|

Viện trợ khẩn cấp 722 triệu để cứu miền Nam

Hành pháp muốn bán cái cho Quốc hội, họ đổ lỗi cho Quốc hội một cách khéo léo, thực ra trong thâm tâm họ tìm cách rút khỏi VN, dù hành pháp, lập pháp họ cũng là Mỹ, họ vì quyền lợi  của đất nước họ.

Về hậu quả của cắt giảm quân viện, cựu Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội VNCH trong cuốn Những Ngày Cuối VNCH đã cho biết về ảnh hưởng tai hại của quyết định giảm thiểu viện trợ quân sự của Quốc hội Mỹ đối với quân đội VNCH, nó đã khiến quân đội thiếu thốn và giảm hỏa lực rất nhiều, không thể tồn tại lâu được nếu không có tăng viện.

“Ngân khoản 700 triệu chỉ cung cấp được phân nửa nhu cầu tối thiểu của quân đội VNCH, trong năm 1975 hoạt động quân sự của CSBV gia tăng 70% hơn năm trước”

Những Ngày Cuối của VNCH, trang 85.

Trong mục nói về ngân quĩ của Không quân và Hải quân trang 86, 87 ông Cao Văn Viên đã cho biết cụ thể, xin tóm lược dưới đây như sau.

Với số ngân khoản ít hơn, không quân VNCH phải giải tán hơn 200 phi cơ gồm các loại như chiến đấu. Giảm giờ bay thực tập và yểm trợ, Không quân chỉ cung ứng 50% yểm trợ hỏa lực và 58% các phi vụ thám thính so với tổng số các phi vụ trong năm 1973-1974. Trực thăng vận bị giảm 70% vì thiếu nhiên liệu gây trở ngại cho việc tản thương, tăng viện hay tiếp tế nhất là tại đồng bằng sông Cửu long, sông ngòi chằng chịt.  Các hoạt động Hải quân bị cắt giảm 50%, các hoạt động ở sông ngòi chỉ còn 28%, sự cắt giảm sâu rộng khiến ta phải giải tán 600 giang thuyền . Hải quân không còn đủ khả năng kiểm soát sông ngòi và vùng ven biển nhất là Vùng 4, sự kiểm soát cửa khẩu dẫn vào sông Sài Gòn, đường sông Sài Gòn – Vũng Tầu, các bến tầu Qui Nhơn, Đà Nẵng, Cam Ranh nằm trong tình trạng nguy hiểm.

Những ngày cuối của người lính VNCH.

Trang 88 và 89 sách nêu trên ông Cao Văn Viên nói về khó khăn trong việc thay thế phụ tùng và quân cụ.

Từ trang 89 tới 94 tác giả đề cập tới tiết mục quan trọng nhất: Nhiên liệu và đạn dược.

Tổng số ngân sách của Lục quân năm 1975 là 458 triệu đô la, 52% số tiền đó (239 triệu) dành cho đạn dược, tuy vậy con số này chỉ cung ứng được 56% nhu cầu thực sự của Lục quân. Hàng tháng ngân quĩ chỉ cho phép lấy ra một số tiền là 19.9 triệu (gần 20 triệu) cho chi phí đạn dược. Con số này chỉ bằng phân nửa chi phí hàng tháng trong thời gian từ tháng 6-1973 đến tháng 2-1974 là 37.3 triệu (hơn 37 triệu), ngoài ra vấn đề lạm phát làm giá đạn tăng 27.7%.

Trong 8 tháng từ tháng 7-1974 đến tháng 2-1975 quân đội xử dụng 19,808 tấn đạn hàng tháng chỉ bằng 27% (hay chưa tới 1/3) so với 73,356 tấn dùng hàng tháng trong thời gian trước (có nghĩa là hỏa lực giảm hơn 70%).

Trang 92, tác giả Cao Văn Viên cho thấy thực trạng bi thảm của tồn kho đạn dược dự trữ.

Mặc dù một số đạn dự trữ trong kho của Quân Đội Hoàng Gia Lào được chuyển sang cho quân đội VNCH, số dự trữ tồn kho của chúng ta chỉ cung ứng được từ 30 đến 45 ngày. Vào tháng 2-1975, số lượng đạn tồn kho tuột xuống con số nguy hiểm. Các loại đạn súng lớn nhỏ chỉ đủ xài trong khoảng 30 ngày. Tháng 4-1975 đạn tồn kho ở bốn kho dự trữ tuột xuống mức độ thấp nhất là chỉ đủ 14 đến 20 ngày cung ứng”.

