|

Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990

hội nghị thành đô năm 1990

Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam kể từ sau khi đất nước đã hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất ngày 30-04-1975 cho đến hôm nay, sự kiện hội nghị bí mật Thành Đô tháng 9-1990 giữa hai đoàn đại biểu cấp cao hai nước Việt – Trung để bình thường hóa quan hệ là một thất bại nhục nhã của nước ta, bẻ ghi con đường phát triển của nước ta dẫn đến tình hình đất nước như hôm nay: Một lần nữa Trung Quốc lại trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và con đường phát triển của nước ta.

Tóm tắt lịch sử đã xảy ra: Không thể nào chấp nhận được thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, ngay sau 30-04-1975 Trung Quốc đã tạo ra cái “bẫy Campuchia”, khuyến khích Khmer đỏ khiêu khích vũ trang đánh Việt Nam và đến tháng 4-1977 Khmer đỏ đã tiến hành chiến tranh lớn tấn công diện rộng toàn vùng biên giới Tây Nam nước ta giáp Campuchia; đồng thời ngày 17-02-1979 Trung Quốc huy động 60 vạn quân phát động cuộc chiến tranh quy mô lớn ồ ạt tiến công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam, với cái đích kiêu ngạo “Dạy cho Việt Nam một bài học”. Với chiến lược căng Việt Nam ra cả hai đầu mà đánh, hai cuộc chiến tranh dã man này nhằm mục đích khuất phục nước ta, trên thực tế đến 1989 mới thực sự im tiếng súng ở biên giới phía Bắc và ở Campuchia. Song cả hai cuộc chiến tranh này đã thất bại, vì Trung Quốc không thực hiện được mục tiêu chiến lược của nó là khuất phục Việt Nam, hơn thế nữa Việt Nam đã đánh tan Khmer đỏ và cứu được nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc luôn là đòi hỏi chiến lược của Việt Nam, song tình hình nêu trên cho thấy dù bị sức ép quyết liệt từ phía Trung Quốc và bị bao vây cấm vận vì vấn đề Campuchia, Việt Nam không ở trong thế yếu. Song vào thời điểm cuối những năm 1980 và đầu năm 1990 các nước Liên Xô Đông Âu sụp đổ. Diễn biến này được lãnh đạo nước ta lúc ấy coi là hệ quả phản công của chủ nghĩa đế quốc, và lo rằng nạn nhân kế tiếp có thể là Việt Nam. Với tư duy như vậy, sau nhiều nỗ lực khác không thành vì bị Trung Quốc luôn gây sức ép, lãnh đạo nước ta đã chấp nhận hai đòi hỏi quan trọng nhất của Trung Quốc là rút quân khỏi Campuchia và loại bỏ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch để mở đầu cho quá trình bình thường hóa quan hệ. Ngày 3 và 4 tháng 9-1990 cuộc họp cấp cao Thành đô được tiến hành, Việt Nam tham gia với mong muốn bình thường hóa quan hệ và liên minh với Trung Quốc để cùng nhau bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bất chấp việc Trung Quốc tháng 3-1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá của ta ở Trường Sa, bất chấp công cuộc đổi mới của nước ta bắt đầu từ năm 1986 mang lại thành quả bất ngờ và nhanh chóng cải thiện tình hình kinh tế nước ta trong những năm ấy.

Sai lầm nghiêm trọng thứ nhất là tư duy ý thức hệ đã mù quáng không nhìn ra sự sụp đổ của các nước LXĐÂ cũ tạo ra một cục diện quốc tế mới cho phép nước ta thực hiện triệt để độc lập tự chủ, từ đây có thể đi cùng với cả trào lưu tiến bộ thế giới để bảo vệ và phát triển đất nước mình, không cần phải gắn nước ta vào phe nào hay nước lớn nào. Cơ hội này đã bị vứt bỏ, chẳng những thế mà còn bị xem là nguy cơ lớn nhất đối với đất nước – thực ra là nguy cơ lớn nhất đối với chế độ chính trị.

Sai lầm nghiêm trọng thứ hai là lẫn lộn hai thứ làm một giữa bình thường hóa quan hệ quốc gia – quốc gia và liên minh ý thức hệ. Từ đó có ảo tưởng liên minh ý thức hệ có thể giải quyết và vượt qua được những mâu thuẫn hay xung đột lợi ích quốc gia, là cách tốt nhất để bảo vệ quốc gia và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tư duy như vậy, trên thực tế phía ta đã chấp nhận bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc trên thế yếu và gần như với bất cứ giá nào.

