|

Bàn về Quan hệ nhân quả

I. Luật nhân quả

II. Tầm quan trọng của luật nhân quả

III. Các thái độ trước đây trong lịch sử

IV. Các thông giải thời hiện đại

V. Tóm lược

Nguồn: flick.com

I. Nguyên lý nhân quả

Mọi sự có thứ lớp

Nếu mượn hình ảnh của kịch trường để diễn tả, chúng ta sẽ thấy thế giới giống một sân khấu trên đó không diễn viên nào có thể bước ra sàn diễn nếu không nhận được dấu báo hiệu cho riêng mình. Không một cái gì có thể hình thành hoặc ra đời do bởi ý thức thất thường hoặc đột ngột của tự thân nó.

Khi ánh chớp lóe lên, sấm nổ rền, gió thổi rạt rào và nước lũ hay triều cường dâng cao, chúng ta biết chắc chắn chúng là kết quả của những điều kiện vật lý khác. Những cái được cuộc đời hiến dâng như hạnh phúc, khốn khổ, đau đớn, bệnh tật, nghèo cực, v.v. đều có nguyên nhân của nó. Mọi sự hiện hành đều được sản sinh từ những sự khác đang hiện hữu.

Ðều phải có nguyên nhân

Không cái gì có thể thành hiện thực cho đến khi các điều kiện của nó được thể hiện thỏa đáng và khiến cho nó xuất hiện. Như trong một cuộc trình diễn có trình tự tốt đẹp trên sân khấu, vị đạo diễn thiên tài của mọi lớp lang ấy chính là quan hệ nhân quả (causality), hình thành nguyên lý quan hệ nhân quả (the principle of causality), hay luật nhân quả (law of causality).

Mỗi biến cố phải có nguyên nhân. Ðó là qui luật nền tảng, cho thấy ý nghĩa của trật tự trong thiên nhiên; và dường như nó ít ra cũng có ý nghĩa với cuộc đời của nhiều người.

II. Tầm quan trọng của nguyên lý nhân quả

1. Công dụng

Từ quả tìm nhân

Luật nhân quả đôi khi được dùng như một nguyên lý nhằm giải thích theo ý nghĩa rằng nếu có thể thấy cái tạo ra cái gì đó, chúng ta có thể chứng minh tại sao và bằng cách nào xảy ra cái đó.

Trong tiểu thuyết trinh thám bình dân, khi tìm thấy một tử thi nhét trong tủ áo, hai tay bị trói quặt ra sau lưng, viên thám tử bắt đầu một chuỗi điều tra. Y tiến hành nhiều cuộc thăm dò, có khi đúng đường có khi sai hướng. Nhưng cuối cùng y vẫn tìm ra thủ phạm, phá được vụ án bí ẩn đó.

Không ai có thể hiểu tại sao công nhân trong các đồn điền cao su Nam bộ thời Pháp thuộc bị mắc bệnh vàng da và sốt rét cấp tính khiến nhiều người phải bỏ mạng giữa chốn rừng xanh đất đỏ, cho tới khi chuyên viên y tế cho thấy vai trò của muỗi sốt rét trong việc truyền bệnh từ những suối nước đầy lá mục và rác bẩn. Ảo thuật gia và nhà văn Mỹ gốc Hungary *Harry Houdini (1874-1926), theo lời người ta kể lại, có thể giải thích hiện tượng những buổi gọi hồn của con đồng khi ông dùng các phương tiện tự nhiên diễn lại đúng y như các hiện tượng đó.

Gia tăng tầm kiểm soát

Nguyên lý nhân quả quan trọng vì càng hiểu rõ nguyên nhân, con người càng mở rộng tầm kiểm soát các điều kiện tự nhiên. Không biến cố nào có thể xảy ra nếu trước đó không xảy ra nguyên nhân của nó. Khi hiểu nguyên nhân, con người có thể ngăn chận biến cố bằng cách loại trừ các điều kiện phát sinh nó. Hoặc con người có thể tạo biến cố bằng cách cung cấp những điều kiện thích hợp.

