|

Trí Quang Tự Truyện: Không vẫn hoàn không

Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn – thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký. Người đem tiểu sử đời mình ra đánh bóng, trang hoàng, rao bán thì thành nhà… chính trị kinh doanh! Nhưng dẫu ở mức độ nào thì cũng khó lòng đem ra so sánh, cân đo khi không có cùng mẫu số. Cũng đều xuất phát từ con người làm điểm tựa, nhưng sẽ thiếu công bằng nếu đem những tứ đại kỳ thư, những áng kim cổ hùng văn hay thiên hạ danh văn để so với những bài thơ Thằng Bờm có cái quạt mo, những bài ca dao truyền miệng… vì mẫu số chung của cảm tính văn nghệ chẳng tương đồng. Tuy nhiên, trong ý nghĩa tinh túy nhất mà cũng rất thường tình của nhân sinh, “cái thích” hay sự cảm thụ và sáng tạo văn chương nghệ thuật thì không ai giống ai vì cái ngã sở chắn đường bít ngõ theo lối mòn một chiều“có thì có tự mảy may, khi không cả thế gian này cũng không!”. Từ đó dẫn tới cái thương, cái ghét càng lúc càng xa với những gì hiện thực “thương ai thương cả đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng!”

Tác phẩm nghệ thuật thường được ví von như những cơn mưa. Có những trận mưa – mưa rào, mưa tình, mưa pháp – mà con người và muôn vật được hưởng lợi lạc hay phải chịu đựng cơn mưa phù hợp với căn tính của từng đối tượng: Con dế mèn ca hát rát cổ hưởng được một giọt mưa ngọt lịm; con chim non bị ướt tổ lạnh run; con kiến cỏ bị chết trôi chới với; người nông dân có được nước đầy đồng… Chẳng ai giống ai. Bởi vậy, mọi giá trị của vạn vật đều tương đối. Nhưng trong tương đối đã có sẵn một điều tuyệt đối, đó là sự khác biệt và đồng nhất đều cùng một thể: “Không lại hoàn không!”

Và, đó cũng là kết luận của “Trí Quang Tự Truyện”. Đây là một tác phẩm hồi ký của hòa thượng Thích Trí Quang, một danh tăng Phật giáo thế hệ Chiến tranh Việt Nam đang bước vào độ tuổi 90.

Có thể nói mà không phải dè dặt rằng, trong số các hồi ký của những nhân vật lịch sử, trong cũng như ngoài nước, có liên quan đến dòng lịch sử Chiến tranh Việt Nam thì hồi ký của thầy Trí Quang là một trong những tác phẩm được chờ đợi nhiều nhất.
Văn chương tự cổ không bằng cớ, nên khen hay chê tự nó không quan trọng mà quan trọng là mức độ khách quan, công bằng và tính trong sáng của sự khen chê. Và, quần chúng nói về một đối tượng sao bằng chính đối tượng được nhắc nhở đó tự nói về mình. Trí Quang Tự Truyện là những điều thầy Thích Trí Quang tự nói về mình.
Từ đầu năm 2011, tuy đã được đọc các bài giới thiệu và trích đoạn của tập sách nầy trên mạng lưới truyền thông nhưng mãi đến khi về thăm quê vào tháng 3-2012 tôi mới đọc được bản chính toàn tập. Sách dày 216 trang, nhà xuất bản Tổng Hợp tại Sài Gòn. In 3000 cuốn, xong ngày 22-7-2011. Tác giả viết xong ngày 24-4-2011. Sách không chia thành chương, mục mà được phân thành 47 đoạn viết theo lối hồi ức, tự truyện. Không có một hình ảnh nào minh họa từ bìa đến nội dung.

Trí Quang Tự Truyện đã gây ra những luồng phản ứng tuy không sôi nổi theo kiểu… “siêu sao”; nhưng tương đối rộng rãi đối với quần chúng trong cũng như ngoài nước; đặc biệt là đối với giới trí thức và Phật tử lớn tuổi đã từng sống trong chiến tranh và trải nghiệm thực tế qua những biến cố lịch sử đầy thăng trầm của đất nước. Đa số bày tỏ sự thất vọng vì hồi ký không “ngang tầm” với tác giả. Người ta chờ đợi một thiên hồi ký có “tầm vóc thời đại”. Nghĩa là những pho sách dày với những công bố phơi bày nhiều bí ẩn lịch sử, những “giải mã” sự kiện còn nằm trong góc khuất, những lý giải hùng hồn về các hiện tượng đầy thâm cung bí sử, những biện minh đầy thuyết phục nỗi oan khuất của đạo pháp và dân tộc, những chứng lý rạch ròi thân phận nhược tiểu trên bàn cờ quốc tế… Nghĩa là với tầm vóc của một nhân vật tu sĩ Phật giáo đã từng là khuôn mặt trung tâm cho cuộc tranh đấu đòi tự do, bình đẳng tôn giáo của Phật giáo năm 1963 và những cuộc biểu tình đòi cải cách chính trị thời 1966 đã làm chấn động Việt Nam và dư luận thế giới như thầy Thích Trí Quang thì sẽ có cả một kho tàng dữ liệu và vô số lý giải cho cả một thời kỳ đầy biến động chiến tranh, chính trị và xã hội để viết ra trong hồi ký. Thêm vào đó, thầy Trí Quang còn là tác giả, dịch giả, luận giả uyên bác và đáng tin cậy của nhiều tác phẩm Phật học nội điển và luận thư trong khoảng 70 năm qua. Bề dày của những công trình biên dịch và tham luận có giá trị là những điều kiện “ắt có và đủ” cho một tác phẩm hồi ký lớn của Thầy ra đời. Hoặc ít lắm thì cũng là những hồi ức đầy “thương hiệu thành danh” của ta và của người vào hàng Retrospect của Robert McNamara hay Political Memoirs của Malcom Fraser… và của nhiều nhân vật danh tiếng Việt Nam đã xuất bản chẳng hạn.
Nhưng Trí Quang Tự Truyện đã thanh thản ra đời như một cô gái Việt chân quê trên diễn trường hoa hậu quốc tế làm cho người ta ngạc nhiên.