Bình thường hóa quan hệ Việt Trung kể từ Thành Đô 9-1990, Việt Nam được hưởng một thời kỳ hòa hoãn nhất định với Trung Quốc, song đó là thời kỳ hòa hoãn trên thế yếu và có nhiều sai lầm nghiêm trọng về ý thức hệ. Thực tế diễn ra trong suốt thời gian này cho đến nay là phía Việt Nam đã làm tất cả có thể để hòa hiếu, nhân nhượng, giữ gìn đại cục, với cái đích trung tâm là gìn giữ mối quan hệ chiến lược số một với Trung Quốc. Nhưng toàn bộ thời gian này phía Trung Quốc lại triệt để khai thác mối quan hệ hữu nghị như thế cho việc phát huy tối đa sự can thiệp của quyền lực mềm vào toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam, gây ra không ít khó khăn cho Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại. Đặc biệt là Trung Quốc đã xuất khẩu ngoạn mục “nguy cơ diễn biến hòa bình” vào Việt Nam, để chính Trung Quốc có điều kiện tốt nhất tác động, ảnh hưởng và diễn biến Việt Nam về mọi mặt.

Nhìn lại hơn 20 năm qua, điểm lại toàn bộ những việc trong quan hệ hai nước đã làm được, từ đàm phán biên giới trên bộ và dưới biển, phát triển quan hệ kinh tế, việc Trung Quốc trúng thầu hàng trăm công trình kinh tế quốc gia quan trọng của Việt Nam, thuê đất, thuê rừng, bô-ít Tây Nguyên, ti-tan ven biển miền Trung, những hoạt động tăng cường quan hệ thực ra là nhằm tăng cường chi phối nhân sự nước ta, những hoạt động tăng cường giao lưu.., tất cả đều chịu sự chi phối sâu sắc của quyền lực mềm Trung Quốc.

Những sai lầm, yếu kém chủ quan của ta, do chính ta tự gây nên, cần phải được nhìn nhận khách quan và phê phán nghiêm khắc, không thể đổ thừa cho bất kỳ ai bên ngoài.

Dù khẳng định dứt khoát như thế, vẫn phải đánh giá nghiêm khắc: Tổng hợp tình hình hơn 20 năm qua, thực tế đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung càng phát triển, thì Việt Nam càng lệ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế và chính trị, bị uy hiếp nhiều hơn về đối ngoại và quốc phòng. Thực tế này, cùng với ảnh hưởng chính trị nói chung của Trung Quốc vào đối nội của Việt Nam một mặt đang kìm hãm nghiêm trọng toàn bộ sự phát triển của Việt Nam nói chung, mặt khác gây ly tán đến mức nguy hiểm giữa nhân dân và lãnh đạo đất nước, khiến cho trấn áp và mất dân chủ trong đối nội phải gia tăng, đồng thời thực tế này cũng khuyến khích tham nhũng tiêu cực phát triển. Những vụ trấn áp biểu tình vừa qua chống yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông nói lên nhiều điều và càng đổ dầu thêm vào lửa bức xúc trong nhân dân.

Hiện nay, đất nước có rất nhiều yếu kém bên trong, lệ thuộc và hèn yếu về đối ngoại, nguyên nhân của thực trạng này – ngoài cac lẫm lỗi chủ quan của ta – có nguyên nhân chi phối rất nghiêm trọng của ảnh hưởng Trung Quốc.

Ngày nay, lợi ích quốc gia đòi hỏi phải lọai bỏ xu thế đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung càng phát triển thì Việt Nam càng lệ thuộc vào Trung Quốc và tương lai phát triển của Việt Nam càng bị chặn đứng. Ngày nay quốc gia đang đứng trước nguy cơ Trung Quốc tìm cách tiếp tục lấn chiếm biển đảo của đất nước trên Biển Đông. Sau 37 năm độc lập thống nhất, đất nước đang lâm nguy.

Những yếu kém của ta trước đây đã dẫn đến Thành Đô 1990. Không loại trừ nguy cơ những yếu kém hiện nay của nước ta có thể tái lập một Thành Đô 1990 đời mới, với hệ quả là vứt bỏ cả thế giới đang đứng về phía chính nghĩa của nước ta, để quay lại hòa hiếu với Trung Quốc và để đẩy tiếp cả đất nước xuống bùn đen!

Cả nước phải đồng lòng nhất trí loại bỏ nguy cơ mới này. Muốn có được quan hệ hữu nghị thực sự, hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa Việt Nam – Trung Quốc, càng nhất thiết phải loại bỏ nguy cơ Thành Đô 1990 đời mới!