Khoản 722 triệu khẩn cấp

Chúng tôi xin đề cập kỹ hơn về khoản viện trợ này nhân dịp tháng tư đen năm nay, chúng ta nên để ý từ khi CSBV bắt đầu tiến hành chiếm miền Nam bằng quân sự, quân viện của Mỹ cho miền Nam thường không đủ cho nhu cầu chiến trường so với BV, họ đã  được CS quốc tế viện  trợ rất  dồi dào. Năm 1964, 1965 tình hình miền Nam nguy khốn vì hoả lực mà người Mỹ cấp cho miền Nam thua kém hoả lực của Cộng quân do Nga Tầu viện trợ, năm 1972 VNCH đã được Mỹ viện trợ đầy đủ hơn những năm sau Hiệp định Paris nhưng nếu không có yểm trợ của phi cơ chiến lược B-52 miền Nam đã mất nhiều tỉnh như Kontum, Quảng Trị, Bình Long…chính cựu Đại Tướng Cao Văn Viên đã xác nhận như thế. Nhiều người cho viện trợ súng đạn của CS quốc tế cho BV để đánh nhau với Mỹ chứ không phải với VNCH.

Khi đưa quân vào VNCH từ năm 1964 là 23,300 người và 1965 là 184,300 người Hoa Kỳ tưởng rằng với hỏa lực hùng hậu họ sẽ đè bẹp quân địch  ngay nhưng hỏa lực của CS quốc tế viện trợ cho BV không đến nỗi tệ như họ nghĩ. Cho tới  cuối năm 1966 có 832 chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi (Đoàn Thêm, 1966, Việc Từng Ngày trang 223), toàn bộ cuộc chiến có 2,251 chiếc bị CS bắn hạ (nguồn en.wikipedia.org). Ngày 16-12-1972 tại cuộc Hòa đàm Paris, BV bỏ không thèm họp tiếp mặc dù bị Mỹ hăm dọa oanh tạc ồ ạt điều này chứng tỏ họ đã được Nga cung cấp một lực lượng phòng không hùng hậu nên đã tỏ ra ngang ngược , trong trận oanh tạc Giáng Sinh 1972, CSBV đã bắn hạ 15 B-52 và 12 phi cơ chiến thuật khác.

Khác với thời Thế Chiến Thứ Hai các nước Anh, Mỹ, Nga, Đức, Nhật … đã tự sản xuất được vũ khí để giao tranh, hai miền Nam, Bắc VN đều phụ thuộc vào viện trợ quân sự của các nước ngoài như Mỹ, Trung Cộng, Nga Sô… bên nào bị cắt giảm viện trợ là thua ngay như VNCH năm 1975. Đối với cả hai miền Nam, Bắc, viện trợ quân sự là một vấn đề sinh tử như đồ ăn thức uống vậy.

Trong khi VNCH hấp hối vì bị tấn công dữ dội, quân khu 1 và 2 đã rơi vào tay BV mà Tổng thống Ford cho biết ông đã cử Tướng Weyand sang Sài Gòn điều tra, ông đang chờ bản điều tra của Tướng Weyand thì ta đã thấy không còn hy vọng gì  vào người Mỹ. Nay nhiều bí mật đã được tiết lộ, Tướng Weyand sang Sài Gòn ngày 28-3-1975 cũng chỉ là để tìm cách thu hồi máy bay, tầu chiến cho khỏi lọt vào tay Cộng quân được chừng nào hay chừng nấy, họ chuẩn bị rút chạy.

Đài VOA ngày 18-4-1975 cho biết Quốc hội Mỹ bác bỏ quân viện khẩn cấp 722 triệu mà chỉ thuận cấp ngân khoản di tản, họ cho rằng nếu viện trợ cho miền Nam số ngân khoản này cũng chỉ kéo dài chiến tranh gây thêm tang tóc. Cùng ngày 18-4-1975 Tướng Toàn cho lệnh Sư đoàn 18 rút bỏ Long Khách về lập tuyến phòng thủ Sài Gòn, ngày 21-4-1975 TT Thiệu từ chức, phó TT Trần Văn Hương lên thay, ngày 28-4-1975 Đại Tướng Dương Văn Minh đươc cử lên làm TT thay thế  ông Trần Văn Hương để rồi ngày 30-4-1975 miền Nam hoàn toàn mất vào tay CS.

