổng làng, kho nghĩa sương, hệ thống đường làng, nghĩa trang làng và công điền-ruộng công. Nghĩa là mỗi làng đều có mọi phương tiện dịch vụ công cộng nhằm phục vụ cư dân trong làng trong xã.

2. Mỗi làng có pháp chế riêng (hệ thống hương ước), có tín ngưỡng của từng làng (thành hoàng làng)… Các hệ giá trị của làng được dân làng coi trọng như pháp luật nhà nước.

3. Người đứng đầu do các thành viên của làng bầu lên, được khởi đầu vào thời Lê đến thời Hậu Lê đã hoàn thiện và phổ biến áp dụng. Theo Đào Duy Anh việc quản trị hệ thống làng Việt Nam theo kiểu: “Công việc làng thường do dân làng bàn định, chứ nhà nước ít can thiệp đến, mà nhiều khi nhà nước có can thiệp cũng vô hiệu quả, cho nên ở nước ta có câu tục ngữ rằng: Phép vua thua lệ làng”.

Chính nhờ thế khi đất nước lâm nguy, khi quân Tầu xâm lược làng xã mới nối kết để giữ gìn từng tất đất do ông cha để lại.

Cuộc Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc mục tiêu chính là đánh vào cơ cấu hạ tầng dân tộc để đặt lên một guồng máy trung ương tập quyền nhằm kiểm sóat địa phương. Guồng máy này đang trong thời kỳ phá sản và một thể chế tự do sớm muộn gì cũng sẽ đến với Việt Nam.

Từ đầu thế kỷ thứ 20 đến nay người Việt chuộng khuynh hướng hướng ngọai tìm cái hay của ngọai quốc. Điều này rất tốt nhưng cái hay của người ngòai thường khi lại không thích hợp với đất nước với dân tộc Việt Nam. Thể chế tự do chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Để phục hồi xây dựng lại đất nước chúng ta chỉ còn một con đường là quay về gìn giữ những giá trị mà ông cha ta để lại trong đó có giá trị dân chủ trong tổ chức làng xã đã nói bên trên.

Hiến Pháp Thụy Sĩ

Trả lời với các hội viên Lions International, Giáo sư Victoria Curzon-Price của Đại học Genève, cho biết nền kinh tế chánh trị Thụy sĩ hoàn toàn trái ngược các quốc gia láng giềng phần đông đang bị khủng khoảng và đình trệ là nhờ họ có một Hiến Pháp dân chủ đặc biệt đang hình thành bởi hai sức ép: sự cạnh tranh giữa các “tỉnh –canton” và“quyền sáng kiến”. Về quyền sáng kiến thì … Những người dân cử đều dưới quyền kiểm soát của công dân. Bất cứ lúc nào, một nhóm công dân đều có thể đưa ra một ý kiến một sáng tạo. (100 000 chữ ký cho một sáng kiến cấp Liên bang) chống một đạo luật, đề nghị một đạo luật, có khi cả một dự án luật, miễn là đừng đi ngược với Hiến Pháp. Dĩ nhiên với một sức ép như vậy, các vị dân cử khó có thể đề nghị tăng thuế hay tăng tiền xài …

Không riêng gì Thụy sĩ, tại các quốc gia dân chủ người lãnh đạo luôn muốn lắng nghe quan điểm của công dân. Ngày 24-2-2012, Quốc Hội Liên Bang Úc mời Cộng Đồng Người Việt Tự Do, Khối 8406, Ủy Ban Bảo Trợ Người Lao Động và Qũy Tù Nhân Lương Tâm xin ý kiến nhằm hòan chỉnh diễn trình Đối thọai Nhân quyền giữa chính quyền Úc và nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

Tổng thống Barack Obama cũng đã chính thức muốn tiếp xúc với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ để lắng nghe chúng ta trình bày các quan tâm đến tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Cuộc gặp đã được thu xếp và sẽ diễn ra tại Tòa Bạch Ốc vào trưa Thứ Hai, mùng 5 tháng Ba sắp tới. Cuộc gặp dự trù kéo dài 3 giờ đồng hồ giữa các giới chức Tòa Bạch Ốc và khoảng 100 người Việt sinh sống tại Hoa Kỳ

Thế nhưng Hiến Pháp Úc, Hiến Pháp Hoa Kỳ lại không cho quyền người dân trực tiếp tham gia hình thành các chính sách quốc gia.

Hiến Pháp Gắn Liền Với Con Người Việt Nam

Ưu điểm của Hiến Pháp Thụy Sĩ là ghi nhận quyền sáng kiến để người dân có thể trực tiếp đề ra những chính sách hầu tối đa lợi ích quốc gia. Quyền sáng kiến đã thích hợp với Thụy Sĩ sao lại không thích hợp với Việt Nam ?