Ngay trong buổi bình minh của thời hiện đại, hai triết gia Anh Francis Bacon và Thomas Hobbes đã nhận ra tầm quan trọng của vấn đề ấy. Cả hai nhấn mạnh nhu cầu khiến khoa học phải tập trung vào việc khám phá cách phát sinh biến cố hoặc cung cấp nguyên nhân của chúng, nhằm cải thiện số phận con người. Cả hai vạch rõ rằng không phải lúc nào cũng thấy rõ nguyên nhân vì thế có thể cần phải nghiên cứu một cách chuyên môn và tường tận.

Kể từ thời của hai triết gia ấy, các nhà luận lý học cùng các nhà khoa học nỗ lực phát triển các phương pháp chính xác để khám phá cho ra nguyên nhân.

Và để thẩm tra triết học

Ðã được chứng minh là rất thành công trong việc cắt nghĩa cùng thông giải các ứng dụng khoa học, nguyên lý quan hệ nhân quả cũng hữu ích cho công tác thẩm tra triết học. Các nhà thần học dùng luận cứ rút từ quan hệ nhân quả ra để kiến lập sự hiện hữu của Thượng đế, vì có vẻ vũ trụ – giống như mọi thứ bên trong nó – đều phải tùy thuộc vào cái gì đó khác với chính nó để hiện hữu.

Có những triết gia tiếp thu các nguyên lý tổng quát của chủ nghĩa duy nghiệm do Locke, Berkeley và Hume trình bày nhưng bất đắc dĩ phải chấp nhận cái kết luận cho rằng thế giới chỉ hiện hữu trong ý tưởng của chúng ta, họ cố tìm lối thoát ra khỏi thuyết duy ngã (solipsism) bằng cách lập luận rằng hết thảy các ý tưởng của chúng ta phải có nguyên nhân ở bên ngoài chúng ta, vì thuyết duy ngã cho rằng con người chỉ có thể hiểu biết bản thân thôi.

Ứng dụng vào nhiều lãnh vực

Có những nhà khoa học muốn chứng minh các tiên đoán của mình về cái sẽ xảy ra trong tương lai; họ đặt căn bản đức tin của mình lên tính đồng nhất và đơn điệu của thiên nhiên mà theo ý nghĩa độc nhất, là một phương cách rất ngăn nắp, tề chỉnh, đưa tới sự có mặt một cách phổ quát của quan hệ nhân quả.

Có những tác viên xã hội hy vọng giải quyết các vấn đề, thí dụ thiếu niên phạm pháp, bằng cách cải tạo môi trường xã hội; họ phải dựa vào quan hệ nhân quả để biện minh cho quan điểm đấu tranh của mình rằng các điều kiện nhất định sẽ sản sinh các kết quả nhất định.

Sự ứng dụng nguyên lý quan hệ nhân quả còn đi quá bên kia những minh họa vừa kể. Rất có thể nó còn được những người sống trong mọi cảnh ngộ của cuộc đời với đủ loại quan tâm cùng sở thích khác nhau xem như một trong những điều khoản nền tảng nhất của đức tin. Ở đây, tôi chỉ có ý nhấn mạnh rằng nó được xem như một điều khoản của đức tin như một sự giả định.

Những kẻ tùy thuộc một cách rõ rệt vào nó thường cho rằng họ biết họ có ý nói gì khi dùng cụm từ “quan hệ nhân quả” và họ cũng chẳng chút nào ngờ vực thực tại của nó. Tuy thế, nếu có thể chứng minh rằng ý nghĩa của nhân quả như đã được chấp nhận một cách tổng quát, là vô căn cứ, thì kết quả của sự chứng minh đó hẳn đánh đổ một số khái niệm về vũ trụ.

2. Nhân quả là tương quan

Chưa đánh giá đúng mức

Khởi sự suy ngẫm về nguyên lý quan hệ nhân quả, ấn tượng đầu tiên của chúng ta là kinh ngạc về việc người đời dường như không đánh giá đúng mức tầm quan trọng của lời họ nói khi họ khẳng định rằng “Mỗi kết quả phải có một nguyên nhân”.

