|

Nghĩa hay lợi?

Cần chấm dứt đức trị và thay thế bằng nền pháp trị. Ảnh mang tính minh họa

“Phàm người ta làm mọi việc ở đời cũng chỉ vì nghĩa hay vì lợi… Người quân tử chỉ nghĩ đến điều nghĩa mà dốc lòng vào việc thiện. Dù việc thiện nhỏ thế nào cũng không bỏ qua. Kẻ tiểu nhân thì chỉ nghĩ đến điều lợi, hễ thấy lợi thì dù ác thế nào cũng thực hiện”.

Đó là một câu ghi trên đài tưởng niệm liệt sĩ chống pháp Phước Ninh, Đà Nẵng. Đọc câu nói mang nặng màu sắc Nho giáo này trong một bài viết, tôi đã suy nghĩ rất mông lung về những giá trị cổ xưa mà ông cha ta đã suy tôn trong hành trình “tự Hán hóa” của mình. Đối với nhiều người, có lẽ câu nói rất ấn tượng, mang tầm vóc một phương châm sống đầy giá trị và đậm chất luân lý. Nhưng theo tôi, không thể nhận thức đơn sơ về “nghĩa” hay “lợi” như thế.

1/Quân tử và nền đức trị

“Quân tử” trong cách hiểu cơ bản nhất của người Trung Hoa xưa, là người cai trị. Do đó, từ này nguyên khởi được dùng để chỉ những người thuộc tầng lớp thượng lưu của xã hội quân chủ Trung Hoa và một số quốc gia du nhập Hán học khác. Với quan điểm đức trị mà Khổng giáo ra sức truyền bá hay thậm chí là áp đặt, những người cai trị là những kẻ tài đức vẹn toàn, là những ông vua anh minh mang tầm vóc thánh nhân, là những ông quan phụ mẫu chi dân. Theo cách dùng ấy, chúng ta hiểu rằng, quân tử là những người tài đức xuất chúng và có khả năng thống soái thiên hạ. Sau này, “quân tử” còn được dùng để chỉ những người có trí tuệ, đức độ, chính trực và hay làm việc nghĩa.

Quả tình, tôi không thích Nho giáo, không thích cả những khái niệm của nó. Các giá trị Khổng Nho xa lạ và không gây ấn tượng tốt với tôi. Bởi trong nền văn hóa ấy, người ta luôn miệng nói về đạo đức nhưng không có bất cứ một định chế khả dĩ nào để bảo vệ những giá trị luân lý ấy. Cũng chính trong nền văn hóa ấy, nơi mà kẻ cai trị được mặc định là những người vừa có tài thao lược, vừa có đức hạnh, chúng ta chỉ thấy đầy dẫy những kẻ bất chấp thủ đoạn để thoán đoạt thiên hạ hoặc ích kỷ hại nhân. Nào là Lưu Bang giết Hàn Tín sau khi đã thâu tóm thiên hạ về một mối, Lý Thế Dân giết anh em để lên ngôi hoàng đế…

Thật vậy,đạo đức xã hội không bao giờ được giữ gìn bằng cách hô hào, mà chỉ bằng thể chế chính trị, bằng luật pháp và phần còn lại được giao phó cho những định chế xã hội khác như: tôn giáo, giáo dục…Ngày hôm nay chúng ta biết rằng, động cơ hành động của con người là tự lợi. Bởi nhận chân ra điều ấy, nhân loại mới tạo lập thể chế dân chủ pháp trị. Kẻ lãnh đạo không thể trở nên tài đức chỉ vì mang cái danh quân tử. Ngược lại, ngay từ đầu họ phải được giả định là kẻ xấu, có khả năng lạm quyền, tư lợi, và phải được kìm chế bởi một cơ chế chính trị nghiêm khắc. Ở đó, họ bị đặt vào tình huống: nếu họ vi phạm những cam kết với người dân, hậu quả mà họ lãnh nhận sẽ lớn hơn nhiều so với mối lợi mà họ có được khi vi phạm. Nhân loại ngày hôm nay không tin tưởng vào những phẩm giá tốt đẹp được gán (một cách hão huyền) cho kẻ cầm quyền theo kiểu đức trị. Với thể chế chính trị tự do, người dân dõng dạc tuyên bố với kẻ cai trị rằng: “Các ông cứ tỏ ra tốt đẹp bề ngoài, còn chúng tôi không biết thâm tâm các ông mưu tính chuyện gì. Nhưng nếu các ông làm bậy, các ông sẽ nhận hậu quả nhãn tiền”.