Vì thế quyền sáng kiến nên được đưa vào Hiến Pháp Mới của Việt Nam. Nhưng thay vì chữ ký của người dân nên thay bằng chữ ký của một tỷ lệ làng xã Việt Nam, cả thôn quê lẫn thành thị. Nó sẽ giúp người dân nhất là người nông dân được trực tiếp tham gia vào việc hình thành các chính sách quốc gia. Nó sẽ giúp cân bằng quyền lực giữa trung ương và địa phương và tạo nên sự công bằng giữa các địa phương. Một Hiến Pháp với sự liên tục tham gia trực tiếp giữa làng xã và chính quyền Trung Ương sẽ giúp Việt Nam thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.

Lần tới để tưởng nhớ Ngày Đức Thầy Hùynh Phú Sổ thọ nạn người viết sẽ chia sẻ cùng bạn đọc tư tưởng tòan dân chính trị của Đức Thầy. Bạn đọc sẽ thấy được ý tưởng trong bài viết có thể thích hợp cho Việt Nam Thống Nhất từ Bắc xuống Nam. Mời bạn đón xem.

Melbourne, Úc Đại Lợi

22/2/2012.

© Nguyễn Quang Duy

© Đàn Chim Việt

—————————————-

Tài Liệu Tham Khảo

Nguyễn Quang Duy (10-2005), Hiến pháp đúng mực sẽ giúp người dân làm chủ,www.bbc.co.uk

Nguyễn Quang Duy (2-2012), Viễn Tượng Việt Nam: Tự Do, Tri Thức Và Phát Triển.

Phan Văn Song (1-2012), Sự thành công của Thụy sĩ: Chánh trị hay Kinh tế?

