|

Đường phía Bắc

Lúc còn tại thế, có lúc, ông Phạm Văn Đồng đã phải đối diện với một câu hỏi khó:
“Xin thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979… Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương… Là người đứng đầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản, thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy?” (Bùi Tín, “Hai Câu Hỏi Cần Trả Lời Rõ Ràng Trước Khi Thế Kỷ 20 Khép Lại,” Cánh Én, Feb.1999:05).

TT Phạm Văn Đồng, tất nhiên, không “nhìn nhận trách nhiệm” gì ráo trọi. Và đây là thái độ chung của giới hữu trách ở Việt Nam – theo như nhận xét của ông Ngô Nhân Dụng:”Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi.” Ông nhà báo này nói tầm bậy tầm bạ như vậy mà … không trật. Khi được phóng viên báo Nhân Dân, số ra ngày 31 tháng 8 năm 1987, hỏi về cuộc “di dân rộng lớn và bi thảm ấy,” Trung Tướng Nguyễn Đình Ước (Viện Trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam) đẩy cây như máy:

“ Đó là chuyện có thật … Đã có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”

Mới đây, ông Dương Trung Quốc mô tả đó là một “vết thương lịch sử” nhưng (sau một lúc quanh co) ông kết luận rằng là nó sắp … lành đến nơi rồi: ”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử.”

Cái “hoàn cảnh lịch sử” này ra sao là điều mà ông Tổng Thư Ký Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam không muốn nói đến. Ông Trương Tấn Sang cũng vậy:

“Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, luôn mong muốn và làm hết sức mình để hỗ trợ đồng bào đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hòa nhập vào cộng đồng dân cư trên đất nước cư trú…”

Nguồn ảnh: baocalitoday.com

Dưới mắt nhìn của những người cầm quyền ở Việt Nam thì mấy triệu thuyền nhân cứ y như một đám người từ trên trời rớt xuống, tứ tán khắp năm Châu. Đảng và Nhà Nước đã gom cái tập thể này lại và biến họ thành cục bột, muốn nắn bóp nó ra sao – tùy thích.

Có lúc Nhà Nước mô tả những kẻ ra đi là một lũ người“bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, phản bội tổ quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” Không hiểu đám thuyền nhân đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao –  nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ đều đặn gửi về cố hương đã cứu toàn dân, cũng như toàn Đảng, thoát chết (đói) nhiều phen.

Từ đó, Đảng ta đổi giọng: những kẻ  phản bội tổ quốc không những đều được “khoan hồng” mà còn được “tôn vinh” như “những sứ giả Lạc Hồng,” và (bỗng) trở thành “một bộ phận  không thể tách rời của cộng đồng dân tộc,” hay “là cấu nối phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới…” – theo như (nguyên văn) lời của ông Chủ Tịch Nước vừa phát biểu vào hôm 15 tháng 1 năm 2012, tại Hà Nội.

Thiệt khoẻ!

Thế còn chính những thuyền nhân họ nghĩ sao? Theo nhận xét của giáo sư Nguyễn văn Tuấn thì dường như đây là một đám đông thầm lặng, không nghe ai lên tiếng nói năng gì hết trơn hết trọi: ”Đúng là một cuộc di tản qui mô lớn chưa bao giờ có trong lịch sử Việt Nam. Nhưng không có ai của Nhà nước chính thức ghi nhận sự kiện này. Tôi chưa bao giờ nghe / đọc một người từ miền Bắc nhắc đến sự kiện này.”
Nói nào ngay thì có nhưng rất ít. Lý do giản dị chỉ vì những nạn nhân của những biến cố kinh hoàng, vượt ngoài sức chịu đựng bình thường của con người, thường không mấy ai muốn nhắc đến những kinh nghiệm hãi hùng mà họ đã phải trải qua. Đây là hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) theo như ghi nhận của DSM – IV – TR (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, Fourth Edition. Text Revision. Washington, DC, American Psychiatric Association, 2000 – cẩm nang hiện dụng của khoa Tâm Thần Học).