Ðối với một số triết gia, đó không phải là lời phát biểu mang tính sự kiện mà chỉ là một cách đầu hàng các yêu cầu của ngôn ngữ. Nó có vẻ như một lối nói có này có nọ cho phải phép. Nghĩa là không thể nào nói tới nguyên nhân mà không nhắc tới kết quả, giống như khi ta đề cập tới “nóng” mà không ngụ ý tới “lạnh”, hoặc “dài” mà không ngụ ý tới “ngắn”. Cũng thế, từ ngữ “nguyên nhân” ngụ ý tới “kết quả”, và trong chính nó chẳng chứng minh gì cả ngoài tương quan tất yếu giữa hai từ ngữ đó.

Phải là tương quan giữa các biến cố

Nếu nguyên lý ấy biểu hiện cho cái gì đó có thật, nó phải được giảm thiểu thành những lời phát biểu không phải về tương quan giữa các từ ngữ mà là giữa các biến cố: lời phát biểu rằng biến cố B không thể nào xảy ra mà không có biến cố A đi liền trước nó và sản sinh ra nó. Thế nhưng, trong thực tế, có lẽ không dễ dàng thiết lập được tương quan ấy.

Khi gợi ý rằng biến cố A đi liền trước biến cố B và làm phát sinh biến cố B, dường như ta có ngụ ý rằng cả hai biến cố đó khác nhau. Nếu quả thật chúng khác nhau thì câu nói biến cố này gây ra biến cố kia quả thật khó hiểu. Làm thế nào một biến cố tự nhiên lại sản sinh ra cái hoàn toàn khác với nó? Từ đâu xuất hiện biến cố mới? Nếu kết quả hoàn toàn khác với nguyên nhân, thì có một lỗ trống giữa chúng cần được lấp đầy, và quan hệ nhân quả dường như không đủ để lấp đầy lỗ trống ấy.

Nếu nguyên nhân và kết quả không khác nhau thì dường như chúng phải giống nhau. Nếu chúng giống nhau thì quả thật khó hiểu vì làm thế nào cái mới có khả năng xảy ra giống với cái cũ đã xảy ra.

Ở đây, hầu như chúng ta đối mặt một nan đề. Nếu giả định rằng B khác với A thì thấy không thể nào chứng minh chúng có tương quan. Nếu giả định rằng B hoàn toàn giống A thì thấy không thể nào chứng minh vạn vật đều biến đổi. Dường như không có lối thoát nào cho câu hỏi không có cách trả lời ấy.

Lập trường của Long Thọ

Cách đây gần hai ngàn năm, tại Ấn Ðộ, đại luận sư Long Thọ, khoảng thế kỷ 2-3 sau C.N., người hệ thống hóa triết học Phật giáo, đặt nền móng cho Trung quán tông của Ðại thừa, mà những phát biểu của ông về Không tính của vạn sự vạn vật đã đưa tới những áp dụng vào vấn đề quan hệ nhân quả như sau:

1. Nguyên nhân và kết quả không thể giống nhau (vì ngược lại, sẽ không xảy tới cái gì mới mẻ);

2. Nguyên nhân và kết quả không thể không nối kết với nhau (vì ngược lại, cái này không thể gây nên cái kia – kinh nghiệm cho chúng ta thấy thực tế chúng nối kết vì nói cho cùng, thế giới có thể được dự đoán phần nào);

3. Kết quả không thể là thành phần của nguyên nhân (vì ngược lại, sẽ không thể nào gây nên cái gì đó mới mẻ);

4. Do đó, theo tư duy qui ước, để cho cái gì đó được tạo nên, phải có sự liên tục nhưng đồng thời cũng phải có cái gì đó mới mẻ;

5. Vì thế, lối lập luận có tính qui ước ấy bị sụp đổ, nó không có khả năng giải thích quá trình biến đổi.

(Xem Ðại cương triết học Ðông phương, cùng một soạn giả)

3. Nan giải khi định nghĩa

Sai lầm tự căn bản

Nếu chúng ta hiểu lời phát biểu rằng mỗi biến cố phải có một biến cố khác đứng trước có ý nghĩa một chuỗi mang tính nguyên nhân được tạo thành bởi các biến cố đơn thuần riêng rẽ, lúc đó, nói theo tinh thần Long Thọ, chúng ta mắc phải sai lầm. Vì khi chịu khó suy ngẫm đôi chút về vấn đề đó, chúng ta sẽ thấy nó quả thật không đúng như thế.