Để mỗi chúng ta có những căn cứ các đáng về mối lo nguy cơ mới, trong phần phụ lục kèm theo bài này, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một số trích dẫn trong tài liệu nghiên cứu của anh Dương Danh Dy về Hội nghị Thành Đô 9-1990.
——————————————————-
Phụ lục

Một số ý trích dẫn từ tài liệu nghiên cứu

Hội nghị Thành Đô, tháng 9 năm 1990
Dương Danh Dy, Hà Nội, tháng 10 -2011

“…Ngoài những nhân nhượng “vô nguyên tắc” về CPC như đã trình bày trên, phía Việt Nam đã không hề(hay không dám) đề cập tới nguyên nhân tạo ra bất đồng trong quan hệ Việt Trung trong hơn 10 năm qua nhất là cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979 do Ban lãnh đạo Bắc Kinh cố tình, chủ động gây ra.. Phía Việt Nam đã hoàn toàn cho qua vấn đề sau khi nghe Giang Trạch Dân nói trong diễn văn: quan hệ hai nước từ nay “hãy gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”…

Chúng ta không đòi Trung Quốc phải bồi thưòng chiến tranh(trong khi đã nêu vấn đế Mỹ bồi thường chiến tranh là điều kiện tiên quyết để bình thưòng hoá quan hệ hai nuớc) nhưng tại sao trong đàm phán bí mật lại không dám nói dù chỉ là một lời với Trung Quốc về cuộc chiến tranh tàn ác đó và buộc họ chí ít phải nói ra câu “lấy làm tiếc” về hành động phi nghĩa của mình? Nhượng bộ “vô nguyên tắc” này của Việt Nam đã làm cho Trung Quốc dưòng như giành được “vị thế chính nghĩa” trước dư luận quốc tế và nhất là trong đông đảo nhân dân Trung Quốc dù họ mang hơn 60 vạn quân chính qui xâm lược, giết hại nhiều đồng bào ta, tàn phá nhiều cơ sở vật chất của ta tại vùng 6 tỉnh biên giới Việt Nam. Làm cho một bộ phận ngưòi trên thế giới cho rằng những vu cáo bịa đặt của Trung Quốc: “Việt Nam xua đuổi nguời Hoa”, “Việt Nam xâm lược Cămpuchia”… là đúng, việc thế giới “ lên án, bao vây cấm vận Việt Nam” là cần thiết, việc Trung Quốc “cho Việt Nam một bài học” là phải đạo v.v.… trong khi chính chúng ta mới là ngườì có công lớn trong việc đánh tan bọn Khơme đỏ, cứu nhân dân Cămpuchia khỏi nạn diệt chủng. Tóm lại là đã làm cho khá nhiều người trong thời gian khá dài hiểu lầm, ác cảm với Việt Nam.

…Cho tới khi đặt bút viết những dòng này mặc dù đã mất nhiều công sức tìm hiểu, người viết vẫn chưa biết ai là người đề xuất chủ trương cấm không được nói lại chuyện cũ với Trung Quốc, khiến cho trong hơn 20 năm qua, trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam không hề có một tin tức nào động chạm tới Trung Quốc( ngay cả tên tuổi, nghĩa trang của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc đấu tranh yêu nước thần thánh trên cũng bị cố tình lảng tránh không dám công khai nói tới, thậm chí bị lãng quên).

…Cần phải nói ra đây một sự thực là trong khi đó, báo, mạng chính thống của Trung Quốc vẫn ra sức tung hoành, không hề bị một sự cấm đoán, hạn chế nào, ngày ngày tìm hết cách để “bôi xấu, xuyên tạc” Việt Nam về mọi mặt, đến nỗi phần lớn ngưòi dân Trung Quốc bình thường khi được hỏi về Việt nam cũng thốt lên, Việt Nam là “kẻ vô ơn bội nghĩa, là kẻ ăn cháo đá bát..”. Theo tài liệu chính thức của Trung Quốc trong một cuộc điều tra công khai, đã có tới “80% dân mạng Trung Quốc(tức khoảng 300 triệu ngưòi-chủ yếu là thanh niên và người có học) tán thành dùng biện pháp vũ lực với Việt Nam tại Biển Đông” Cảm tình, ấn tưọng tốt đẹp của đa số nhân dân Trung Quốc về một nước Việt Nam anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong lao động, hữu nghị với Trung Quốc trước đây dường như không còn nữa. Hậu quả tai hại này chưa biết bao giờ mới xoá bỏ được…

…Chấp nhận yêu sách trắng trợn của phía Trung Quốc “gạt bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch HĐBT kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam”, rồi lợi dụng mọi cơ hội đế đến đại hội VII ĐCSVN chính thức làm được việc đó khi đồng chí là một trong số rất ít người lãnh đạo có tư duy sáng tạo, am hiểu tình hình quốc tế, có sức khoẻ dồi dào, có uy tín quốc tế, nhất là đối với các nước phương tây là một việc làm thể hiện sự yếu kém về bản lĩnh và sự tha hoá về tình nghĩa cộng sản, là một việc làm dại dột “vác đá tự ghè chân mình”…