Những ngày mưa tháng Hai của Huế, lên chùa Châu Lâm không cách xa chùa Từ Đàm là mấy, được ăn cơm chay với thầy Thiện Phước trong vườn lan đủ màu tự trồng, tự tưới của Thầy, trưa vào nghỉ ở nhà tịnh của chùa và đọc Trí Quang Tự Truyện nguyên bản in của anh Trần Tuấn Mẫn báo Văn Hóa Phật Giáo gởi cho, tôi cảm thấy an tịnh và gần gũi với tập sách hơn.

Trong khu vườn thiền lâm, thầy Trí Quang là một hành giả với bút lực dồi dào từ khi còn trẻ tới hồi đại lão như hôm nay. Nói về công phu biên dịch kinh sách, chỉ riêng năm 2011 thôi, thầy Trí Quang đã hoàn thành nhiều công trình trước tác thâm uyên với 3 bộ sách đã in ấn và phát hành là: Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia gồm 2 tập, mỗi tập hơn nghìn trang và Nhiếp Luận, 334 trang. Bởi vậy, khi cầm Trí Quang Tự Truyện trên tay, có lẽ tôi không nên trịnh trọng gọi đây là một tác phẩm hồi ký đầy chữ nghĩa to tát mà nên gọi đây là những dòng tâm bút của một sơn tăng giữa thị thành đang sống với tánh thường rỗng lặng “không vẫn hoàn không”.

So với những tác phẩm mang tính nội điển mà thầy Trí Quang đã cẩn trọng biên dịch – nghiêm cẩn trong từng cụm từ và chỉnh chu trong từng luận giải – thì Trí Quang Tự Truyện nhẹ như tơ hào. Tác giả viết ra những sự kiện, kể lại chuyện đời mình bằng một lối văn chân phương – lại có khi rề rà không trau chuốt – dễ dãi như người bình dân ngồi kể chuyện Tấm Cám.

Trong suốt 50 năm qua, nhân vật Thích Trí Quang thường được (hay bị) môi trường truyền thông đại chúng trong cũng như ngoài nước nhắc nhở khá sôi nổi và không ít thường xuyên trong hàng tu sĩ Phật giáo Việt Nam đương thời. Sự nhắc nhở xuất hiện dưới nhiều dạng thức và từ nhiều góc độ: Giữa đường, lề phải, lề trái, trên mây, dưới hố… Nhưng không phải vì lời khen hay chê mà một dòng sông trở thành trong hay đục. Chẳng phải vì được ca tụng hay bị đả kích qua ngõ thị phi mà một nhân vật trở thành thánh hay phàm. Đâu phải vì yêu hay ghét mà một tác phẩm trở thành hay hoặc dở. Thầy Trí Quang – cũng như mọi nhân vật cộng đồng tên tuổi đã thành danh – có một vị trí và thế đứng riêng trong lòng người và trong lịch sử. Nhưng trong tự truyện, sau khi kể chuyện đời mình từ nhỏ đến lớn; từ thân chú tiểu mới xuất gia cho đến vai trò lãnh đạo Phật giáo thành tựu, tác giả tự kết luận về đời mình: “…cuộc đời tôi ‘không vẫn hoàn không’, không có gì đáng nhớ, đáng nói. Ngay như sự tự truyện này, vì không thể không có, nên phải viết và phải in, mà thôi. ‘Không vẫn hoàn không’ là Phật cho, tôi mới được như vậy.”

Chính vì “chân không” mà cuộc đời thành “diệu hữu”. Nhà tu thật ngôn là người hành động trong vô vi; nghĩa là thỏng tay vào chợ mà không dính mắc, đối mặt với sấm sét giữa đời mà coi như hoa đóm giữa hư không.

Khuynh hướng nhất quán về “không” có mặt trên từng trang sách của Trí Quang Tự Truyện. Nội dung tự truyện kể lại nhiều biến cố và hành động trong chặng đời 90 năm của một hành giả đứng giữa gọng kềm lịch sử như thầy Trí Quang mà vẫn mang một phong vị tĩnh lặng an nhiên. Sự an nhiên có được khi yếu tố tác nghiệp không hoành hành. Đó là khi nhu cầu biện minh, giải thích, thuyết phục, khen chê, vinh danh, bài xích… không thể hiện qua ngòi bút và chữ nghĩa, ngôn từ của người viết. Nhờ vậy, người đọc tự truyện cảm thấy thanh thản theo dõi những gì xảy ra và được tác giả ghi lại mà tâm không bị động bởi những cảm xúc dấy bụi nhất thời.