Khi chúng ta chọn một cái nào đó như nguyên nhân của một biến cố, dường như cái đó chỉ phản ánh sự hiểu biết hoặc mối quan tâm của chúng ta mà thôi. Hầu hết người ta cho là thích đáng khi nói: “Cục đá đó làm vỡ cửa kính”, có nghĩa cục đá đó được xem là nguyên nhân duy nhất gây ra biến cố đó. Ðối với nhà vật lý học và nhà hóa học, lời giải thích ấy không thích đáng vì tự thân cục đá không thể nào làm vỡ cửa kính.

Thêm nữa, có khả năng người chủ của ngôi nhà có cửa kính bị vỡ ấy qui trách cho kẻ bị ông thấy đang ném cục đá. Nhà tâm lý học có thể truy tầm nguyên nhân của biến cố ấy trong sự xáo trộn tâm lý của người chủ nhà khi bị ngân hàng đòi tịch biên nhà vì không trả nổi tiền nợ mua nhà nên ông ta tức tối tự ném vỡ cửa kính nhà mình.

Qui cho nguyên nhân đơn lẻ

Hết thảy các thành tố này nọ đều liên quan tới toàn bộ hoàn cảnh, và không có toàn bộ hoàn cảnh thì bất cứ lời giải thích nào cũng không thỏa đáng. Khi chúng ta nói tới nguyên nhân, chúng ta quả thật có ý đề cập tới một thành tố trong số các điều kiện; đối với chúng ta, thành tố ấy có vẻ thích đáng chỉ vì mối quan tâm của chúng ta, hay nói một cách nôm na là dường như nó đúng với ý của chúng ta. Nếu quả đúng như thế, khi nói tới một nguyên nhân đơn lẻ tạo thành một biến cố tức là ta đã giảm thiểu.

Sách lịch sử sơ cấp thường can tội giảm thiểu như thế khi đưa ra nguyên nhân của một biến cố lịch sử. Không gì có thể phi lý hơn khi cho rằng Hoa Kỳ tham gia Thế chiến Hai chỉ vì Trân Châu Cảng bị ném bom.

Cũng một biến cố lịch sử, người ta có những lời giải thích khác nhau do các sử gia ở nhiều quốc gia khác nhau, và hầu như chúng đều liên quan tới loại giản lược ấy. Sử gia và triết gia người Mỹ *Will Durant (1885-1981) nói rằng ông có thể cắt nghĩa động lực biến đổi của lịch sử loài người không phải do bởi đấu tranh giai cấp mà chỉ vì xung khắc tôn giáo, hoặc vì đam mê tình ái, hoặc vì tham vọng quyền lực của các bậc vua chúa, v.v. tùy vào sở thích hoặc quan tâm của ông.

Rõ ràng ta cần phải ngừng lại tại một chỗ nào đó việc qui kết nguyên nhân cho một hoạt động mà bỏ sót các điều kiện có thể tác động lên tri thức của chúng ta, nhất là đối với các hiện tượng như động thái của con người mà rõ ràng chúng ta phải dồn hết mọi nỗ lực để tìm hiểu chúng.

Qui cho nguyên nhân sức mạnh

Niềm tin hoàn toàn vào quan hệ nhân quả, dù qui cho một hay nhiều điều kiện, chỉ là ý tưởng cho rằng trong nguyên nhân hàm chứa một sức mạnh phát sinh nào đó. “Không có lửa làm sao có khói”. Từ ngữ “nguyên nhân” tập kết nghĩa rộng vừa nói ấy vào trong nó có lẽ vì nó tương hợp với ý chí hành động của bản thân chúng ta. Khi tôi đẩy một chướng ngại vật ra khỏi lối đi của mình, hoặc ngay cả khi tôi nhấc cánh tay của mình lên, hậu quả ấy có quan hệ với hành động tạo tác của ý chí của tôi.

Ðối với các triết gia suy tưởng về khoa học (philosophers of science), khái niệm đó gây khó khăn cho họ hơn bất cứ triết gia nào khác vì một đằng nó dường như có một ý nghĩa nào đó, một đằng hầu như không thể nào khám phá ra ý nghĩa ấy là gì. Không có chứng cớ khoa học cho thấy có sức mạnh nào như thế, cũng không có ý nghĩa hợp qui cách (legitimate) nào của từ ngữ “nguyên nhân” hiểu theo nghĩa rộng ấy.