…Có thể có ngưòi không đồng ý nhận định này, nhưng người viết bài này luôn cho rằng rằng Nguyễn Cơ Thạch là số ngưòi hiếm có trong hàng ngũ lãnh đạo đảng ta lúc đó, ông am hiểu sâu sắc tình hình quốc tế, có quan hệ tương đối tốt với một số chính khách phương tây và đặc biệt là người sớm thấy rõ âm mưu ý đồ đen tối của Trung Quốc đối với Việt Nam, đang tích cực vạch trần và ra sức chống lại mọi ý đồ bành trướng bá quyền của họ khiến ban lãnh đạo Bắc Kinh thấy rằng nếu không cương quyết ép ban lãnh đạo Việt Nam loại bỏ Nguyễn Cơ Thạch thì Việt Nam sẽ “sớm thoát khỏi vòng tay của Trung Quốc”, sẽ nhanh chóng có “ vai trò quan trọng trong khu vực và thế giới”, điều mà bất kỳ ban lãnh đạo Trung Quốc thế hệ nào cũng đều không bao giờ muốn. Có thể nói mà không sợ quá mức rằng, nếu Nguyễn Cơ Thạch còn trong ban lãnh đạo cấp cao Đảng ta một nhiệm kỳ nữa thì việc bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ và việc Việt Nam gia nhập Asean chắc chắn không phải mãi đến năm 1995 mới thực hiện, chậm hơn việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc tới gần 5 năm….

…Ban lãnh đạo Bắc Kinh các thế hệ, lo sợ ảnh hưỏng của Nguyễn Cơ Thạch tới mức, mặc dù ông buộc phải nghỉ hưu và mất đã khá lâu mà hơn hai mươi năm sau ngày bình thưòng hoá quan hệ Việt Trung, tại Đại hội lần thứ XI ĐCSVN tháng 1 năm 2011 họ còn không muốn để con trai ông làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam ( lời nguời lãnh đạo đảng ta lúc đó nói, tôi được nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh trực tiếp cho biết)

Chỉ một ví dụ cụ thể này là đủ nói rõ vấn đề

…Không thể dùng các từ ngữ thông thưòng để đánh giá các hậu quả trên mà phải dùng từ “ cái giá phải trả bằng xương máu” mới phản ánh đúng bản chất của vấn đề. “Hội nghị Thành Đô” đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước chúng những hậu quả “to lớn”, “cay đắng” , “nhục nhã”…! Nếu những người có trách nhiệm, không dám công khai toàn bộ tư liệu về hội nghị này và nghiêm chỉnh đánh giá lại “kết quả”

…Vì vậy một vấn đề cũng quan trọng không kém mà ngưòi viết xin mạnh dạn khởi đầu trước: từ những cái giá phải trả đó chúng ta cần rút ra những bài học gì? Cần ghi nhớ những bài học nào?

(1)Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là về các nước xhcn Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ cũng như tình hình đối thủ trực tiếp của mình lúc đó là Trung Quốc. Từ đó đã có những nhận định rất sai lầm để rồi đưa ra những quyết định rất sai lầm.

Thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan, sự kiện “bức tường Berlin” bị nhân dân Đức xoá bỏ, việc Yelsin giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Cộng hoà liên bang Nga, Goovachov từ bỏ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản… đã không làm cho một số ngưòi trong ban lãnh đạo chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội đã không còn được nhân dân ở chính ngay những nước đó ưa thích, theo đuổi, sự sụp đổ của họ là lẽ tất nhiên, Trong tình hình như thế mà lại chủ trương “bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế quốc”, ”Mỹ và phương tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng là nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc”(Hồi ký Trần Quang Cơ)

Không thấy hết những khó khăn trong ngoài nước của Trung Quốc lúc đó. Trong nước họ vừa xẩy ra “sự kiện Thiên An Môn”, Triệu Tử Dương bị cách chức Tổng Bí thư, nội bộ lãnh đạo cấp cao bất đồng sâu sắc, một bộ phận nhân dân bất mãn với ĐCSTQ … Do đàn áp đẫm máu học sinh sinh viên, Trung Quốc bị các nước phương tây chủ yếu cấm vận về chính trị, kinh tế, quân sự(có hạng mục như xuất khẩu kỹ thuật cao trong quân sự đến nay vẫn chưa huỷ bỏ)Họ ở vào thế không có lợi nhiều mặt khi bình thường hoá quan hệ với ta, nhưng do mấy nhà lãnh đạo chúng ta lúc đó đánh giá không đúng tình hình nên không những không sử dụng được lợi thế của mình, mà còn bị Trung Quốc “dắt mũi” kéo theo, thiệt đơn thiệt kép trong xử lý quan hệ cũ và trong giai đoạn bình thường quan hệ mới, cho tới tận bây giờ và cả trong tương lai nữa.