2/Nghĩa hay lợi

Trở lại với câu nói đã được đề cập ở đầu bài viết, nó hoàn toàn đặt trên bình diện đức trị của Nho giáo, phản thực tế và phản khoa học. Theo đó, người ta chia con người thành hai loại: một, hành động vì nghĩa; hai, hành động vì lợi. Phân loại con người thô thiển như thế sẽ dẫn tới những ngộ nhận tai hại. Trong mỗi một con người, có cả bản năng vị kỷ và bản năng cộng đồng. Động cơ, hoài bão và hành động của con người là tổng thể những mối tương tác của các bản năng này chứ không thể phân biệt nhị nguyên như trên.

Như đã nói ở trên, trong thực tế, nhân loại có xu hướng hành động vì lợi ích. Bản thân việc hành động vì lợi không phải là việc xấu xa về luân lý. Việc xem lợi ích là một giá trị tiêu cực về đạo đức là đi ngược lại quy luật tự nhiên, và thậm chí là cản trở sự tiến bộ. Đối với nền văn hóa Khổng Nho, chỉ có những kẻ thấp kém về tư cách và tài năng mới hành động vì lợi, còn thánh nhân thì hành động vì nghĩa. Nhưng mặc cho những giáo điều mà họ rêu rao, con người là con người. Mặc cho những truyền giảng đạo đức to lớn của họ, những kẻ đứng đầu thiên hạ, những quân vương được lưu danh sử sách, luôn là những người hành động vì lợi. Ai nói những quân vương độc tài như Tào Tháo, Lưu Bị, Chu Nguyên Chương…hành động vì nghĩa? Thật trớ trêu, trong một nền văn hóa luôn xiển dương đạo đức, chính ở đó, đạo đức bị chà đạp thô bạo nhất, và hơn nữa bị lợi dụng để mang lại lợi ích cho kẻ cầm quyền độc tài.

Người ta quên mất rằng, điều quan trọng là cần phải xác định: “nghĩa” là nghĩa như thế nào, nghĩa đối với ai; còn “lợi” là lợi gì, lợi ích cho ai; chứ không phải chỉ nói “nghĩa” và “lợi” chung chung. Và việc đồng hóa “nghĩa” với “thiện”, “lợi” với “ác” như câu nói trên thật không thỏa đáng. Rất nhiều khi, cái “nghĩa” dành cho thiếu số sẽ là họa cho đa số còn lại (ví như: việc vì ơn mưa móc chúng ta từng có được từ Đảng cộng sản làm cho chúng ta không thể lên tiếng chí trích Đảng hoặc chỉ trích không tới nơi chỉ có thể là “nghĩa” với Đảng thiểu số chứ chẳng thể là nghĩa đối với đa số còn lại); và cũng như thế, “lợi”(dù là tư lợi) cũng không bao giờ là đồng nghĩa với “ác” nếu cái lợi ấy đạt được bằng những phương tiện hợp pháp, hợp luân lý.
Ấy vậy mà, chữ “nghĩa” lòe loẹt ấy trong suốt thời quân chủ ở Trung Hoa và Việt Nam đã là cái gông đeo cổ cho toàn xã hội, đã là giá trị “sáng lòe” để nô lệ hóa cá nhân, để phục vụ cho những cá nhân cai trị mang danh tập thể. Đến thời kỳ Cộng Sản, chữ “nghĩa” lại bị lợi dụng để kéo hàng triệu thanh niên ngây thơ vào “cuộc chiến chống đế quốc” mà thực ra là cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Thế mới biết “nghĩa” không đứng trơ trọi một mình để bắt người ta phải hành động, phải hy sinh; cái “nghĩa” đó phải đi cùng với lợi ích to lớn và lâu dài của cộng đồng thì mới có giá trị, xứng đáng là “nghĩa” thật. “Nghĩa” mà không mang lại lợi ích thiết thực cho cá nhân hay cộng đồng thì việc chạy theo nó là điều vô ích. Cái “nghĩa” mà không đi kèm với sự suy xét chín chắn có khi lại gây họa cho bản thân và nghiêm trọng hơn là cho cộng đồng.
Xét đến chữ “lợi”, mỗi cá nhân là phần tử của xã hội, lợi ích dành cho mỗi cá nhân là góp phần vào lợi ích chung của xã hội. Bởi vậy, sự mưu cầu lợi ích cá nhân, mà không xâm hại đến lợi ích của các cá nhân khác và của xã hội là điều tốt đẹp và cần được phát triển. Còn đối với những trường hợp mang lại lợi ích cho xã hội, thì “lợi” này mới chính là “nghĩa” thật. Cái “lợi” ấy, bây giờ không chỉ mang ý nghĩa luân lý tích cực, mà còn là sự thể hiện của trí tuệ.