Hiện tại, trên bàn viết của chúng tôi chỉ có hai cuốn sách thuộc loại này:

- Góc Bể Bên Trời của Võ Hoàng có lẽ là tác phẩm đầu tiên, viết về chuyện vượt biên, tạp chí Nhân Văn (California) xuất bản năm 1984. Tác giả vốn là một ngư dân ở Rạch Giá đã ghi lại một cuộc vượt biển “phụ,” một đoạn đường đi “thêm” từ vịnh Thái Lan đến tận Úc Châu – trên một chiếc thuyền con mong manh, thiếu thốn tất cả những phương tiện, những điều kiện cần thiết tối thiểu cho một hải trình dài dặc, và có trăm ngàn thứ gian nguy – của chính ông và bè bạn.

- Buồn Vui Đời Thuyền Nhân của Lâm Hoàng Mạnh, Tiếng Quê Hương (Virginia) xuất bản năm 2011. Đây là tập hồi ký dầy hơn ba trăm trang của một y sĩ kiêm văn sĩ, ghi lại hết sức sống động và chi tiết cuộc trốn chạy của những người Việt gốc Hoa từ bến Tam Bạc (Hải Phòng) qua Hồng Kông, và điểm đến cuối cùng là Anh Quốc.

Trang sổ tay hôm nay chúng tôi xin dành để giới thiệu một tác phẩm khác ( Đường Phía Bắc) của nhà văn Lê Đại Lãng, tuần báo Trẻ ( Texas) xuất bản đầu năm 2012, viết về “hành trình của những người hướng Bắc sinh và sống từ cầu Hiền Lương đến nàng Tô Thị.” Tác giả là một thuyền nhân đi từ phía Nam nhưng có một thời gian dài làm việc thiện nguyện trong những trại tị nạn, ở Hồng Kông. Ông cũng là tác giả của tập bút ký Nước Mắt Trong Tim do tạp chí Người Dân (California) xuất bản năm 1990, và tiểu luận Vietnamese-English Bilingualism: Patterns of Code-Switching – Routledge Studies in Asian Linguistics – xuất bản năm 2003, ký tên thật là tiến sĩ Hồ Đắc Túc.

Trong phần lời tựa của Đường Phía Bắc (*) Lê Đại Lãng tâm sự:

Tôi viết lại những mẩu chuyện nho nhỏ mà các bạn  đã kể cho tôi nghe như một người nghèo thiếu  áo, chắp lại những mẩu áo đủ màu đủ cỡ, lành có rách có, đậm có nhạt có,  để ráp thành một cái áo vụng về xấu xí mặc cho qua rét mướt mùa đông.  Dù  cho công tôi chắp vá mà thành, nhưng chất liệu vẫn là các bạn, nếu có chỗ nào (nói cho le) là hư cấu thì cũng xin coi là cái cúc  áo đơm vào để gài kín ngực. Bỏ cái cúc ra, áo vẫn hoàn áo, vải gấm hay vải thô vẫn là của các bạn.  Vốn liếng và chất liệu đã làm nên cuốn sách này là từ đời sống của các bạn tôi… và những hạt mưa dầm.”

“Những mẫu chuyện nho nhỏ” của người đi từ phía Bắc và những kẻ đi từ phía Nam, gần như, chả khác gì nhau. Đều là những chuyện nát lòng, và những mảnh đời tơi tả, của những kẻ bị đẩy đến bước đường cùng không còn lựa chọn nào khác nên phải (đành đoạn) rời bỏ quê hương âm xầm ra biển – như một cách lao đời vào cái chết để tìm sự sống.

Người ta ước đoán chừng vài trăm ngàn thuyền nhân đã vùi thây trong lòng biển cả (**). Những kẻ thoát chết đến được bến bờ không nhất thiết đã là những người may mắn. Đường Phía Bắc là tác phẩm viết về họ, những kẻ trong các trại cấm ở Hồng Kông sau giờ khắc định mệnh “0 giờ ngày 16 tháng 6 năm 1988” – giờ khắc mà nhiều trại tị nạn ở Đông Nam Á đã đột ngột biến thành những trại tù, qua ngòi bút của Lê Đại Lãng:

“Những dãy nhà lợp tôn dài hai mươi chín mét, rộng sáu mét trống trải không có giường nhét đủ ba trăm mạng người. Hải băng qua những đường rãnh lềnh bềnh rác lẫn với phân người, theo trưởng buồng lách chân giữa một lối đi hẹp giữa buồng, hai bên thùng bọng la liệt, kẻ nằm người ngồi tràn lan trên nền đất rin rỉn nước.”