(2)Bằng những thoả thuận tại Hội nghị Thành Đô, mấy nhà lãnh đạo chủ yếu của Đảng ta lúc đó đã tự đánh mất bản lĩnh”kiên cường, bất khuất, không sợ địch”mà nhiều thế hệ lãnh đạo đã nêu cao, để sẵn sàng nhận sai về phần mình trước “kẻ thù”, tuỳ tiện đổ lỗi cho ngưòi tiền nhiệm. Người viết bài này không hiểu vì sao, người đại diện cho Đảng ta, một nhân vật có tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường đã tích cực phát triển đường lối “cải cách và đổi mới” và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân thu được những thành tích to lớn rất quan trọng bước đầu, thế nhưng trước đối thủ Trung Quốc hình như chỉ còn là chiếc bóng, mất hết cảnh giác cách mạng gật đầu tin tưởng và làm theo mọi đề xuất mang đầy chất lừa bịp “vì chủ nghĩa xã hội” “vì đại cục”… của Trung Quốc, thậm chí chấp nhận để họ can thiệp vào công việc nhân sự cấp cao của đảng ta.

Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi “láng giềng 4 tốt” của “những đồng chí” luôn rêu rao “16 chữ vàng” đang không ngừng vận dụng những “thành quả cũ” vào trong quan hệ với Việt Nam chúng ta hiện nay và trong tưong lai….

…”

Võng Thị, Hà Nội, ngày 11 tháng 8 năm 2012

Nguồn: Nguyễn Trung (Viet-studies)

 

17 Phản hồi cho “Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990”

  1. nguenha says:

    Lê Duẩn năm 1975 đả nói :”chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Nga và Tàu”! ,như vậy không có chuyện;”Trong
    lịch sử ngoại giao,k/t khi đất nước đã hoàn thành Sự-nghiệp-Độc-lập -Thống-nhất 30-4-1975,cho đến nay…”
    Nói tóm lại,chuyện bán nước Vn không phải xẩy ra,k/t khi có hội nghị Thành Đô 1990,mà nó đả có từ lâu,từ khi HCM mang sứ mệnh của Quốc tế 3 CS đem về nước!! “tôi chẳ ng có tư-tưởng gì hết,ngoài tư tưởng Mác-Lê’(lời HCM),hoặc “khi tôi chết,tôi sẽ về với Karl Max-Lenin”.Không bán -nước là gì nửa, khi Lảnh-tụ dã từ-khước Quốc-Tịch?? Chuyện “mất nước” hôm nay dó là điều tất yếu ,qua quá trình Bán-nước của DCS! Khi Hoàng-sa mất về tay Trung Cộng 1974,Lảnh tụ CS thời đó đã phát biểu;”thà mất vào tay các nước anh-em,còn hơn vào tay mấy thằng Ngụy”.Không còn lời nào dể bào-chửa!!
    Những ai đó còn ngạc nhiên với Lịch-sử,xin hãy “bình tỉnh”đọc lại các Tuyển tập HCM do chính CS in ấn,
    thì sẽ thấy rỏ./

  2. Ngụy Quân Tử - Hồ Bác Cụ says:

    Trong hình mọi người thấy rõ Giang Trạch Dân giơ tay nắm lấy cánh tay của Nguyễn Văn Linh lôi đi sềnh sệch như con diều hâu tha con gà con chó, rất đúng với hoàn cảnh khom lưng quỳ gối của bọn CSVN tay sai bán nước, hèn mạt với kẻ thù, ác với dân.

  3. Youth radio says:

    Bất cứ người Việt nào đọc bài báo này đều có cãm tưởng đau đớn và nhục nhã cho dân tộc , đặc biệt cho nhửng ai đã dấn thân theo CS , nhìn lảnh tụ mình có xứng đáng vai trò chăn dắt không hay từ đó tới nay toàn là một thứ bất tài bần nông vô học ! Chuyện đã như vậy mà nhửng người đi theo không dám mạnh dạn đứng lên cất tiếng nói để thay đổi hay sao , còn chần chờ đợi ai nửa hay đợi một hồ chí minh khác tái thế sao hả ! Xưa kia hunhăng cho lắm vào nào là giải phóng dân tộc đánh đuổi Đế Quốc tiến lên xã hội chù nghĩa giờ xem lại coi có giá trị thật của nó không , hay là không cần nó mọi việc có lẻ suôn sẻ tốt đẹp hơn