Tình hình cuối tháng tư 1975 chỉ có sự yểm trợ của pháo đài bay B-52 mới mong cứu vãn nổi tình thế nhưng từ tháng 6-1973 Quốc hội Mỹ  đã biểu quyết cắt các ngân khoản cho các hoạt động quân sự của chính phủ tại Đông Dương, tháng 10 Quốc hội ra Đạo Luật Quyền hạn chiến tranh (War Powers Act) giới hạn quyền Tổng thống Mỹ, hành pháp đã bị trói tay chỉ còn cách rút lui khỏi Đông Dương.

Chúng tôi xin so sánh lực lượng hai bên vào ngày 18-4-1975 khi quốc hội bác bỏ quân viện khẩn cấp 722 triệu Mỹ kim. Khoảng một tuần sau khi hai quân khu 1 và 2 bị lọt vào tay CSBV, TT Thiệu lên tiếng trên đài truyền hình về hiện tình  của miền Nam, ông cho biết lực lượng CSBV đưa vào Nam lên tới 25 Sư đoàn, nhưng đa số các tài liệu cho biết họ đưa vào khoảng 20 Sư đoàn. Theo tác giả Nguyễn Đức Phương (Chiến Tranh VN Toàn Tập) BV có 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232 (tương đương một quân đoàn) tổng cộng 15 Sư đoàn . Trong hồi ký của văn Tiến Dũng có ghi lời Lê Đức Thọ, y nói chúng ta có 15 Sư đoàn, ngoài ra trong Những Ngày Cuối VNCH trang 160 cựu Đại Tướng Cao Văn  cho biết BV có khoảng hơn 10 trung đoàn độc lập và một số trung đoàn đặc công tại Vùng 1 tương đương với 3 hoặc 4 Sư đoàn như vậy toàn bộ lực lượng BV tại miền Nam vào khoảng 20 Sư đoàn cộng với khoảng từ 20 tới 30 trung đoàn xe tăng , pháo phòng không, pháo mặt đất…

Tác giả Nguyễn Đức Phương trong chương gần cuối cuốn Chiến Tranh VN Toàn Tập  nói về chiến dịch Hồ Chí Minh tấn công Sài Gòn  đã trích tài liệu CS như sau

“ CS cũng đã xác nhận cán cân lực lượng trong chiến dịch này như sau:

Ta: 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4, và 232 bao gồm 15 sư đoàn bộ binh, 5 lữ đoàn bộ binh biệt lập, 4 trung đoàn tăng thiết giáp và 6 trung đoàn đặc công. Quân số tổng cộng khoảng 280 ngàn với 400 xe tăng và 420 pháo”.

Riêng lực lượng BV bao vây Sài Sòn đã lên tới 20 sư đoàn  và như đã nói ở trên vũ khí đạn dược của Cộng quân trong  trận 1975 gấp bội lần  năm 1972, ngoài ra họ cũng lấy được nhiều chiến lợi phẩm, các kho đạn của VNCH tại các quân khu 1 và 2  do sự sai lầm trong kế hoạch tái phối trí lực lượng của TT Thiệu, tuy không  có con số thống kê nhưng ít nhất cũng có 50% đạn dược, quân dụng bị bỏ lại lọt vào tay Cộng quân, hồi ký Văn Tiến Dũng cho biết BV lấy được nhiều xe tăng, đại bác, máy bay của VNCH tại miền trung.

Ngay như trong trận mùa hè đỏ lửa 1972, khi ấy lực lực lượng BV chỉ có tới 10  Sư đoàn, bằng một nửa lực lượng của họ năm 1975, vũ khí đạn dược cũng chỉ bằng một nửa hoặc một phần ba năm 1975. VNCH hồi ấy mặc dù được viện trợ đầy đủ hơn năm 1975 nhưng vẫn phải nhờ vào sự yểm trợ của các oanh tạc cơ B-52 , chính ông Cao Văn Viên đã nói nếu không có sự yểm trợ này miền Nam sẽ mất một số tỉnh như Quảng Trị, Kontum, Bình Long… vì hoả lực của Cộng quân  mạnh hơn của VNCH.