Và đây là vài mẩu đối thoại của những con người sống trong trong vòng rào của những trại cấm này:

- Tiên sư con cái nhà ai mà cứ ỉa tòe loe ra đấy. Bẩn đéo chịu nổi.
Giọng một bà trả đũa:
- Con cái nhà bà đấy. Nó muốn ỉa đâu thì nó ỉa, bà thách thằng chó nào đụng tới nó coi nào.
Gã đàn ông bị chạm tự ái, cáu:
- Ỉa thì có nhà cầu, cứ tươm cả ra đấy thì cái nhà này biến thành lăng bác cả à!
Tiếng cười rúc rích thú vị. chị đàn bà đổi hướng:
- Có giỏi thì đứng ở Ba Đình nói câu ấy. Qua đây nói ai nghe nào. Lũ hèn…!
Thằng bé cắt lời mẹ, ré lên đòi chùi đít. Bà mẹ bảo: “Cứ chờ đấy, chừng nào nước mở hẵn rửa”.

Thằng bé dang dang hai chân đi về giường. Có tiếng la dẫy nẩy: “Coi chừng nó ngồi lên giường là khốn đấy. Địch mẹ, biết thề này ông thèm vào”.
trong những trại tị nạn này, trẻ con Việt Nam không biết nói tiếng “không.”
Chúng thay bằng tiếng khác:

- Tao đéo thèm chơi với mày nữa
- Tao đéo vào
- Mầy có cái đó không?
- Đéo có.

Những mảnh đời méo mó qua những mẫu đối thoại thô tục (thượng dẫn) của những may mắn sống sót đến được bến bờ, cùng với oan hồn của hàng triệu sinh linh dưới đáy biển sâu không thể nói lấp liếm cho qua chuyện (”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử”) theo cái kiểu xuê xoa của ông Dương Trung Quốc. Cũng không thể yêu cầu những quốc gia láng giềng đục bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân là kể như huề – như cách hành xử của ông Trần Đức Lương.

Hoạ cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Ngoài chuyện Thu Vàng Bán Bãi Vuợt Biên, còn nhiều “vụ động trời” khác nữa – như C.C.R. Đ, Nhân Văn, Xét Lại, Thảm Sát Mậu Thân, Đổi Tiền, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Mười Ngày Học Tập, Khai Thác Bauxit, Vinashin … – cần phải được ghi nhận, và xét xử minh bạch, trong tương lai gần.

Vấn đề không phải là để tầm thù hay báo oán. Điều này hoàn toàn không cần thiết, và hoàn toàn đi ngược lại với truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt . Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả để chúng ta an tâm hơn khi hướng đến tương lai.

© Tưởng Năng Tiến

© Đàn Chim Việt

—————————————-

(*) Đường Phía Bắc, giá sách U.S.A 15.00 dollars, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
Toà soạn báo Trẻ
3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.

ĐT: 972-675-4383/ Email: [email protected]

(**) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People
· Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam.

· Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
· Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.

· Estimates for the number of Boat People who died:
o Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum.

o The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.

o The 3 Aug. 1979 Washington Post cites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.

§ Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”

o The 1991 Information Please Almanac cites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.

o Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
o Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))

· Rummel
o Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
§ Executions: 100,000
§ Camp Deaths: 95,000
§ Forced Labor: 48,000
§ Democides in Cambodia: 460,000
§ Democides in Laos: 87,000
§ Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)

 

 

14 Phản hồi cho “Đường phía Bắc”

  1. nhan says:

    MộtKhúcRuột là MộtKhúcDồiChó ? nên mới có”phát ngôn” theo kiểu”đỉnh cao trí tuệ”.