  4. Le Binh says:

    Kết quả của hội nghị Thành Đô chỉ là hậu quả của tư tưởng tay sai, sẳn sàng nghe lệnh, sẳn sàng phục vụ Nga-Tầu của già Hồ. Đất nước Việt Nam không còn có những con người có tinh thần độc lập, óc sáng tạo, mà chỉ ngồi đó xem người Nga làm gì, người Tàu làm gì rồi bắt chước . Dân tộc Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay là do lòng yêu nước, óc sáng tạo, đoàn kết, yêu thương đồng bào của mình, gần 1000 năm vẩn không mất gốc, bọn Tàu vẩn không đồng hóa được. Tôi không thấy văn nghệ sĩ VNCH viết rằng nhìn ông Diệm thấy ngay ông tt Kennedy của Mỹ, hay không cần đi Mỹ vì nhìn ông Thiệu đã thấy ngay tổng thống Nixon của Mỹ. Ngoài Bắc thì Chế lan Viên đã ca tụng rằng không cần qua Tầu, nhìn già Hồ là thấy ngay bác Mao, một chế độ mà có nhiều con người như vậy, hội nghị nhục nhả ớ Thành Đô xảy ra là chuyện đương nhiên, không có gì ngạc nhiên.

  5. Builan says:

    NÓNG HỔI VỪA THỔI VỪA ĐỌC
    Đưa tin vào chỗ ni là thích hợp nhất
    TRÂN TRỌNG kính mời ! Sao không thấy ai CHĂN ĐỨNG ???

    ĐẠI HỘI THÀNH ĐÔ… 2012

    http://danlambaovn.blogspot.com/2012/08/dien-van-be-mac-ai-hoi-thanh-o-lan-thu.html#more

    KHỐN NẠN cho caí đất nước tôi ! Với cả một tập đoàn SAI NHA THÁI THÚ !!!

  6. TRƯƠNG ĐÌNH TRUNG says:

    Hội nghị Thành Đô là biểu hiện rõ ràng nhất về sự lạc hậu, dốt nát và ngu muội của ba nhà lãnh đạo cao cấp nhất của đảng CSVN lúc bấy giờ: Nguyễn văn Linh, Đổ Mười và Phạm văn Đồng.

    Lạc hậu vì, tuy ở cương vị lãnh đạo cao nhất của một quốc gia, họ hoàn toàn không mảy may nắm bắt được những biến chuyển căn bản nhất của cục diện thế giới vào lúc đó, vẫn bị trói buộc trong não trạng phân tranh ý thức hệ Cộng Sản-Tư Bản, không thoát ra khỏi được sự mê muội giáo điều, và hoàn toàn không có một chút viễn kiến chính trị nào đặc trưng của người lãnh đạo cả! Đến lúc đó mà Nguyễn văn Linh còn thốt lên mong ước được cùng Trung Quốc hợp tác bảo vệ phe Xã Hội Chủ Nghĩa thì thật là u mê không tưởng tượng nổi. Không hiểu tại sao một đảng chính trị với gần 60 năm hoạt động lại có thể sản sinh ra một vị lãnh tụ ” anh minh” đến như vậy? Hay là vì vận Nước suy vi nên một kẻ tầm thường như vậy lại ngồi vào vị trí cao nhất của Đất Nước?

    Dốt nát là vì các vị ấy đã tỏ ra không có những kiến thức tối thiểu về lịch sử thế giới, không biết rằng chủ nghĩa, hay ý thức hệ, tất cả chỉ là chiêu bài, là bình phong, là phương tiện để thống trị của các siêu cường. Lịch sử hưng thịnh rồi suy vi của các đế quốc từ Đông sang Tây đã chứng minh rằng quan hệ quốc tế là hình thái của sự cạnh tranh sinh tồn ở quy mô quốc gia và nền tảng của quan hệ đó là Quyền lợi, chứ không phải Ý hệ.

    Họ cũng ngu muội vì đã không đặt quyền lợi tối thượng của Tổ Quốc lên trên hết, để bị giới lãnh đạo Bắc Kinh xỏ mũi dẫn dắt và thao túng, khiến bao xương máu đổ xuống ở Kampuchia gần như trở thành những hy sinh vô ích, bao nổ lực hình thành liên minh Việt-Miên-Lào trở thành mây khói; hậu quả là ngày nay Lào ngả theo Trung Quốc làm những việc như xây đập Xayaburi để gây hại cho VN; còn Cambodia thì phá thối sự thống nhất của khối ASEAN và chống lại nổ lực bảo vệ Biển Đông của VN!