Đạo Phật là con đường đưa đến giải thoát. Đó là một trạng thái tự do đứng ngay chính giữa hai bờ đối đãi của yêu-ghét, vui-buồn, khen-chê, sống-chết… Tuyệt nhiên không còn bị dính mắc vào hệ lụy của phóng tâm biên kiến đời thường đầy phiền não. Tâm Phật là tâm không không rỗng lặng. Chỉ trong không không rỗng lặng nầy – tinh thần “không trung vô hữu tuyệt đối” của Bát Nhã – thì Phật và chúng sanh mới thành nhất thể. Vì như thiền sư Thường Định Kaido Ashahi Nhật Bản nói trong Thiền Tập Quán Niệm Trên Núi Tuyết rằng: “Một đời đi qua, nếu còn một hạt bụi ngã nhân nào vướng lại ở trần gian nầy thì kẻ tác tạo hạt bụi đó vẫn còn bị cột buộc. Người đó còn phải quay lại trả nghiệp cho đến khi hạt bụi kia chẳng còn vướng vất giữa trần thế, trong tâm thức và giữa hư không…thì mới mong thấy được khung cửa nghìn xưa quay về nẻo Đạo.” Phải chăng vì muốn phủi sạch đôi “hạt bụi ngã nhân” còn vương trên khung cửa nghìn xưa quay về nẻo đạo mà Hòa thượng Trí Quang phải miễn cưỡng bận lòng trong Tiểu Truyện Tự Ghi, rằng: “Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.”

Xác định về một thái độ hành xử như thế, thầy Trí Quang làm cho những người học Phật đời sau nhớ tới tinh thần tùy duyên hành đạo và sống đạo của Phật giáo đời Trần. Vua Trần Nhân Tông khi đã gác kiếm chống quân Nguyên, thay chiến bào bằng áo cà sa, nghe thị giả hỏi rằng, đâu là chỗ khác nhau giữa việc đời bôn ba và việc đạo an nhiên tự tại, đã đọc bài kệ:

Sống đời vui đạo cứ tùy duyên
Khi đói thì ăn, mệt ngủ yên
Của quý đầy nhà đâu phải kiếm
Thấy cảnh lòng không khỏi hỏi thiền
(Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền)

Như thế phải chăng “vô tâm tức là đạo?” Khi có người hỏi về khái niệm nầy, Tuệ Trung Thượng Sỹ, thầy của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đọc bài kệ:

Vô tâm là vô đạo
Có đạo chẳng vô tâm
Tâm đạo đều trống rỗng
Biết nơi đâu mà tầm?
(Bổn vô tâm vô đạo
Hữu đạo bất vô tâm
Tâm đạo nguyên hư tịch
Hà xứ cánh truy tầm?)


Điều Tuệ Trung muốn nói là cần đập vỡ những khái niệm tương tác không có thật giữa củ khoai và con kiến. Làm gì có con kiến mà kiện củ khoai. Làm gì có tâm và đạo hiện hữu như hai đối thể phân biệt khi tâm và đạo là nhất thể. Tâm và đạo không phải là hai hình tướng để mô tả và phân biệt mà cần thực chứng trong rỗng lặng, an nhiên qua một trong nhiều phương tiện quán chiếu thiện xảo nhất của Phật giáo là thiền định. Đạo Phật là con đường thực chứng cuộc đời chứ không phải phủ nhận hay xa lánh cuộc đời như ngộ nhận. Đạo giữa đời và đời giữa đạo. Bình thường giai thị đạo.

Nhà tu là một người phàm trang bị tính thánh chứ không phải là thánh. Bởi thế, tu hành cũng là một quá trình vật lộn với chính mình vì nghiệp và luân hồi là một chân lý vận hành khách quan. Bất luận Phật tử xuất gia hay tại gia, đã tu mấy đời hay nhiều đại kiếp, khi chưa đắc đạo thành Như lai, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác… thì vẫn còn trực tiếp chịu sự chi phối của Nghiệp. Mục Kiền Liên là đại đệ tử đệ nhất thần thông của đức Phật đã tu qua nhiều đại kiếp, đã từng xuống tận địa ngục A Tỳ cứu Mẹ mà trong kiếp cuối cùng, trước khi đắc đạo, vẫn phải trả Nghiệp tiền kiếp. Ngài đã bao lâu ẩn tàng, mặc cho bọn cướp vây quanh tha hồ biếm nhẻ. Nhưng chỉ một phút tác động của Nghiệp đã để lộ nguyên hình cho bọn cướp ùa tới phanh thây. Tên cướp và thiền sư khác nhau ở chỗ là ai đang tạo nghiệp và ai đang giải nghiệp mà thôi.

Bởi thế, “tùy duyên…” là phong thái hành hoạt của người theo đạo Phật. Tất cả đều có sẵn tự thân tâm. Làm vua gặp quân xâm lăng: Đánh! Làm thầy gặp chuyện bất bằng: Chống! Gặp đời phiền não: Tu! Hết một đời: Thản nhiên ra đi như thay áo. Gặp chuyện thị phi đời thường: Im lặng như chánh pháp. Khi cần lập ngôn: Nói năng như chánh pháp. Có gì quan trọng – khi một tơ hào cũng không còn hiện hữu trong tánh không rỗng lặng – đâu mà phải cần hư vọng, hư danh như bia đá đề tên, lưu danh sử sánh, bỉ thử khen chê.