  2. D.Nhật Lệ says:

    Thành thật mà nói,nhà văn TNT.viết bài này hay nhưng khác với những bài trước là thiếu giọng điệu dí dỏm
    và châm biếm lẫn trào phúng vốn là đặc tính không giống ai của TNT.
    Thế nhưng,nói chung vẫn hay vì có dẫn chứng,chứ không nói kiểu vất…lựu đạn,quăng bom thối rồì bỏ chạy
    như một ít người (dấu mặt,để chưởi ..vô tư).Nhờ bài này,mình mới biết tên thật của Lê Đại Lãng,từng ra mắt tác phẩm trên ở Úc từ lâu,khoảng năm 1992 thì phải ! Do đó,cũng lạ là quyền này mới được xuất bản như tác giả viết mà theo tôi có thể lần này là tái bản thì chính xác hơn.
    Sử gia ‘triều đình’ DTQ.tôi cho là không đáng tin tưởng vì ông ta đang đóng vai trò ‘làm cảnh’ cho chế độ,
    nhưng với tính cách ‘đu dây’ kiểu muốn viết 1 câu trung (thực) thì ông ta phải nịnh 1 câu,để tránh không cho
    ai thấy ông ta về phe nhà nước.Đây là sự khôn khéo,có thể khôn ranh mà ông ta muốn tạo ra chỉ nhằm mục đích bênh vực cho quyền thống trị của đảng cộng Việt.
    Tôi không đồng ý với bác MKR.khi lấy trường hợp một kẻ háo danh,tham lợi như NCK.để tổng quát hóa
    cả tập thể cộng đồng VN.tỵ nạn ngoài nước.Mục đích đi tìm tự do,dân chủ là điều có thật.Nói khác đi,vì
    chế độ độc đảng độc tài mà ra đi.Cả 2,xét cho cùng,hoàn toàn giống nhau về ý nghĩa.Cũng có một số người nào đó về “liếm đít” thì đó là những kẻ phản bội và dối trá hay những kẻ đó ra đi tìm miếng cơm manh áo,cho nên CV.đã mua chuộc chúng để gây chia rẽ khối đoàn kết của người VN.hải ngoại.
    Tuy thế,tôi nghĩ số đó không nhiều và đồng ý với bác là chúng thật đáng khinh bỉ vì sự ích kỷ của chúng.

  3. Sigma says:

    đó là ngày xưa còn ngày nay thì :
    Buy a wife from Vietnam for only 6000 USD.
    1. Guaranteed virgin
    2. Guaranteed to be delivered within 90 days
    3. NO extra charges
    4. If ran away within a year you get another one for FREE
    (Quảng cáo tại Trung Cộng có kèm ảnh)
    ÔI ĐẤT NƯỚC TÔI !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

  4. Lệ Dân says:

    Dù nhìn từ góc độ nào, phân tích nguyên nhân, mục đích ra sao, đây vẫn là một sự thật bi thảm nhất trong lịch sử Việt Nam. Cùng với số người di cư từ bắc vào nam năm 1954, cuộc di tản vĩ đại này đã biến Việt Nam thành quốc gia đứng đầu thế giới vì những cuộc cưỡng cư có nguồn gốc từ những biến cố chính trị – có thể gần 4 triệu lượt người, khoảng 1/10 dân số đến thời điểm 1975. Sự bi thảm đó bị nhân lên gấp bội vì chưa bao giờ, và có lẽ rất khó trong tương lai, lịch sử theo dòng chính thống hiện nay lại ghi những con số đó như là một sử liệu, trừ một vài ghi chú tuyên truyền về số người “bị ép/ lừa phỉnh” vào nam năm 1954 và những con số thống kê tập hợp khúc ruột nghìn dặm có gắn với khối lượng kiều hối hàng năm hiện nay. Còn lý do tại sao lại có khúc ruột này thì không bao giờ được nói đến, giống như số phận của ba nghìn người bị tàn sát trong một cuộc khủng bố của quân chính phủ xảy ra ở làng Macondo trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.G. Marquez vậy- bị xóa sạch khỏi lý ức của dân làng, của lịch sử đất nước.

    Vậy cho nên có nhà nghiên cứu văn học người Việt ở nước ngoài mới đề xuất một phạm trù mỹ học rất mới, phạm trù “lưu vong”.