3/Sự cáo chung cần thiết của nền đức trị

Việc cổ xúy đức trị thừa kế từ nền văn hóa Khổng Nho đã mở đường cho sự thâm nhập dễ dàng của nền “đức trị Cộng sản”. Văn hóa “đức trị” ấy đã “trao tặng” cho Việt Nam một Hồ Chí Minh thủ đoạn hơn người nhưng được tôn vinh thành “vị cha già dân tộc đại trí đại tâm”. Nền đức trị không bao giờ ngăn nổi người ta trở thành những kẻ độc tài tàn bạo; mà ngược lại còn “thánh hóa” kẻ độc tài ấy, và đưa đến khả năng chính danh hóa sự cai trị chuyên chế qua nạn sùng bái cá nhân bệnh hoạn.

Trong cuộc đấu tranh hôm nay, chúng ta đấu tranh vì “nghĩa” sao? Điều đó không sai, nhưng chưa đủ, chúng ta đấu tranh vì “lợi” nữa chứ. Nền dân chủ tự do sẽ mang lại cho toàn thể quốc gia này cũng như mỗi một cá nhân trong xã hội những lợi ích to lớn. Chúng ta đấu tranh cho dân chủ không phải vì nó tốt chung chung theo kiểu mị dân, mà vì nó mang lại lợi ích thực tế đã được kiểm chứng trên thế giới cho cá nhân và xã hội, mang lại sự thăng tiến tất cả các mặt của đời sống chính trị xã hội. Chính cái lợi ích to lớn ấy đã mang lại cho cuộc đấu tranh cái danh diện chính nghĩa chứ không phải là những giáo điều xơ cứng, màu mè. Nói cách khác, cái danh “chính nghĩa” là “bộ áo” bên ngoài ,còn lợi ích thật bên trong (hướng về thiểu số hay đa số) mới quyết định bản chất của “nghĩa”. Cộng sản đã khoác bộ áo “chính nghĩa” để tàn phá đất nước này đó thôi. Bởi thế khi đánh giá sự việc, ta không đánh giá qua “bộ áo chính nghĩa” ấy mà xét tận gốc rễ cái lợi ích mà nó mang lại sẽ thuộc về ai. Chúng ta mang lại lợi ích cho ai, điều đó sẽ cho thấy chúng ta là bậc đai phu hay kẻ tiểu nhân, chứ không phải chỉ nhìn nhận phân biệt đơn sơ giữa “nghĩa” và “lợi”.

Ngày hôm nay, chúng ta không hướng đến một xã hội có những cá nhân tỏa hào quang của thánh nhân mà là một xã hội với những định chế vững vàng và có khả năng kiềm tỏa quyền lực chính trị, bảo vệ tự do cá nhân. Sự hô hào đạo đức, nhân văn chẳng thể mang lại nhân văn, đạo đức thật; chỉ khi nào người ta bị buộc phải hành động như thế nếu không họ sẽ bị loại bỏ, trừng phạt thì lúc đó xã hội mới tiến bộ được. Vì vậy, xin hãy để tâm thức Khổng Nho cùng những giá trị mà nó xiển dương lùi vào quá khứ, nhường đường cho những giá trị mới.