    Lịch sử về sau chắc chắn sẽ lên án ba nhà lãnh đạo cao cấp trên đây của đảng CSVN, và cũng lên án cả những ai đã ủng hộ, đưa họ lên địa vị cao nhất và cúc cung chịu sự lãnh đạo của họ. Hàng triệu những đảng viên CSVN yêu Nước khác nên nghiền ngẫm về Hội Nghị Thành Đô để soát xét lại lý tưởng, cơ cấu tổ chức, cùng công và tội của chính đảng mà mình đang dấn thân tham gia, phục vụ; nghiền ngẫm rồi hành động tích cực để, chí ít, tránh lập lại sai lầm lịch sử của hội nghị ấy, đóng góp phần mình vào việc chuộc lại lỗi lầm cho đảng của mình, và giúp Tổ Quốc tránh khỏi hoạ diệt vong trước tham vọng của kẻ thù ngàn đời Bắc Phương .

  7. Trung Hoàng says:

    NUÔI DƯỠNG THÁNH THAI.

    Qua hướng tiến công về khu vực Châu Á-Thái Bình Dương cuả Hoa Kỳ, với mục đích chính luôn là giử lấy vị thế cuả mình với một “Quyền Lợi Cốt Lõi Quốc Gia”, ở trong một vùng mà đang có nền kinh tế luôn được phát triển rất mạnh mẻ trên thế giới hiện nay.

    Với mũi vùi tiến công đã có sự chuẩn bị khá kỹ lưỡng chu đáo cuả Hoa Kỳ, thêm vào sự xâm lấn ngày một leo thang không biết dừng lại cuả Bắc Kinh, người dân Việt tất nhiên là có nổi lo lắng rất hợp lý, về một kịch bản Thành Đô sẽ phải tiếp diễn cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

    Cho rằng đó là nổi lo lắng thì cũng rất hợp lý, bởi lẻ hiện nay CSTQ và CSVN cũng đã khá lẻ loi, trước thế giới tự do trên toàn cầu trong thế kỷ mới nầy, cái đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu vốn là lẽ tự nhiên thường tình xưa nay. Mà ĐCSVN thì vốn dĩ từ trước đến giờ luôn luôn đặt để sự tồn vong cuả riêng đảng mình, lên trên cả sự tồn vong và tình tự dân tộc Việt Nam. Khởi đầu cuả ĐCSVN là sự thanh toán tất cả thành phần người yêu nước không cộng sản, tiếp theo là sẵn sàng nhận chịu chia đôi đất nước, gây nên cảnh huynh đệ tương tàn tương sát suốt bao thập niên qua. Để rồi thống nhất qua cưỡng đoạt chiếm hữu cho riêng ĐCSVN, toàn dân Việt đã bị xõ mũi dẫn đi không hơn không kém như đã thấy rõ từ trước đến nay.

    Gọi là Việt Nam được thống nhất thì quả thật quá cay đắng cho Việt Nam, một sự thống nhất để rồi Việt Nam vẫn còn vết thương hằn sâu chia lià Nam Bắc Quốc Cộng. Nó cay đắng cũng như cái khẩu hiệu giả dối Chống Mỹ Cứu Nước, để rồi hôm nay lại phải chống lại chính người đồng chí Cộng Sản đàn anh cuả mình. Một sai lầm trong lịch sử không thể tha thứ, bởi vì đã trả một cái giá bằng xương bằng máu cuả toàn dân Nam Bắc một cách vô nghiã. Tạo không biết bao nhiêu mối thù hận trong dân tộc, nhất là tội dọn đường dẫn lối cho chính kẻ thù xăm lược CSBK ngày nay.

    Lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ đứng về một phe phiá nào, nói khác đi chính nghiã dân tộc sẽ luôn đứng trên cả hai phiá Quốc Gia cũng như Cộng Sản, mà trong hai thành phần nầy, người yêu nước lại là con số đông. Chính Bàn Tay Lạ và Bàn Tay Đen nhúng vào để phân hoá, với khẩu hiệu Quốc Gia cũng như Cộng Sản mới là chính nghiã, với ảo tưởng chính nghiã lập lờ đánh lận con đen, người dân Việt quay cuồng chém giết nhau, người hưởng lợi trước mắt chính là CSBK hiện nay như tất cả đã thấy. TẤT CẢ DÂN VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NGOÀI PHẢI THẤY ĐƯỢC ĐIỂM NẦY. Tiếp tay trực tiếp hay gián tiếp cho CSBK, tất cả cũng là kẻ nội tặc, phải được hiểu như vậy trong cơ thế một mất một còn với kẻ xăm lược nầy.