Vào cuối tháng 3-1975, Đà nẵng mất, quân khu 1 hoàn toàn thất thủ, quân khu 2 mất 10 tỉnh chỉ còn Phan Rang, Phan Thiết, các lực lượng chính qui, những Sư đoàn tinh nhuệ thiện chiến nhất của cả hai vùng mất gần hết quân số. Tại Vùng 2  Sư đoàn 23 bị thiệt hại và rã ngũ gần hết, Sư đoàn 22 chỉ còn khoảng 2,000 tại Qui Nhơn được tầu hải quân chở vào Nam, 7 liên đoàn Biệt động quân bị thiệt hại và rã ngũ. Tại vùng 1, bốn sư đoàn chính qui 1, 2, 3, và Sư đoàn TQLC, 4 Liên đoàn BĐQ nhưng chỉ có khoảng 15% được di tản vào miền Nam. Theo Nguyễn Đức Phương năm 1976 Tướng Ngô Quang Trưởng trả lời một cuộc phỏng vấn cho biết khoảng 6,000 TQLC, non nửa lực lượng của Sư đoàn và 4,000 quân thuộc các binh chủng khác đã được tầu bè cứu thoát, tổng cộng 10,000 người.

Cuối tháng tư năm 1975, quân khu 3 VNCH có 3 Sư đoàn cơ hữu và 4 liên đoàn BĐQ trong đó chỉ có SĐ 25 tại Củ Chi và SĐ 5 tại Lai Khê là còn nguyên vẹn, SĐ18 đã bị thiệt hại 30% quân số sau trận Xuân Lộc, toàn bộ lực lượng phòng thủ Sài Gòn và vùng phụ cận chỉ vào khoảng trên dưới 5 Sư đoàn chủ lực trong đó kể cả các đơn vị di tản từ miền Trung với quân số thiếu hụt. Cho dù Quốc Hội Mỹ chấp thuận ngân khoản viện trợ khẩn cấp 722 triệu sau ngày 10-4 quân ta cũng không thể cứu vãn tình thế vì sự chênh lệch về lực lượng và hoả lực như đã nói ở trên.

Ngân khoản này nếu được chấp thuận có thể giúp cho miền Nam đủ đạn dược chiến đấu thêm một vài tháng nhưng cuối cùng cũng vẫn thua, cũng chỉ kéo dài sự hấp hối như Nam Vang. Cuộc chiến sẽ tàn khốc hơn, các thành phố Sài Gòn, Biên Hoà, Bình Dương, Hậu Nghĩa… sẽ  bị CS pháo kích tan nát, cả hai bên sẽ tử thương tổn thất nặng, dân chúng Sài Gòn và các thành phố sẽ bị  bom đạn giết hại rất nhiều. Sau khi chiến trận kết thúc Thủ đô Sài Gòn sẽ bị địch trả thù, bắn giết tập thể hoặc tắm máu như tại Nam Vang, đó là điều khó tránh.

Sự thực cho dù Quốc hội Mỹ có viện trợ cho Miền Nam ngân khoản 722 triệu hoặc một tỷ trước khi mất Ban Mê Thuột ta cũng không đủ hoả lực vì như trong thời gian Mỹ chưa rút về quân phí thường là từ 10 cho tới 20 tỉ một năm, số tiền viện trợ  1 tỷ hoặc 700 triệu không đủ giúp cho miền Nam tự vệ trong khi hơn 500,000 quân đồng minh đã rút về nước. Nếu Quốc Hội  My chấp thuận ngân khoản viện trợ khẩn cấp 722 triệu kể trên cho miền Nam vào giữa tháng 4-1975  họ sẽ không bị mang tiếng là bỏ rơi đồng minh nhưng miền Nam chúng ta sẽ bị lãnh  đủ như đã nói ở trên. Trận chiến sẽ kéo dài,  chết dân, chết lính … chỉ có một thiểu số người giầu có thế lực, các viên chức cao cấp, Tướng lãnh… là có nhiều cơ hội chạy thoát.

Quân đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, tiếp thu Dinh Độc Lập.