Nạn nhân của nguyên nhân

Chừng nào còn viện dẫn từ ngữ “nguyên nhân” để giải thích quan hệ nhân quả, dường như chừng đó chúng ta vẫn là nạn nhân lẩn quẩn của một quá trình vớ vẩn, ở đó chúng ta sử dụng một từ ngữ mà mình vừa không hiểu rõ vừa xem nó như một giải pháp thích đáng cho vấn đề.

Tuy thế, nếu từ ngữ “nguyên nhân” không cần thiết thì có vẻ như thể chẳng có cái gì có thể được gọi một cách thích đáng là quan hệ nhân quả, và chúng ta chấm dứt trong ngõ cụt. Nếu có một lối ra khỏi tình thế tới lui đều khó này (dilemma), chúng ta phải tìm cho ra, bằng việc xem xét một số giải đáp từng được đưa ra cho vấn đề quan hệ nhân quả.

Pages: 1 2 3 4

3 Phản hồi cho “Bàn về Quan hệ nhân quả”

  1. Ngàn Khơi says:

    PHIẾM LUẬN NGẮN VỀ NHÂN QUẢ

    Quan hệ nhân quả đã được tôn lên thành luật, tức quy luật khách quan, phổ biến, thống nhất, có nền tảng chung nhất. Điều này, nhân loại đã biết tới rất nhiều từ nhiều ngàn năm qua, trong đó đặc biệt nhất, có tư tưởng đạo Phật. Quan hệ nhân quả, quả vậy, có hai vế tạo thành là nhân và quả. Từ nhân đưa đến quả, và từ quả lại thành ra nhân mới, cứ thế mà tiếp diễn mãi. Đó là một chuỗi vô hạn, ai cũng có thể thấy rõ được. Nhưng còn cái quan trọng hơn thế, là không phải chỉ có hai vế đó, mà chính cái gì mới tạo nên bản thân của mối quan hệ giữa hai vế đó. Đây mới là ý nghĩa quyết định nhất, mà không phải chỉ thuần đơn giản là nguyên nhân và kết quả, như điều mọi người đểu biết. Có nghĩa, trong thực tại cuộc đời, có vô số các loại dạng nguyên nhân và kết quả khác nhau, từ cụ thể đến vô hình, từ vật chất đến xã hội, từ vật lý đến hóa học, đến sinh học, đến ý thức, đến nhận thức v.v… Cá nhân con người, tập thể con người, xã hội con người, và lịch sử của sự sống hay sinh vật nói chung, cũng đều như thế. Cho nên, mọi người đều cảm nhận được các phương diện bên ngoài của mối quan hệ hay quy luật nhân quả này. Nhưng mối quan hệ từ bản chất bên trong của nó, thật sự còn bao quát hơn, trừu tượng hơn, quyết định hơn, thì quả thật rất nhiều người từ xưa đến nay hãy còn chưa nghĩ tới. Điều này, có lẽ chỉ riêng bản thân ông Phật Thích ca mới tự biết, còn những người theo ông ta, vẫn đều chưa chắc đã tự biết như ông ta được. Sự khác nhau giữa niềm tin, sự cảm nhận, và bản thân của tinh thần, ý thức con người, cũng như của tư duy triết học đích thực nó là như thế.

    Võ Hưng Thanh
    (20/8/11)

  2. Le Thien y says:

    “Tro*`ng da*u duo*c da*u “. Trie’t hoc Pha*t Gia’o tha*m thu’y vo* cu`ng khi lua*n ve*` Nha*n Qua` .

    Trie’t ly’ so*’ng theo NHANQUA` la`m con nguo*`i vi -tha , [email protected]`ng, dao-du*’c ho*n ; go’p pha*`n

    du*a nha*n loai so*’ng hoa` nha*p, ye*u thuo*ng du`m boc nhau ho*n .

  3. Trung Hoàng says:

    “Luật nhân quả thật là cao viễn,
    Suốt cổ kim chẳng lọt một ai.”

Phản hồi