Tam Kỳ ngày 10 tháng 10 năm 2012

© Huỳnh Thục Vy

© Đàn Chim Việt

119 Phản hồi cho “Nghĩa hay lợi?”

  1. Nguyễn Trọng Dân says:

    NHÂN của Khổng
    ***********************

    Nhân- trong quan niệm của Khổng Tử là người phải thuờng xuyên truyền bá- phổ cập năm điều đức hạnh sau đây: cung, khoan, tín, mẫn, huệ.

    Ngài nói: “Nếu mình nghiêm trang cung kính thì chẳng ai dám KHINH mình. Nếu mình có lòng khoan lượng thì THU PHỤC được lòng người. Nếu mình có đức tín thật thà thì người ta TIN CẬY mình. Nếu mình cần mẫn, siêng năng thì làm được công việc hữu ích ( quản trị được người ) . Nếu mình thi ân, bố đức, gia huệ thì mình SAI KHIẾN được người” ( Luận Ngữ )

    Như vậy , nếu Nhân của Thích Ca là để giải thoát con người khỏi đau khổ , Nhân của Jesu là giúp con người tìm đến hạnh phúc bình đẳng yêu thuơng giữa người thì “Nhân” của Khổng Tử là cái nhân hữu ích cho những kẻ LÀM CHÍNH TRỊ , phục vụ hoàn toàn cho mục đích KHỐNG CHẾ SAI KHIẾN QUẢN TRỊ con người. Nhân của Khổng thực chất là những phương thức rèn luyện khả năng đắc nhân tâm , thu phục lòng người cho các chính trị gia không hơn không kém

    Điểm cuối cùng của chữ Nhân trong Thích Ca có thể giúp con người thiện lương , bớt tội ác & có cơ hội siêu thoát khỏi khổ đau.

    Điểm cuối cùng của chữ Nhân trong Jesu khiến con người yêu đương , bình đẳng & tin tưởng vào sự thánh thiện hoàn mỹ của đấng Toàn Năng

    Điểm cuối cùng chữ Nhân trong Khổng Tử là HY VỌNG tạo ra một tầng lớp cai trị quan lại “đức hạnh” cho xã hội.

    Tranh dành quyền lực một mặt thì phải thủ đoạn , mưu mẹo ( “binh bất yếm trá “) vô đạo vô nhân , miễn sao đại thắng, một mặt thì phải che đậy , đắc nhân tâm cho phù hợp với quan niệm Nhân của Khổng trong xã Hội , lần hồi chính trị Á Đông sản sinh ra một xã hội chỉ biết ca ngợi mưu kế thủ đoạn chính trị hơn là ca ngợi phát minh sáng chế

    Nói một cách khác , đức trị của Khổng Tử trong chữ Nhân là KHÔNG TƯỞNG , nhưng lại được áp đặt gò bó lên quan niệm xã hội nhằm tạo cơ sở cho lựa chọn chính trị của xã hội lệch lạc , có lợi cho những kẻ mưu mô chiến lược gia , tạo ra sự CHÍNH DANH – Nhân giả dối có lợi cho kẻ cầm quyền

    Ngày nay , với quan niệm tam quyền phân lập trong chính trị , nền đức trị của Khổng không còn chổ đứng bởi những lựa chọn chính trị là dựa trên chính sách , khả năng hơn là những đức hạnh đắc nhân tâm giả tạo.

    Dân chủ cũng đã cáng ngày càng phá bỏ những áp đặt khuôn mẫu về đức hạnh Cung- Khoan- Tín- Mẫn – Huệ mà đặt nặng đến hiệu quã của các chính sách , khả năng các công chức thi hành các chính sách đó cũng như khả năng ứng phó với những diễn biến xãy trước mắt

    Hiện nay mọi người ở Việt Nam vẫn chờ đợi cái gọi là một “minh quân” để lãnh đạo nhân dân lật bạo quyền chấn hưng đất nước. Những hoài niệm Khổng giáo như thế là không tưởng vì trong chính thể độc tài , mọi thành phần đối lập điều bị bôi nhọ về nhân cách một cách tinh vi để tạo nhiều đa nghi cho dư luận. Quan niệm Nhân của Khổng là mãnh đất tốt của một nền chính trị thần thánh hóa & bôi nhọ hóa một cách lệch lạc sai sự thật

    Cám ơn những người gan dạ như Huỳnh nữ sĩ , bỏ Khổng , tự đứng lên thử thách năng lực của mình , nhận thức của mình trước những khốn khó gây ra bởi bạo quyền Cộng Sản

    “Đánh đồng” tình thuơng giữa người và người với chữ Nhân của Khổng Tử là dấu ấn của sự dốt nát trì trệ còn sót lại của ảnh huởng Khổng Giáo , mà muốn xóa bỏ dấu ấn này , người Việt chúng ta còn mất nhiều thế hệ nữa mới thoát qua nổi.