Khoảng 10 ngày trước khi miền Nam sụp đổ, báo chí Sài Gòn cho biết các nhà chính khách Tây Phương đã vận động thương thuyết để tránh cho Sài Gòn khỏi trở thành bãi chiến trường. Cho tới nay dần dần những bí mật được tiết lộ cho thấy dù sao người Mỹ vẫn còn chút lương tâm, họ vận động mọi cách để tránh cho Sài Gòn thoát khỏi cảnh núi xương sông máu. Sau ngày 30-4-1975, ông Nguyễn Văn Thành đốc sự hành chánh, cựu Tổng thư ký phủ Phó Tổng thống tiết lộ: Khoảng giữa tháng 4-1975, Ông Trần Văn Hương gặp ông Thiệu ở dinh Độc Lập về nói cho ông Thành biết là ông Đại sứ Mỹ nhờ Đại Sứ Anh nói với ông Thiệu hãy bàn giao chức Tổng  thống cho ông Hương  để ông Hương bàn giao cho ông Dương Văn Minh. Ông Hương rất bực tức nhưng không từ chối được. Sở dĩ phải bàn giao cho Dương Văn Minh vì họ hy vọng ở sự thương thuyết với BV để tránh đổ máu.

Ông Trần Bình Nam có tóm tắt một tài liệu của CIA giải mật ngày 19-2-2009, dài 243 trang (CIA and the generals: Covert Support to the military government in South Vietnam) đăng trên báo điện tử Danchimviet.com. Đoạn dưới đây cho thấy Mỹ sắp xếp để Sài Gòn đầu hàng, tránh đổ máu.

“ Ngày 18-4 Hanos G Toth, một đại tá người Hungary trong phái đoàn quốc tế kiểm soát đình chiến gặp Polgar (CIA) và cho biết qua các cuộc nói chuyện với phái đoàn Hà Nội ông ghi nhận rằng Hà Nội chỉ muốn tăng sức ép để Sài Gòn sụp dần chứ không muốn có  một cuộc tấn công quân sự để kềt thúc chế độ. . . . Toth nói Hungary từng nếm mùi thất trận và tàn phá nên không muốn thấy Sài Gòn bị tàn phá như Berlin năm 1945. Polgar hiểu đây là lời nhắn của Hà Nội nên bên cạnh việc di tản, Polgar và đại sứ Martin lo tìm cách thuyết phục Thiệu từ chức và thành lập một chính phủ liên hiệp gồm các thành phần thiên Cộng để đầu hàng “

Như thế trùm CIA Polgar và Đại Sứ Martin đã dàn xếp cho TT Thiệu từ chức đưa Đại Tướng Dương Văn Minh lên để tránh cho Sài Gòn khỏi bị tàn phá như Bá Linh 1945

Kết luận

Tướng Cao Văn Viên có nói ở phần kết luận cuốn Những Ngày Cuối Của VNCH.

“Cấp lãnh đạo VNCH không thấy rõ sự thay đổi về đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ, khi Hoa Kỳ chuyển sang thái độ hoà hoãn, thoả hiệp với Cộng sản quốc tế – dù phải thất hứa với đồng minh. Vì không nhận rõ sự thay đổi ngoại giao của Hoa Kỳ, cấp lãnh đạo VNCH đã không uyển chuyển thay đổi kế hoạch quốc gia cho phù hợp với thực trạng và tình thế. Sau hiệp định Paris 1973, VNCH vẫn trông đợi vào những hứa hẹn xa vời và bất thể hiện”

(Trang 236)

Ta thấy TT Thiệu đã không uyển chuyển thay đổi đường lối chính sách cho phù hợp với thực trạng và tình thế khi Mỹ đã bắt tay với CS quốc tế từ 1972 để giải quyết tận gốc rễ thuyết Domino mà vẫn ôm khư khư chính sách cứng rắn lỗi thời.

Ngoài ra Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt đã nhận xét về khuyết điểm của TT Thiệu là không nắm vững tình hình quốc ngoại như sau.

“Việc ông sửa đổi Hiến Pháp để làm Tổng Thống thêm một nhiệm kỳ năm năm nữa chứng tỏ ông đã không nhìn thấy việc Hoa Kỳ sắp bỏ rơi Việt Nam và đã làm xáo trộn thêm tình hình chính trị trong nước”

(Cuộc Chiến Dang Dở trang 273.)