Trong khung cảnh Phật giáo, Trí Quang Tự Truyện viết ra để ghi lại những chuyện đời thường của chính tác giả. Nhưng tất cả đều không vượt ra ngoài tự tánh của chư pháp “không lại hoàn không” và tác giả đã hành xử; đã sống và viết trong cái không mênh mông rỗng lặng đó. Tiếng chuông công phu khuya từ chùa Hàn Sơn ngày xưa dóng lên từ một sơn tăng đã trở về với tự tánh rỗng lặng. Nhưng Trương Kế và muôn vạn đời sau đã “bắt gặp” và cảm nhận như thế nào là cả một hợp duyên “thân báo” muôn màu muôn vẻ khó thể nghĩ bàn. Khi tiếng chuông tự nó là tiếng chuông thì sẽ không khứ, không lai, không thừa, không thiếu. Tiếng chuông cũng chỉ là một pháp… không lại hoàn không.

Huế – Cali., mùa Phật Đản 2556 (2012)

© Trần Kiêm Đoàn

© Đàn Chim Việt

68 Phản hồi cho “Trí Quang Tự Truyện: Không vẫn hoàn không”

  1. hayan says:

    Nhà sư Tàu giữ việc tiếp đón khách ,một hôm ra ân dạo với một nhóm đồ đệ,thấy Đại sư Ấn Độ ngồi thiên dưới góc cây nên cũng ngồi gần đó ,ý muốn tỏ ra mình hiểu đạo nhiều ,coi thường sư ân độ ,dù là khách đạo cao trọng . Nhà sư Tàu nói vói các đệ tữ theo sư về đọ Phật và nói về chữ “không ” ,nghĩa là không có gì hết,không biết gì hết mới là tu cao về đạo Phật. Bất đò Ong sư Ấn Độ lúc đó đã hêt thiền ,đi ngang qua nghe vậy ,òng ta đanh manh mọt cái lên đầu sư Tàu. Sư tàu thoa đầu ,nhăn nhó than đau “sao thầy đánh tui ?”.”Ồ ta tưỡng thầy không biêt đau vì như thầy nói tât cả đều là không kể ca thân xác này”.
    Trong chiến tranh vn chống VC hay csbv đem quân vào xâm chiếm miền Nam,nhà sư TQ đưa chữ KHÔNG cuả Phật giáo gãi thich cho việc làm nguy hại ,tiếp tay cho giặc công của minh là ngụy biện vô trách nhiệm. Giong như tên Vn giáp khi hỏi về số người chết ở Huế thì nói là “tôi không dính dáng đên !” hay HCM khi hỏi về ccrđ đã chối bỏ trách nhiệm của mình ,đỏ lổi cho người khác…Đối với nhà Phật là vọng ngôn vong ngữ.vọng động ,vọng hành…Thai độ này trong giờ phút này ,sắp xuông âm- ti đén nơi mà chưa sám hối ,chưa ăn năn ,chưa cầu Phật tổ gia hộ thì quả là trơ trẻn…Hay Thầy đang Niêm Phật Di Đà đẻ mong Ngài cứu như lời nguyên của Ngài !
    TK Đ là một Phật tữ ,cùng sinh hoạt vơi nhom phật tữ Huế (g đ PT chùa Tù Đàm cùng với tên đò tẻ ng đ. xuân, tqtThuận (người lái xe đưa thich QQ Đ đi thiêu sống) và nhiều tên khác,trong đó có tên cs Vỏ đình Cường trốn trong chùa không tập kết ra Băc .(ngày 30/4/75,n đ x.vào SG tơi thăm Nhã Ca, Thấy hăn xuất hiện ở cổng nham nhở cười ,nữ sĩ nhà ta hết hồn (hồi ký Nhã Ca).
    Cho nên bài viết này muốn vinh danh cho tên sư (bàn tay nhuộm máu hay chiếc áo cà sa đảm máu) vơi luận điệu của trí thức bóp méo vo tròn kinh Phật sao cho sít sao với tên thầy chùa một thời theo cộng quậy phá đất nước miên Nam ,tiếp tay cho bọn cộng phĩ đánh đấm khắp nơi (vì hậu phương có sư và bàn thờ Phật ngăn chặn lính vnch tiếp cứu
    đồng đội đang đụng độ với giặc cộng.
    Đừng đọc đẻ khỏi bị “đau đầu”!
    (h)
    Còn một hậu quả là chia ré dân tọc (nói chung) đạo giáo ảnh hương đến quân đội . Vào S Đ một Huế các anh lĩnh vp PG gờm gowfmvosi các anh công giáo.SQ cúng không dám to tiếng với linh phật, tữ,sq công giáo không dám sai bảo cái đam quân nhân trong vp nếu trên bfn làm việc có ảnh Phật hay Tt Q hay TQ Đ…Các ong lính công giáo cũng ngồi nhìn ảnh Đức mẹ Ma- ri-a cầu nguyện ,Hai bên nhìn nhau nghi kỵ dù họ là bạn với nhau ngày nào…
    Khi 2 Ông Tướng dẹp xong PG lúc đó tình hình Huế mới tỏ ra sáng sủa. Lính vp yên lòng lo làm iệc củ mình. Một só phật tữ bị đưa ra Trung Đoan 2/S Đ1 (sau này thành lập S Đ3) .
    (h)

  2. VõTrang says:

    Nhà tôi ở đối diện với cổng sau của chùa Diệu Đế. Vào lúc ấy tôi chỉ mới 14, 15 tuổi nhưng đủ hiểu biết để chứng kiến phong trào đem bàn thờ Phật ra đường. Tôi nhận trách nhiệm – dù trí nhớ có thể sai lầm về những lời hiệu triệu của Thượng Tọa Trí Quang (?) hay của ông Bửu Viên ( lãnh đạo của phong trào ở Huế lúc bấy giờ) trên đài phát thanh địa phương … “hãy đem bàn thờ Phật ra đường, có bao nhiêu hãy đem hết ra”… Vào năm 1966, đó là phong trào chống Thiệu – Kỳ của nhóm ông Trí Quang. Tôi nói là phong trào chống Thiệu – Kỳ chứ không phải là phong trào chống đàn áp Phật Giáo của anh em ông Diệm năm 1963.