    Phải nhận rõ kẻ luôn diễn trò ném đá dấu tay đó. Ý thức và tình tự dân tộc mới là chính nghiã trong sáng cuả toàn dân Việt yêu nước trong ngoài, những kẻ luôn cho mình mới là chính nghiã, trước hay sau sẽ bị vạch mặt là kẻ nội tặc không hơn không kém. Chẳng trụ ở sắc, chẳng nắm lấy không, vượt lướt trên tất cả, đó mới chính là con đường PHỤC NGUYÊN VIỆT NAM. Nó chẳng khác gì trong cái thân vô thường cuả ta, có cái luôn luôn thường hằng bất biến không bao giờ dứt mất.

    Trong cái thế hiện tại đang chuyển hoá không ngừng đó, kịch bản Thành Đô e rằng cũng khó mà tái diễn lại cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Nét bá quyền bành trướng cuả Bắc Kinh đã quá tỏ rõ, trước mắt thế giới cũng như toàn dân Việt trong ngoài, mà ngay cả trong hàng ngũ ĐVCS đang cầm quyền cũng không ít người hiểu rõ tường tận. Một lương tâm Việt Nam chung cho mọi người sẽ cùng nhau trổi dậy, đánh thức tất cả trước nguy cơ cực kỳ nghiêm trọng hiện nay. Cánh cung sẽ luôn được kéo thẳng, dồn dân Việt chỉ còn dưạ lưng vào con sông lớn chắn lối, không còn con đường thối lui, và rồi chỉ còn biết một hướng duy nhất là cùng nhau tiến lên phiá trước. Đó chính là Thế Bối Thuỷ. Cũng có thể gọi là NUÔI DƯỠNG THÁNH THAI.

    Cái đầu lạnh trong trường kỳ cuả Một Ngàn Năm luôn hiện hữu trong mỗi con tim Việt Nam, nạn đồng hoá chỉ là một cách nói để cảnh báo, nhưng chắc chắn đó là điều KHÔNG THỂ. Tất cả dân Việt yêu nước trong ngoài cần nên thấm thiá trong máu trong tim mình cái KHÔNG THỂ đó.

    Xin trân trọng.

  8. 26 tuổi says:

    Đọc nghe mấy chú bác VC đỉnh cao bàn chuyện đại sự của dân tộc mà không dám cười ! Không hiểu tại sao họ lảnh đạo được nhỉ , với mớ kiến thức cỏn con sợ sệt nhủn như con chi chi mà gánh vác trách nhiệm cả tương lai một dân tộc ! Rất là bất hạnh cho ai sống trong chế độ đó ! Có cơ hội gì để mà phát triển đất nước , hậu quả của nó vẩn đang tiếp diển không có dấu hiệu ngưng , như kẻ bị chảy máu dần dần cho tới chết , ôi mẹ VN đau thương :(

  9. Trúc Bạch says:

    Chấm Dứt thì mới có Tái Diễn . Phải không ?

    Cái “kịch bản Thành Đô 1990″ vẫn đang diễn, và diễn liên tục từ ấy đến nay, nó đã chấm dứt hồi nào đâu mà “tái” với chả…”chín” hả bác Nguyễn Trung ?

    Nếu bác nói “Phải chặn đứng nguy cơ Thêm một kịch bản Thành Đô nữa” thì có lý hơn .

    Vì trong “kịch bản Thành Đô 1990″ thì “ta” đã mất quá nhiều và đã khom lưng quá thấp, nay nếu thêm “một kịch bản” nữa thì e rằng “ta” chẳng còn lại gì, và cũng không thể khom lưng thấp hơn nữa, bởi đã sát đất rôi .

    Chẳng biết chừng nào các bác mới dứt bỏ được cái “thắng lợi” vay mượn qua cái mà bác gọi là “thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ”, để đối diện với một thực tế đớn đau, phũ phàng là :

    Chính cái “thắng lợi” giả cầy, vay mượn này của kụ Hồ và đảng csVN đã đưa đất nước và dân tộc ta đến bờ diệt vong như ngày nay đấy, bác Nguyễn Trung ạ ! Bởi vì :

    Nếu ….
    Mỹ không cút, Ngụy không nhào ,
    Bố bảo thằng Tàu dám mó Biển Đông !
    Bác Trung nghĩ có đúng không ?

  10. Người San Jose says:

    Tàu Cộng dạy-dổ Ba Đình:”Hãy gác lại quá -khứ,hướng đến tương-lai.”
    Ba Đình dạy-dổ người Việt tỵ-nạn CS ở hải-ngoại:”Hãy gác lại quá khứ,hướng đến tương-lai”.
    Như vậy,kế-hoạch “hòa-hợp,hoà-giải” là do Tàu Cộng đưa ra.

    Người San Jose

Phản hồi