Đối với tình hình quốc nội TT Thiệu lạc quan tin tưởng vào lời hứa của Hoa Kỳ và có cái nhìn khinh địch, trong phiên họp quân sự cao cấp ngày 9 và 10-12-1974 tại dinh Độc Lập ông cho biết CSBV chưa phục hồi sau trận mùa hè đỏ lửa, họ không đủ khả năng đánh vào các thành phố lớn, về điểm này FrankSnepp (trong Decent interval), hồi ký Văn Tiến Dũng, Tướng Cao Văn Viên cũng đã ghi nhận như thế .

TT Thiệu đã sai lầm về chính trị như trên ông cũng sai lầm cả về quân sự như mọi người đều thấy kế hoạch tái phối trí lực lượng của ông đã làm tiêu tan cả hai quân khu trong khoảng 13 ngày từ 16-3-1975 cho tới 29-3-1975. Vào thời điểm này nhất là từ sau ngày ký Hiệp định Paris, TT Thiệu cần phải nhìn thấy Hoa Kỳ đã đổi chính sách, cả hành pháp vẫn lập pháp, họ đã thoả hiệp  với CS quốc tế.

Trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc 70,295 tấn hàng quân sự, mười năm sau giai đoạn 1973-1975 viện trợ ấy đã tăng lên 724,512 tấn, gấp hơn 10 lần.

Trong khi ấy tiền quân viện của Mỹ cho miền Nam như đã nói ở trên giảm dần, cho tới tài khóa 1975 chỉ còn bẩy trăm triệu (0,7 tỷ).

Theo GS Nguyễn Tiến Hưng với ngân khoản 700 triệu viện trợ, trong khi đó thì cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá săng nhớt tăng gấp bốn. Bởi vậy mãi lực thật của ngân khoản ấy chỉ là trên dưới 350 triệu.

Khoản quân viện 350 triệu hồi 1975 còn thua kém quân viện 1963 (384 triệu) chút đỉnh; 10 năm đã trôi qua từ 1964, trong khi CS quốc tế viện trợ cho BV gấp 10 lần, Hoa kỳ đã viện trợ nhỏ giọt cho miền Nam VN chưa  bằng 1963, 1964.  So sánh viện trợ quân sự cho miền Bắc và miền Nam ta có thể đoán đã có sự xếp đặt của các siêu cường.

Nếu TT Thiệu từ chức vào đầu 1973 sau khi Mỹ ký hiệp định Paris thì miền Nam có cơ hội hơn, TT Thiệu không nhìn thấy vai trò đường lối của ông nay đã lỗi thời, gió đã đổi chiều, người ta đã hoà hoãn với CS quốc tế, ông không thể duy trì đường lối cứng rắn mà phải chuyển sang chính sách ngoại giao cho phù hợp với tình thế như Tướng Viên đã nói ở trên. TT Thiệu vẫn chủ quan chủ quan cho rằng ngoài ông ra không ai có thể bảo vệ non sông gấm vóc để giữ độc quyền yêu nước và cứu nước, “Après moi le deluge” sau ta là nạn Hồng thủy.

TT Thiệu tin tưởng vào lời hứa của cựu TT Nixon qua mấy bức thư là một sự sai lầm trầm trọng, khi TT Nixon hứa với ông Thiệu trước ngày ký Hiệp định là sẽ thẳng tay trả đũa  BV nếu họ vi phạm Hiệp định, ông chỉ hứa miệng qua một số bức thư riêng mà không dám hứa công khai vì sợ Quốc Hội chống  đối, họ sẽ không cho ông hứa như vậy, người ta đã quá chán cuộc chiến tranh Đông Dương chỉ muốn rút bỏ càng sớm càng tốt. Một lời “hứa chui”, “hứa lén” thì làm sao tin cho được nhưng TT Thiệu khi ra hải ngoại vẫn oán trách họ thất hứa với đồng minh thì đủ thấy ông vẫn còn chưa tỉnh cơn mơ.

Một điều không thể phủ nhận được, tình hình giữa tháng 4-1975 là di sản do TT Thiệu để lại.