  5. NGÀN KHƠI says:

    HAI KHUYNH HƯỚNG NỔI BẬT

    Từ khi học thuyết Mác rồi chủ nghĩa Mác, rồi chủ nghĩa hay thể chế cộng sản xuẩt hiện trên thế giới, có hai khuynh hướng hay hai tuyến người nổi bật. Tuyến thứ nhất là một số đông người hưởng ứng bằng mọi cách chủ nghĩa Mác, rồi tuyên truyền bằng mọi cách lẫn nhau, khiến lực lượng cộng sản ngày càng đông, có lúc lên rất cao như là “đỉnh cao của trí tuệ loài người”, cho tới khi khối XHCN nói chung hoàn toàn sụp đổ, tan rã. Tuyến thứ hai là số đông người khác, trốn thoát xã hội CS bằng mọi cách, xảy ra nhiều đợt, nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Họ hoàn toàn không sống ngày nào trong chế độ CS hoặc có sống một thời gian rồi vẫn cương quyết ra đi. Đó là cuộc di cư sau năm 45 từ miền Bác vào miền Nam VN, cuộc di ồ ạt năm 1954 cũng giống vậy, nhất là cuộc vượt biên sau sự cố 1975 từ miền Nam ra hải ngoài. Đây là một sự thật hoàn toàn khách quan, không ai có thể chối cãi được. Điều đó cho thấy lý thuyết Mác là không lý tưởng, thực thể chủ nghĩa CS là không êm đẹp trong thực tế. Trước đây điều này không ai được công khai nói ra, thời Mao Trạch Đông ở TQ, nhất là thời Pôn Pốt của Khmer đỏ, không cần nói, chỉ thuộc thành phần bị quy chụp đã là hiểm nghèo rồi. Đấy khía cạnh lý tưởng hay nhân văn của học thuyết Mác trên lý thuyết thì về mặt thực tế nó là như thế. Bởi vì vậy sau này mới có những giai đoạn của chủ nghĩa xét lại, giai đoạn của thời kỳ đổi mới, mới có hiện tượng công chúng vui mừng khi bức tưởng Berlin sụp đổ, mới có hoàn cảnh hội nhập toàn cầu ngày nay. Do vậy, không cứ mọi người bình thường, ngay như cả Mác hay Lênin có sống lại, ngày nay chắc cũng phải tự ngậm ngùi về những điều gì mình đã cổ vũ hay tiên đoán trong một đoạn đường dài suốt hơn một thế kỷ trong lịch sử nhân loại trên toàn thế giới.

    NON NGÀN
    (09/3/12)

  6. MotKhucRuot says:

    Câu hỏi được đặt ra : Những người Việt Nam bán mạng , bất chấp nguy hiễm vượt biên trong những năm cũa thập niên 70 , 80 , họ thực sự đi tìm cái gì , trốn thoát cái gì ??? . Nếu trả lời : họ đi tìm tự do dân chũ , họ trốn thoát một chế độ độc tài , tàn ác …Tôi hoàn toàn không chấp nhận câu trả lời cỏ vẻ lý tưỡng , cao đẹp như vậy , trả lời như vậy rõ ràng tự lừa bịp chính mình . Phải nói rõ ràng , đa số nếu không nói là tất cã đi tìm cái giàu có sung sướng cũa các nước tiên tiến trên thế giới : Hoa Kỳ , Úc , Canada và khối Tây Âu . Một dân tộc chưa biết tôn trọng tự do , dân chũ thì làm sao cỏ thể bão họ đi tìm tự do dân chũ ??? . Nói những tên như Nguyễn Cao Kỳ ….đi tìm tự do , dân chũ thì chẳng khác gì nói Saddam Hussain đi tìm tự do dân chũ . Và không sai khi một NCK về VN liếm đít CS , liếm đít độc tài , tàn ác . Số người vượt biên năm xưa về VN liếm đít CS có nhiều hơn những người đi biễu tình chống bọn CS ??? . Vâng , nếu có cơ hội liếm đít CS , mang lợi lợi ích cho bãn thân , ngu sao không liếm ??? Tôi đi đâu cũng nghe dân VN nói một câu : ” ở đây tự trọng liêm sĩ là ngu , ở đây thật thà lương thiện là ngu ” . Vâng , không nơi nào dân VN khôn để biết tự trọng , liêm sĩ , thật thà lương thiện giống như tôi nghe những người lớn tuổi có địa vị trước năm 75 nói : ” Mỹ nó giàu , chính phủ nó giàu , không tham nhũng , hối lộ là ngu ” , tức là tự trọng , liêm sĩ , lương thiện , thật thà là ngu . Đã đến lúc dân VN nên tự soi gương nhìn lại chính mình hơn là tự tưng bóc mình ?? .