    Không thì đương nhiên sẽ trở về không. Có rồi cũng sẽ là không. Nhưng có mà cũng làm như không thì lại là nguỵ biện. Như ông Trần Kiêm Đoàn có nói, thần thông như Bồ Tát Mục Kiền Liên cũng còn phải trả một cái nghiệp cuối cùng thì “an nhiên tự tại” như ông Trí Quang trước nỗi đau của cả một dân tộc có thể nào là tâm của một Bồ Tát?

    Trí Quang tự truyện?! Cuộc đời ông không có gì đáng nói, đánh nhớ nhưng vì không thể không có nên phải viết, phải in mà thôi? Cái gì bắt ông “Phải”? – phải chăng đó chính là cái nghiệp do chính ông đã gieo? cái tục lụy khiến ông “phải” như thế có thể nào lại là cái tâm của một người đã nhất quán vào cái không?

    Đức Phật sau 49 năm giảng đạo vẫn nhắc nhở đệ tử của mình rằng “ta chưa hề nói lời nào” là để cho đệ tử của mình đừng vướng mắc vào ngôn ngữ mà quên đi bản tánh của sự vật. Không tánh là bản chất của vạn vật, là giáo lý cơ bản của Phật giáo. Dù bản chất của vạn vật vốn là không, sự hiện hữu của các pháp vẫn là có. Vì thế phật tử phải biết tu dưỡng để thấy nó quả là không. Người tu dưỡng theo Phật Giáo mong cầu được giải thoát chứ không phải để được cứu rỗi. Một giải thoát như thế không đến từ bên ngoài và cũng không thể từ ban cho, hay san sẽ. Nỗi bất khả tư nghị như thế không phải là “phước cho những ai không thấy mà tin” mà là một sự trở về để phá vở tất cả các cái “ngã” đã làm họ khổ đau, kể cả cái ngã cuối cùng là cái “ta”. Viết mà không viết, nói mà không nói là cái đạt đạo của những người đã vượt lên trên những ước lệ của đúng sai, khen chê, vui buồn của con người. Có người nói rằng đức Phật là người đã vượt lên trên cả Thiện và Ác không phải vì ngài coi thiện ác như nhau mà theo tôi vì đức Phật là người đã nhìn thấy Thiện-Ác trong quan hệ nhân quả mà bình tâm tự tại.

    Tinh thần của Phật Giáo không phải là tinh thần của một kẻ trốn chạy hay chối bỏ mà là tinh thần của một kẻ chấp nhận trở về để đối diện với cuộc đời. Cái tâm không rỗng lặng ấy không phải là một cái tâm không có gì của chân không (vật lý) mà là cái tâm đã tìm được bình yên để nhìn xuyên suốt mọi hiện tượng. Trong một tâm thái an nhiên tự tại như thế, họ có thể sống tùy duyên chứ không phải để cái “duyên” tiếp tục lôi họ vào vòng luẩn quẩn khổ đau mãi của cuộc đời.

  3. Khong Dong Thien says:

    Có Nhà Ngoai Cảm có kẻ một câu chuyện ,Khi bi ma nhập có xuông thăm Diêm Phủ gặp vô sô các nhà Sư,Thương tọa Đại đức,các Tiên Tri,như Thich Trí Quang , Thich Trí Đức Thich Không Tanh, Thích thanh Tứ,Trạng Trình Nguyên Bỉnh Khiêm ,Sư Vạn Hanh ,Từ Đạo Hạnh,Khuông Việt Không Minh Không,Phật Hoàng Trân Nhân Tông,, và con nhiêu nhung nhà Chính Trị thòi nay bị giam dưới đó,Ngày ngày bị Quỷ sứ cho ăn Sắt nóng đỏ , Uống dầu sôi,Lại con bị đưa vào Lửa Lưu Hùynh hun đốt búc bối trăm bề,Lại thường bị bon quỷ sư ma đầu đánh đập rất giã man.Thiệc đang thương Vô cùng.Khi đựoc Ma đưa về dương thế trở lại Nhà ngoai cảm này còn toát mồ hôi trán.Ôm bệnh ba tháng mới khỏi.Câu chuyện này có thật

  4. An old soldier says:

    Thai độ “không vẫn hoàn không” là vô trách nhiệm.
    Bao nhiêu tác hại đã và đang xảy ra sao nói là “không”.
    Sau 75, sao “không” thấy múa may gì, sợ “cải tạo” hay sao.