Nay nhiều người oán trách Tiến sĩ Kissinger cho rằng ông đã vận động đi đêm với Bắc Kinh để bỏ rơi VNCH, nhận định này vô tình đã đề cao vai trò của họ “Kít” một cách quá đáng. Cương vị phụ tá, thầy dùi cho Tổng thống, ông ta được Nixon giao cho nhiệm vụ móc nối với Trung Cộng và ông đã hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp.  Sự thực việc móc nối này cũng chẳng đáng coi là một kỳ công vì nó đã chín mùi, con sư tử Bắc Kinh cũng đã quá mệt mỏi vì cuộc chiến VN sau hàng mấy chục năm viện trợ quân sự cho Hà Nội từ 1950-1975, vả lại họ cũng đang cần canh tân đất nước đã quá nghèo nàn đói khổ, Bắc Kinh đang mong mỏi được bắt tay đế quốc.

Ngay như TT Nixon trong những năm đầu thập niên 70 cũng còn chẳng có thực quyền đối với vấn đề VN chứ đừng nói một tay thầy dùi cố vấn như Kissinger. Như ta đã thấy mọi quyết dịnh lớn nhỏ đều phải đưa Quốc hội biểu quyết, nhất là sau ngày ký Hiệp định Paris hành pháp đã bị quốc hội trói tay, ai cũng đều biết cả. Việc bỏ Đông Dương hoặc giữ Đông Dương trên thực tế không thuộc thẩm quyến hành pháp mà phải có sự đồng ý của ngành lập pháp.

Năm 1972 Nixon hoà hoãn, thoả thuận vơi CS quốc tế, ông đã không bị lập pháp và cử tri chống đối, có nghĩa là đã đi đúng đường lối quốc gia trong giai đoạn này. Chính phủ, quốc hội, nhân dân đã đồng lòng nhất trí với nhau giải quyết tẫn gốc rễ thuyết Domino, vấn đề nằm ở chỗ đó.

Giữa thập niên 60 người mỹ ủng hộ triệt để thuyết Domino để cứu vãn tình thế miền Nam với sự tốn kém nhân lực tài lực vừa phải vì VN có tầm quan trọng trung bình nhưng cho tới 1968 nó đã vượt lên số trên 500,000 quân xuất ngoại nên họ thay đổi hoàn toàn nhận định, số người ủng hộ đã tụt thang nhanh chóng

(People endorsed the theory only if they were willing to endorse the commitment of enough resources to save South Vietnam, and as the definition of “enough” expanded to 500,000 men and beyond, the number of people willing to endorse the commitment shrank dramatically – Answer.com, Domino theory).

Năm 1975 Hoa Kỳ bỏ toàn bộ Đông Dương chứ không riêng gì VN, Nam Vang thất thủ ngày 17-4-1975 trước VNCH gần hai tuần lễ, họ cắt viện trợ chính phủ Non Lol đến mức kiệt quệ một cách tàn nhẫn.

Năm 2006, qua một bài phỏng vấn cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn trên internet, một độc giả có góp ý hỏi như sau.

“Thưa ông chúng ta đã biết trước là sẽ thua vì bị cắt quân viện mà sao vẫn cứ đánh để nhiều người chết thảm”

Quả là một câu hỏi rất khó trả lời.

Có một độc giả góp ý dưới một bài về trận chiến 1975 trên internet nói ông Thiệu cho lệnh rút bỏ hai quân khu đã giúp cho hai bên chết ít hơn. Cũng có nhiều người cho rằng nếu 1975 tiếp tục đánh thì cả hai bên sẽ cùng chết nhiều như bên Căm Bốt mà cuối cùng ta vẫn thua, chỉ đổ máu vô ích .

Thật cũng khó mà nói thế nào là sai là đúng

Chiến tranh đã chấm dứt từ 35 năm qua nhưng vẫn còn lưu lại trong tâm khảm người Việt tỵ nạn lưu vong nhiều cay đắng, uất hận về thực trạng tàn nhẫn phũ phàng của biến cố, người ta tưởng như nó mới diễn ra ngày hôm qua.

Đối với người tỵ nạn lưu vong, quá khứ đau lòng ấy vẫn còn sống mãi trong ký ức họ cho tới khi nhắm mắt lìa đời.

Viết cho tháng tư đen lần thứ 35,

Mùa Quốc hận 2010

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

Ghi chú:

www.answer.com/topic/domino-theory: Domino theory.

www.spartacus.schoolnet.co.uk/cold.domino.htm: Domino theory.

BBCVIETNAMESE.Com: Viện Trợ Quốc Tế Cho Miền Bắc Trong Chiến Tranh , 10-5-2006

Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war.