Trần Trung Chính (2-2012), Tổ chức xã hội dân sự – một di sản của Việt Nam

2 Phản hồi cho “Hiến pháp phải gắn liền với con người Việt Nam.”

  1. NGÀN KHƠI says:

    SỰ CẦN THIẾT HAY MONG ĐỢI MỘT HIẾN PHÁP THUÀN TÚY VIỆT NAM NGÀY NAY

    Hiến pháp là luật mẹ, là nền tảng cơ bản của pháp luật. Nói nom na hiến pháp là cha mẹ của mọi luật khác. Cha mẹ do vậy nếu không xứng đáng là cha mẹ thì con cái sẽ cũng chẳng ra gì. Hiến pháp VN năm 1946, thực chất là hiến pháp trái độn, hiến pháp giao thời, hiến pháp tranh thủ, tranh thù hoàn cảnh chiến hay hòa lúc đó, hoàn cảnh cách mạng CS hay không CS lúc đó. Đó thực chất là hiến pháp chữa lửa, hiến pháp chuẩn bị nhưng chưa hoàn toàn ra mặt cho chủ nghĩa CS nói chung. Hiến pháp miền Nam VN sau đó hay HP của CHVN thực chất cũng chỉ là hiến pháp nửa nước, hiến pháp tự do tư sản. Nhưng VNCH ngày nay cũng không còn nữa, cũng chẳng phải nói đến làm gì. Hiến pháp cả nước sau năm 1975, có thể nói là hiến pháp theo ý chí của ông Lê Duẩn và BCT Trung ương lúc đó dù đang mới chỉ đóng đô thiết yếu ở Ha nội, miền Bắc, nhưng là hiến pháp nhằm “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên CNXH” tức đó là hiến pháp của chủ nghĩa mác lênin, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa quốc tế vô sản thuần thành hay thậm chí hoàn toàn cuồng tín, giáo điều tuyệt đối lúc đó. Các hiến pháp tiếp tục về sau dù có sửa chữa, đổi mới, nhưng cái cốt lõi vẫn chỉ giữ nguyên, là một, chẳng có gì hoàn toàn mới, hoàn toàn thực tế như mong đợi cả. Nói chung vẫn là những kiểu hiến pháp thích nghi, vẫn giữ cái cốt lõi màu đỏ của chủ nghĩa mác, nhưng có mở rộng hơn, uốn dẽo hơn, thực tế hơn chút đỉnh, thế thôi. Những người viết các hiến pháp đó đều là những chuyên viên giáo điều thực sự, hay chỉ làm theo lệnh của bộ chỉ huy tư tưởng và quyền hành tối cao duy nhất, Quốc hội chỉ mang tính cách biểu quyết thông qua theo kiểu nệ thức, nhân dân chỉ có tuân hành hay hỏi ý kiến chiếu lệ thế thôi. Trí thức thực chất thì im lặng, suy nghĩ âm thầm, thất vọng âm thầm. Trí thức XHCN thì chỉ là sản phẩm giáo điều thuần túy, nhân dân, đất nước không thể trông cậy thực chất gì được ở họ. Vì hầu hết họ chỉ là sản phẩm hình nộm hàng loạt, một sản phẩm thai nghén từ quá khứ của Liên xô hay khối XHCN quốc tế, thế thôi. Nhưng ngày nay quốc tế đã đổi khác. Thế giới đã không còn kiểu lưỡng cực ý thức hệ kiểu cũ nữa, Lê Duẫn, Trường Chình và các đồng chí cố cựu một thời huy hoắc của các ông này cũng đã thành thiên cổ cả rồi. Ngày nay thế giới đã hoàn toàn hội nhập và phát triển, chủ nghĩa cộng sản quốc tế hầu như không còn trên thực tế thế giới nữa. Đó là một sự thực cả trong lẫn ngoài nước. Thế nhưng khi nói đến hiến pháp mới thì các thành phần hay thành tố chuyên viên cuội, thuần phục và tuân thủ tuyệt đối theo lệnh vẫn còn. Họ không có kiến thức pháp luật hay tri thức triết học, khoa học mọi mặt thật sự độc lập. Họ chỉ là các cán bộ chính trị thừa hành một cách thụ động hay nhu nhược. Như vậy có còn trông đời gì ở họ của việc soạn thảo một hiến pháp tiên tiến, hài hòa, khoa học, phát triển, hiện đại, thực tiển, sinh động, hiệu quả cho đất nước. Các loại chuyên viên vừa chuyên vừa hồng đó trong việc soạn thảo hiến pháp thì thực chất đó cũng chỉ là hiến pháp của giới cầm quyền, giới lãnh đạo, nói cụ thể là của Bộ Chính trị mà không phải của toàn dân thông qua Quốc hội có thực chất nhưng thật sự cũng chỉ nặng phần hình thức hay trình diến. Cho nên chỉ khi nào các đại biểu Quốc hội hoàn toàn có thực quyền, có tài năng, có chí khí, có hiểu biết, có quả cảm, có tinh thần yêu dân yêu nước thật sự, khi đó mới có hiến pháp dân tộc và đất nước thật sự. Nếu không đó cũng chỉ là những thứ hiến pháp theo kiểu ý thức hệ, hiến pháp chủ nghĩa, hiến pháp của loại chuyên viên đầy tớ soạn thảo mà không phải thật sự là hiến pháp của toàn dân, của dân tộc, của đất nước, của lịch sử phát triển xã hội thực chất của một giai đoạn nào đó. Cho nên sự cần thiết hay mong đợi của một hiến pháp thuần túy Việt Nam ngày nay là một điều hoàn toàn mới mẽ cần phải có vì suốt một thời gian dài gần một thế kỷ qua, điều này đã hoàn toàn không có. Tương lai cần phải khác với hiện tại và khác với cả với quá khứ nhất thiết phải là như thế đó. Đó chính là yêu cầu chính đáng nhất của một hiến pháp đúng nghĩa Việt Nam ngày nay như một quốc gia hòa bình, độc lập, thống nhất, sau khi loại bỏ được mọi giáo điều vô bổ, mọi loại chuyên viên tay sai soạn thảo hiến pháp vô trách nhiệm, vô ý thức, phi tinh thần dân tộc, quốc gia, thậm chí phi tinh thần xã hội thực chất, lạo bỏ mọi đại biểu dân cử không có thực chất, thực quyền, chỉ là loại làm kiểng, loại nghị gật thuần thành dễ sai khiến, chỉ biết quyền lợi, thân phận riêng mà không biết quyền lợi chung, thân phận chung của toàn dân, đất nước, xã hội, lịch sử dân tộc, chính là như thế.

    Đại ngàn Võ Hưng Thanh
    (30/02/12)

  2. nguyenha says:

    Chúng ta không nên mất thì giờ dể bàn về những tổ-chức Dân-sự dưới chế-dộ CS,vì dó chỉ là Trò-Hề! Có cái gì HCM nói mà là Sự-Thật dâu?mà bàn, với luận.Chỉ có một việc tòan dân hãy dứng lên Hủy-Bỏ chế-dộ CS hiện tại mà thôi! Một “Focus”và chỉ một mà thôi,dó là “No more Comunist!!” Ở diễn dàn nầy nhiều bậc khoa-bảng,lý-luận thật nhiều,da chiều ,dơn chiều…nói với Dảng CS,thậm chí góp ý xây dựng nữa…tất cả dều vô-ích,nói chuyện với “dầu gối”.Ở giờ thứ 25 rồi,hàng trăm ngàn người ,với thỉnh nguyện thư dòi Nhân-quyền cho VN,mọi người hãy nhập cuộc:”vn ơi quá nữa dời người ,và ta dã tỏ tường rồi”VK.Vâng dúng như thế,từ chị bán buôn dến người thương gia.Từ bạn Sinh-viên dến các nhà khoa bảng…tất cả “dã tỏ tường rồi”!! Biết rồi khỏi phân tích,lý luận nữa,bây giờ dến thời diểm hành dộng!!

Phản hồi