    • Minh Đức says:

      Trích: “họ đi tìm tự do dân chũ , họ trốn thoát một chế độ độc tài , tàn ác …Tôi hoàn toàn không chấp nhận câu trả lời cỏ vẻ lý tưỡng , cao đẹp như vậy”.

      Đi tìm tự do dân chủ cũng chẳng phải là lý tưởng gì cao siêu. Bỏ đi để khỏi phải nghe nhà nước nói láo, để được đọc các sách tìm hiểu xem mình đã bị nhà nước lừa như thế nào, thế là tìm thấy tự do rồi. Bỏ đi để khỏi phải ăn gạo quốc doanh đầy sạn mà gạo cũng không có mà ăn phải ăn bắp, bo bo, bột mì. Điều này cũng chẳng phải là lý tưởng gì cao siêu vì chỉ là miếng ăn nhưng cũng không phải là điều gì xấu xa vì con người cần phải ăn no. Chính quyền để cho dân đói rồi thúc dân cầm súng đánh nhau thì bỏ đi nước khác để khỏi phải làm nạn nhân của bọn cầm quyền bất nhân.

    • Le Thai says:

      Để trả lời câu hỏi của bạn, bạn cần đặt mình trong hoàn cảnh của họ thì mới có câu trả lời chính xác, còn hỏi như một kẻ bàng quan, hỏi với ý đồ khích bác thì hỏi là đã tự trả lời rồi hay nói đúng hơn là câu trả lời đã có trước câu hỏi rồi. Ngày xưa có ngưòi đàn bà mà 3 đời thân thích: cha, chồng, con đều bị cọp ăn thịt mà vẫn không bỏ rừng ra phố thị để sống, lí do vì sợ quan quyền hà khắc. Bà ta có làm chính trị không ? Vạn lần không, nhưng chọn lựa cuả bà ta vô hình chung nói lên sự tàn bạo của chế độ. Hà chính còn đáng sợ hơn cọp dữ
      Dân VN xưa nay vốn có tập quán sống bám vào quê cha đất tổ, không muốn rời xa mồ mả cha ông. Nói thật thà cho đến năm 75 dân miền Nam cũng chưa thật sự là giàu, trừ một số thị thành, dân quê vẫn lam lũ nhưng chưa ai vì thế bỏ quê ra thị thành để “tìm giàu có sung sướng” (trừ những vùng chiến nạn) dù chuyến đi đó rất dễ chỉ một cái vé xe đò vài giờ hoặc cao lắm là vài ngày đường là tới nơi và chưa ai nghĩ đến chuyện bỏ nước ra đi dù đang lầm than điêu linh vì bom đạn chiến tranh. Cái ao ước của họ là “hết giặc giã ăn mắm ăn muối cũng vui”. Khổ không phải là vấn đề
      30/4/75 Một số người có kinh nghiệm về CS, sợ bị trả thù vội vàng trốn chạy, đa số đã chọn ở lại, thậm chí có người đi tới nơi an toàn rồi mà vẫn quay trở lại. Vì sao ? Nhiều lí do nhưng tựu trung là mơ hồ về CS, tin CS cũng là người… và là quê cha đất tổ, là tình quê hương, là thân thích họ hàng, là làng xóm láng giềng, là quen nước quen cái… đã niú chân họ lại Cái Âu Mĩ giàu có không đủ hấp dẫn vì trăm ngàn thứ ngại, ngại ngôn ngữ, ngại kì thị, ngại xa lạ mà cái ngại to lớn nhất là và cũng là tập tính của người Việt là: ngại ăn nhờ ở đậu, ngại bị xua đuổi rẽ khinh. Cái khổ thì đã qúa quen với họ, còn gì khổ hơn chiến nạn ? Cho nên cái ngại khổ nhỏ hơn nhiều so với những thứ ngại trên kia…
      Nhưng rồi người dân thực sự kinh hoàng vì những chính sách của nhà cầm quyền CS, chính những người Cọng Sản đẩy họ ra biển.

      …Cắt…

      BBT: Đề nghị viết ngắn gọn.