English.illinois.edu/maps/vietnam/antiwar.html: Mark Barringer: The Anti-war Movement in the United States.

Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh 2005

Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003.

Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.

Đặng Phong: 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Trí Thức Hà Nội, 2008

Đoàn Thêm: 1969 Việc Từng Ngày, Xuân Thu.

Danchimviet.com: Trần Bình Nam, CIA Và Các Ông Tướng, Phần 6, Chương 9: Tìm Lối Đầu Hàng Và Di Tản.

Trần Văn Nhật: Cuộc Chiến Dang Dở, nhà xuất bản An Lộc 2003.

Ngô Quang Trưởng: Trận Chiến Trong Mùa Phục Sinh Năm 1972, Trung Tâm Quân Sử Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, bản dịch của Kiều Công Cự, xuất bản 2007

Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.

Nguyễn Văn Toàn, Lê Bá Khiếu, Nguyễn Văn: Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam 1954-1975, in 2002.

Trần Đông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối Cùng, Nam Việt 2006.

Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990.

Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Viet Nam, 1986, Sphinx Publishing.

The Word Almanac Of The Viet Nam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985.

James H.Willbanks: Vietnam war Almanac, Facts on file – 2009

Stanley Karnow: Viet Nam, A History, A Penguin Books 1991.

Marilyn B. Yuong, John J. Fitzgerald, A. Tom Grunfeld: The Viet Nam War, A history in documents, Oxford University Press 2002.

Nguyễn Kỳ Phong: Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam: Người Việt Dallas 21-6-2006 .

Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Đỗ Cung dịch, Người Việt Dallas số 26-4-2006.

Trung Tướng Lữ Lan: Cuộc Chiến Ba Mươi Năm Nhìn Lại Từ Đầu, Sài Gòn nhỏ Dallas 28-4-2006.

Pages: 1 2

2 Phản hồi cho “Viện trợ khẩn cấp 722 triệu để cứu miền Nam”

  1. dien van vu says:

    Sau khi giet cu Diem roi, tui lanh dao mien nam khong mot thang nao du dao duc , thong minh , nhin xa , an choi phe phon , hoi lo v.v. mien nam phai sup do la di nhien , bay gio dung khoc nua ,

  2. Lâm Vũ says:

    Đúng là chuyện… đau đớn, nhưng thôi tác giả đã mở vết thương.. lòng ra thì cũng nên… làm cái gì đó… hơn chỉ là để “hưởng thú đau thương”!

    Ở đây tôi muốn đặt câu hỏi vẫn canh cánh trong lòng thời lâu: qua mọi phân tích nhận định, thì thời Đệ nhị CH, hay ít nhất là là từ nhiệm kỳ Hai của TT Thiệu, ai cũng nhận định là lãnh đạo (tức TT Thiệu) lầm lỗi hơi nhiều, còn lại không ai làm gì được!

    Thật là một điều thậm vô lý! Một mình ông Thiệu, thì dù là Tổng Thồng có làm gì được nếu không có Nội các, Quốc Hội, bao nhiêu tướng lãnh hét ra lửa… chưa kể giới trí thức đông đảo, nhà văn nhà báo, đại thương gia… Tất cả đều “không làm gì được” hết sao? Tại sao thế? (Ông Thiệu “không biết” Mỷ sẽ bỏ Việt Nam, vì thế miền Nam sẽ mất vào tay CS quốc tế… thế bộ những người khác không biết sao? Sao không có ai tranh luận, phản đối, tuyệt thực, tự thiệu… để thức tỉnh TT Thiệu?!!!…).

    Ấy… bây giơ cũng giống hệt thôi. Ai cũng biết CS Hà Nội đang bán nước (cụ thể) để vinh thân phì ra.. chẳng màng gì đến việc đất nước mất hẳng về tay Bắc Kinh, dân Việt ai không chạy được để thành đám dân vô tổ quốc thì trở thành nô lệ giặc Tàu như đúng 1000 năm trước.. Thế nhưng có mấy ai làm gì?!!!

    Nghịch lý? Không thể gọi như thế, mà phải nói là: hiện tượng mất nước! Nếu dân tộc Việt bị xóa tên trên bản đồ thế giới thì cũng không phải là cái gì lạ lắm. Trong lịch sử nhân loại đã từng có nhiều dân tộc hùng mạnh biết mất rồi!

Phản hồi