  5. May Vu says:

    Chống cộng riết,, rồi cũng không được gì ,chống ngụy rồi làm đại tá vá bánh xe ,, Danh từ mỷ miều hấp dẫn tiền đồn Tự do công ty làm ân chống cộng phá sãn rồi bõ chạy ,,bỏ ta giửa đường bơ vơ , MTGPMN ,,dảng Lao đơng CS ,đảng cần lao ,đãng dân chủ , MT Hoang cơ Minh ,v,v rồi đổi tên ,rồi cung như không , rồi thơi gian quên lãng và như lịch sử thời Trịnh -Nguyễn phân tranh chỉ cỏn phường bát nháo chúng ta theo cường độ hưỡng lộc ,tù ít tù nhiều mà thái độ hân thù bút chiến tr6n diễn đàn ,,
    Chúng ta sông trong thời kỳ đô hộ thì bị chia ra để trị luôn làm chúng ta ra phần tử nhỏ để kiềm chế và chông đói lận nhau và tiêp theo chiến tranh lạnh nhồi sọ ,rỉ tai chủ nghỉa này ,lý thuyết nọ ưu việt khi giá tri hết .lơi lộc chia chác xong rồi họ phủi tay ,,nhưng anh em ngu chúng ta tiêp tuc đánh nhau như kiểu Trung đông biết bao giơ mới chấm dứt ? hận thù theo năm tháng ngày rồi quên đi không vẫn hoản không ,,con người nhưng không lại giận máu nóng lên ,huyết áp cao chắc chắn uông ly beer không cảm thay ngọt được

  6. CôngĐài says:

    Cám ơn ThíchĐủThứ về một phản-hồi cho Vủ, vừa hợp-tình, vừa hợp-lý. Ca-ngợi Bùi lan, tình-cảm cũng nhiều, nhưng cũng khá cứng-rắn, khá lý-luận – đặc-biệt đối với phản-hồi của ‘ BốMày ‘. Tôi thật ngại-ngùng trước những nickname như một vừa nói đến, và những tên khác như VN, hay Cha, Mẹ, v.v…Ước-ao sao BBT/ĐCV có một hạn-chế đối với những tên riêng đáng tôn-kính như một vài tên vừa nhắc này, để những độc-giả khỏi khó-chịu khi đối-xử với. Rất tiếc không biết những người thích dùng những nickname có đủ lý-trí không. Cám ơn Nghịch Lý Thường làm quan-tòa. Xin lỗi Vũ duy Giang vì một phản-hồi của tôi nêu đích danh bạn, và điều tôi nói có làm bạn phật lòng. Tuy nhiên, xin bạn đọc câu chót của phản-hồi đó ‘ Mong trường-hợp đó không rơi vào VDG ‘. Việc đảo-chánh TT Ngô đình Diệm, không chỉ bạn bất-mãn, mà ngay rất nhiều SQ chúng tôi vào lúc đó cũng bất-mãn. Chúng tôi bấy giờ là những cấp nhỏ, không làm gì được. Việc khai-tử VNCH vào 30/04/1975, hệ-quả của những nguyên-nhân chính – trong đó kể cả những tướng bất tài – Đó là những tàn-dư của thực-dân Pháp để lại, mà niềm hy-vọng của cố TT Diệm là sẽ thay-thế họ bằng những thế-hệ trẻ. Chúng tôi luôn kính-phục TT Diệm và nhất là Ô.Ngô đình Nhu, một người mà tôi tin từ trước đến giờ trong những nhân-sĩ VNCH cũ, và ngay cả đối với những người tài-giỏi của CSVN, không có ai sánh được tư-cách, tài-trí của ông. Tiếc thay thời-vận không đến với VN. Những lứa SQ trẻ, đa-số có lý-tưởng, biết hy-sinh có tài-năng nhưng chưa kịp có thời cơ định-đoạt được vận nước. Vậy thôi. Chào.

    • Vủ says:

      Thưa anh Đài va các đàn anh tại sao diễn đàn ở xứ tự do dân chủ lại yêu cầu BBT /ĐCV dình chĩ cá nhân khác bất đồng ý kiến với mình hành xử như thể chế độc tài và tôi thấy cư xử các anh có trình đô là SQQLVNCH vói đàn em bị lợi dụng và bỏ rơi ,,cố khị hoàn cốt khỉ ,, vơ vét tham lam rồi cũng hoàn không ,,và biết mình đi lính không hoc hành gì nhiều không nhiều chử nghĩa nói lại các anh và không tệ dùng lời thô lổ tuc tiểu với người không đòng ý kiến với mình (thăng trí quang ,thăng diem ,thàng nhu v v v )và diên đàn của mọi thành phần tư do ,dan chủ và tôn trỏng và lịch sư tố thiểu cua con người

  7. Vủ says:

    Thưa quý vị tôi là ha sỉ QĐ 1 SĐ 2 khi di tãn về miền nam đai bàng đây ròi đai bàng biến mất rồi lần tới Vùng tàu bám vào xà lan rồi trôi về USA cuộc đời gian nan ngàn khổ,, ai bỏ rơi mình ?ai bán rẻ mình ?rồi tự học tự làm may mắn làm in cho tờ báo Time ,làm lâu ra lảo làng ,, thấy đa số phãn hồi dùng lời lẻ LOW CLASS và biết các đàn anh là SQ QLVNCH lá có trình độ ,,, ?Ngày xưa ở VN nói tay trái bóp dái không chặt ngung USA tay trái very OK các tổng thống ký tên bằng tay trai củng nhiều ,, chúng ta củng nên lắng nghe khía cạnh trái ,, ngày xưa thông tin trận chiến tuyên truyền quân ta toàn thắng thật sự là quân ta toan thua ,, chúng ta đang ở trẹn đất nước dân chủ ,, nên lắng nghe cái trai và cái phài cuộc đời ,, không có khói làm sao có lửa , chiệu khó tham chiếu lịch sử và trò chơi chính trị năm 68 USA quân số tại VN lên tới 600,000 ngàn và 74 Trung quoc đến Hoang sa USA kề bên đang làm gi và ở đâu ? và vị trí quý vị ,,chác đang hôi của ,,hay lảm nhửng việc (danh từ CS tiêu cực ) hãy đấm ngưc lồi tai tôi tại tôi mọi đàng