  7. T. says:

    ….
    - Tiên sư con cái nhà ai mà cứ ỉa tòe loe ra đấy. Bẩn đéo chịu nổi.
    Giọng một bà trả đũa:
    - Con cái nhà bà đấy. Nó muốn ỉa đâu thì nó ỉa, bà thách thằng chó nào đụng tới nó coi nào.
    Gã đàn ông bị chạm tự ái, cáu:
    - Ỉa thì có nhà cầu, cứ tươm cả ra đấy thì cái nhà này biến thành lăng bác cả à!
    Tiếng cười rúc rích thú vị. chị đàn bà đổi hướng:
    - Có giỏi thì đứng ở Ba Đình nói câu ấy. Qua đây nói ai nghe nào. Lũ hèn…!
    Thằng bé cắt lời mẹ, ré lên đòi chùi đít. Bà mẹ bảo: “Cứ chờ đấy, chừng nào nước mở hẵn rửa”.

    Thằng bé dang dang hai chân đi về giường. Có tiếng la dẫy nẩy: “Coi chừng nó ngồi lên giường là khốn đấy. Địch mẹ, biết thề này ông thèm vào”.
    Ở trong những trại tị nạn này, trẻ con Việt Nam không biết nói tiếng “không.”
    Chúng thay bằng tiếng khác:

    - Tao đéo thèm chơi với mày nữa
    - Tao đéo vào
    - Mầy có cái đó không?
    - Đéo có.

    ….
    Đọc những mẩu đối thoại này người đọc thấy công lao trồng người của “BÁC” cho các cháu tại miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa cực kỳ là KINH KHỦNG!!!

  8. kbc 3505 says:

    Năm 1978 tôi vượt biên đến đảo Bidong thuộc Malaysia. Lúc đó có khoảng 10 ngàn dân Việt tị nạn cộng sản đang sống trên đảo chờ ngày định cư đệ tam quốc gia (theo báo cáo của tị nạn liên hiệp quốc). Dân ta lúc đó oán hận CS dữ lắm. Sau 3 năm sống bị kìm kẹp trong đau khổ và nay được tự do, người dân tị nạn trên đảo chửi rủa CSVN không tiếc lời. Nhân có một tối tôi nghe tin tức đài BBC nói Phạm Văn Đồng thoá mạ những người bỏ nước ra đi tìm tự do mà tôi viết ra 4 câu này:

    Đồng bào trên đảo vươn cao cổ
    Chửi rủa cộng sản ác nhân tâm
    Văn Đồng, anh cả xám mặt giận
    Giơ tay, miệng nói: Cút đi mau!

    Đó là thời gian có chương trình ra đi bán chính thức và hàng triệu người dân không chấp nhận sống dưới chế độ bạo tàn của CS nên đã bỏ nước ra đi tị nạn chính trị.

    Tưởng nhớ những ngày dài sống trên đảo Bidong.

    kbc3505

  9. xoathantuong says:

    Cần phải thông cảm cho ông Dương Trung Quốc vì ông ta được đảng CSVN cơ cấu cho làm Đại biểu QH nên ông ta phải có trách nhiệm với đảng CSVN. Không lý ông ta phải có trách nhiệm với người dân? Dân có quyền hành gì để đề cử hay bầu cử cho ông ta đâu mà đòi hỏi ở ông ta. Dĩ nhiên không phải chỉ có ông DTQ mà cả cái Quốc Hội cũng vậy, nên thông cảm cho họ. Hãy để họ ngủ ngon giấc trong nhà QH.

  10. Khinh Binh says:

    Ông TNT *Thỉnh Nguyện Thư” này viết có “sách” mách có chứng lắm. Để rồi tui sẽ tìm đọc cuốn sách ông giới thiệu để đền công cho ông.

    Ở đây chỉ chê ông không biết tiết kiệm thời giờ. Ai đời rảnh rảnh lại đi đọc gã Dương Trung Quốc! Tui nói thiệt, CS cỡ Nông Đức Mạnh tui chả ghét, vì nó là CS, nó nói thiệt nó là CS. Còn Dương Trung Quốc là thứ vô sỉ, lại dám tự nhận là sử gia. Sử gia mà làm đại biểu Quôc hội bù nhìn cho CS?

    Đã viết sử mà bóp méo sử thì là lưu manh gia chứ sử gia cái …quần què gì? Tôi nhắc gã này vì trong bài ông TNT trích dẫn gã tới hai lần. Hỏi nhỏ nghen, ông nhậu với va chưa vậy?

Phản hồi