    • thíchđủthứ says:

      Chẳng ai bỏ rơi mình,bán rẻ mình.Đó là cái vận chung của nước ,cái tang chung của dân tộc.Dậu dổ bìm le,hạsỉ mà nay vẩn oán các sì quan dù làm lớn gặp nạn lớn (sỉ quan đi tù ,đoạ đày gian khổ chớ đâu có “phây phây”như hạ sỉ )Vào tù găp vài thằng lính,hạ sỉ trả thù mình,thì ra “các chú” là VC (VC thật hay VC 30/4…)củng hách xì xằng ra phết . Nay bám tàu qua đây,củng dược TN vì cái mác hsqvnch (lính chống cộng ) rồi học hành ,ăn nên làm ra,quây lại chưởi vnch,coi như mình “ngon”rồi ! Lại chưởi luôn cả Mỷ mà không “nó” đưa tay trái hay phải gì đó ra “kéo lên” thí nằm trong miệng cá mâp biển Đông rồi ! “chuởi nửa đi em” ! Thì cho đàn em chưởi,nhưng gọng điệu cộng đểu,cộng nằm vùng giả danh thì …nói sao đây ? Như có tên sỉ quan treo cờ VC,có tên trí thức theo thờ hcm,có tên phá nước Mỷ cấp hạ tàng như nhửng tên CS nhân danh TNCS đòi cho được litô SG,chụp mủ cối lung tung và đén nay thấy rỏ,chỉ là trò chơi của VC bạch hóa “thân phân’ hườm đỏ của 01 số có chút uy tín mà thôi ?Trò’đốt cháy” có chăng VC tung ra ? Và mở đường cho VC vào Mỷ hoạt động tự do trong CĐtncs người Việt ? Nhửng người như …hạ sỉ ? (đến nay vẩn có tên đưa vụ litô ra xào (xáo) lại.thật hết biết luôn.)
      Bài mày viết về Ma tăng tri quang và tự truyên của Ma,cho nên viết nửa là “lạc đê” dù chuyên mất nước,và nhửng hê qua xảy ra sau đó ,cho đến nay cả nước như nhà tù lớn dươí quyền cài trị của Ma cộng.củng là do phần lơn ,ma tăng tạo ra và nhửng tên có đôi chút “chí thức,thân công ” huà theo làm nát nền CH đưa đến mất nước….
      Và bây giờ qua Mỷ củng không yên ,Bọn nó như quỉ ám ,cứ theo sát lưng (quần) mà PHÁ.
      …Thì cứ Phá !

      • Vủ says:

        Cám ơn anh thích đủ thứ nhìn anh là SQ thích chơi nhiều hơn giử nước danh dự ,trách nhiệm v v ăn chơ kiếm gái còn trinh như tướng Toàn hơn tìm VC thì lý do đó ,,mà ta bỏ chạy củng dể hiểu ,,USA không viên trợ vì thấy được có những người tài giõi ăn chơi ăn hại cáng lâu càng dài chỉ thêm gắng nợ mà thôi càng dứt sớm càng tốt ,gà quẻ ăn quẩn cối xoay chỉ hại cơm hại của các nhà đôc tài Sadam Hussen ,Karafi ,, có khác gì các chế độ chúng ta miền nam , TTT biết chay đi trước dân ngu cu li như chúng tôi vất vả đi sau và các anh có chử nghỉa đai ca ,quan chức T đủ thứ mất cái này thì còn có C cho cái khác con đàn em thì bị liệt luôn mong các đàn anh viết blog lê đàng hoàng hay làm con chuột như các đàn e cứ mọ dài có ngày gảy răng hô như VC

      • Lamson72 says:

        Hạ sĩ Vũ, cưng thương mến của Qua,

        Qua nhớ hồi xưa Hạ sĩ QLVNCH viết tiếng Việt ngon lành lắm , chứ đâu có bẹc cà na như Hạ sĩ Vũ, viết Tiếng VC đọc muốn ná thở luôn. Trước khi cưng viết ý kiến thì cưng nên học viết Tiếng Việt trước nhá.

        Cưng thương mến, cưng nói Sĩ Quan QLVNCH chơi nhiều không lo giữ nước. Đánh toàn thua mà tại sao VC đánh hoài không chiụ thắng. Mậu Thân 1968 VC có hơn 100 ngàn liệt sĩ. Mùa hè đỏ lửa 1972, 10 sư đoàn sắt thép nhôm đồng chì thiết Điên Biên Điện Giựt sinh Bắc tử Nam gần hết trọi. Đợi đến khi Mỹ cúp hết viện trợ mới rụt rè đặt dép râu vào Sài Gòn phỏng dái mà cán binh toàn con nít 14, 15 tuổi.

        Cưng nên tìm đọc hồi ký của mấy Tướng VC như Trần Văn Trà như Hoàng Cầm như Nguyễn Hữu An đi. Mấy cha tướng VC nầy nó không nói như cưng mà nó nói tui lính Ngụy biết là sẽ thua mà chống trả ác liệt gây cho ta nhiều tổn thất nặng nề. Như vậy thì cưng xạo hay mấy cha Tướng VC xạo?

        Ráng tập viết Tiếng Việt cho đàng hoàng rồi Qua sẽ thăng cho cưng lên Hạ sĩ nhất. Thích nhé

      • says:

        Cám ơn phản hồi của anh Lam Sơn ,đàn em chử nghỉa không nhiều ,nên vào lính rồi ivai ba năm mới lên ha si nhưng củng đọc dươc tối thiểu căn bản trái phải của cuộc đời ,Viết trẹn diễn đàn nay ở ngay xứ tự do các đàn anh cư xử chử nghỉa với đàn em như thời phong kiến ,hay phap thuộc hay đói, hành xử với người không về phe mình ,hay bất dồng ý kiến như là tội phạm ,thấp hèn ,,chử nghỉa ba xu , v v v ,, kề như TT trí Quang là người bất đồng ý kiến của chế độ dệ 1 CH ,trong hiến pháp dân có quyền nói lên quan điên của mình ,như nhửng trong nước hiện nay ,cha Nguyen van Lý hay TT Thich quang Độ ,không về phía phe ta ,tranh đấu theo muc tiêu của chúng ta và không nên gọi họ bằng thằng ,hay ma ,,dốt như tôi thì cũng có phãn ứng ngược lại đàn anh cừ tro chơi đu dưa bẩn thiễu không chính phái hay hùa theo ma giáo ,,ma men thói quen hiêp dâm ,molest chử nhgia3 các đàn em và người mất cơ hội hơn các anh thì các anh cứ viết giỏi Brand name vào các tiêm sách USA best seller cho đàn em nhờ ,chứ lẩn quẩn vài trang nhả báo điên tử nay đổi tên đỏi họ theo lối du kích VC văn hóa lâu lên mạng đọc còn tin chứ tham khảo kỷ thì sẻ phần very trùng hợp ,, , còn chiến tranh VN quá khứ của chúng ta ,,là chuổi dài đau thương ,tấ cả lý do điều khiển từ các phía bên ngoài chúng ta nhầm lẩn cứ đáu đá lẫn nhau ,, nếu chúng ta thật sự là người VN thì dể dàng chấm dứt nếu anh là máu nguòi Trung đông 2 ngàn năm tới nay vẫn còn tiếp tuc (I-ran ,I-rac ,A phu han ,,) hi vong đừng khủng bố ,làm ,đau thuong và khổ người VN nửa ,,đủ rồi các C,..ơi

    • Hoàng Lan says:

      Chú Vũ mến,
      Đọc bài viết của chú mệt và mất thì giờ lắm vì tiếng Việt của chú là tiếng Việt của một hạ sĩ, chắc học hành không tới đâu. Cháu nghĩ rằng chú cố gắng viết sao cho đúng chính tả, ý tứ rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu thì mới thuyết phục người đọc.
      Xin chú thứ lỗi cho một kẻ hậu sinh vì ham hiểu biết quá khứ của đất nước mà có lời có thể làm chú buồn lòng.

  8. thíchđủthứ says:

    Lại viết “sai” nửa rồi.Làmgì cóđàn áp PG ẤQuang,Chỉ là dẹp xong giặccỏ của tên Ma tăng,bình định QKI,đem nhửng người như Tướng “thốimủi” ,vỏ biền ,”đồng bào trong khu tôi”,tên thị trưởng minh mẩn bị quỉ ám nên hết minh mẩn và tên ma tăng tq,đảng viên csvn dưới lốt thầy tu (hú) về sè gòn,thủ đô để xử tội
    phản tẳc (nghe nói Tướng L đòi đá ông sư xuống máy bay,sư hải quá,củng “lạy” xin tha (theo một người góp ý trên dđ. này.Thì ra sư điệp viên củng “sợ” chết !),Nhưng vào SG,vì v/đ chính trị tế nhị nên giao áo nâu và cái đầu không tóc, cho vợ chống B/s tài nuôi nấng, sư tuyệt thực:DỌA vá lám áp lực, Nhưng chẳng ai lưu ý tới.3 tháng không chết và mập ra nên bỏ tuyệt thực,vìchính phủ chăng lưu tâm,dân chẳng nhắc tới.,báo chí hoan hô tuyệt thực.Dù sống được cung phụng (ai ra tiền ?)nhưng nhịn ăn hoài mà không suy suyển củng kỳ,nên thôi. Báo chí ca ngợi “Tuyệt thực 100 ngày không chết…” B/s Tài cười và mọi người cùngcuời cười (diểu rất hay !)Giỏi thiệt (không biết vụ này có ghi vào “tự truyện” không ?
    Ngoài ra ,vụ đói litôSG mơi đây củng có anh hùng xịt nhin mới 21 ngày ,đói quá,Mỷ nhân đạo tạm giải quyết,hết tuyệt thực ta lại ăn vài tô phở xe lửa ! Sau này có kẻ tố cáo đêm đêm làm ma càrồng,xuất thân đi ăn cổ (có video không biết ai quây ,chứng minh )
    ÔNG cựu TT Cao Kỳ là con cầu tự,theo Phật sao là khắc tinh của thầy chùa ?Hay chính thầy chùa là Ma (ác ma ) nên khắc tinh với con Phật?
    adiđàphật !
    tđt

Phản hồi