    Ki’nh

    ***************************

    • Timsuthat says:

      Thày Trọng Dân dạy thật quá đã. Giá như có thời gian để được học thêm từ thày về những luận đề của Nho giáo thì hay quá!

      Nghĩ vậy thôi chứ riêng trò thì không biết có đủ kiên nhẫn mà học tới nơi tới chốn không nữa. Chỉ qua những tư tưởng bàn về “quân tử và tiểu nhân” cũng đã đủ khiến trò chán ngấy tận cổ, vì khái niệm này dù có thể giúp suy về sự hay/dở, tốt/xấu, nhưng hệ thống luận lý này đã định nghĩa đóng khung con người, tạo não trạng bất bình đẳng, giai cấp hóa, đơn giản hóa cái tâm lý, nhân cách, v.v. và hoàn cảnh rất phức tạp của con người …

      Riêng bàn về cái “Nhân” ở đây, trò có vài ý muốn góp:

      Trích:
      ———
      Ngài nói: “Nếu mình nghiêm trang cung kính thì chẳng ai dám KHINH mình. Nếu mình có lòng khoan lượng thì THU PHỤC được lòng người. Nếu mình có đức tín thật thà thì người ta TIN CẬY mình. Nếu mình cần mẫn, siêng năng thì làm được công việc hữu ích ( quản trị được người ) . Nếu mình thi ân, bố đức, gia huệ thì mình SAI KHIẾN được người” ( Luận Ngữ )

      Như vậy , nếu Nhân của Thích Ca là để giải thoát con người khỏi đau khổ , Nhân của Jesu là giúp con người tìm đến hạnh phúc bình đẳng yêu thuơng giữa người thì “Nhân” của Khổng Tử là cái nhân hữu ích cho những kẻ LÀM CHÍNH TRỊ , phục vụ hoàn toàn cho mục đích KHỐNG CHẾ SAI KHIẾN QUẢN TRỊ con người. Nhân của Khổng thực chất là những phương thức rèn luyện khả năng đắc nhân tâm , thu phục lòng người cho các chính trị gia không hơn không kém
      ———

      Lấy 2 bối cảnh làm khung để bàn, một là trong hệ thống có tam quyền phân lập và luật pháp thượng tôn như ở Mỹ ngày nay (trường hợp A), và hai là hệ thống quân chủ “đức trị” của Khổng giáo với luật pháp chỉ là dụng cụ của kẻ cai trị (trường hợp B), thì có thể nhận thấy:

      A – Các ý niệm “cung, khoan, tín, mẫn” thì hoàn toàn thích hợp cho người ở vai quản trị và lãnh đạo; các đức tính này là tốt và có lý trong hoàn cảnh việc công (chính quyền) cũng như việc tư (doanh nghiệp), không có gì xấu cả. Tỉ dụ, nghiêm trang trong vai công chức là vì sự quan trọng của nhiệm vụ được định khuôn bởi luật pháp chứ không phải ở cá nhân người công chức; tín và mẫn mà không có thì khó là người làm việc tốt. Nói chung, các giá trị này có thể thấy là tốt như được tiêu biểu ở các nước dân chủ thật bây giờ (tỉ dụ như Obama chẳng hạn).

      Riêng cái “huệ” thì là HỎNG TO! Khái niệm này không khác gì “muốn dạy chó, sai khiến nó thì hãy vứt cho nó vài khúc xương”! Có cách gì làm hèn con người, nô lệ hóa con người độc hại hơn thế?! Đối với kẻ dưới, “huệ” là như thế; đối với kẻ trên hay đồng nghiệp, đó chính là cái gốc của hối lộ, tham nhũng. Sự làm ân huệ phải thực sự vô điều kiện, không mong đền đáp mới là nhân đức thật.

      Hệ thống dân chủ không thể cho phép người lãnh đạo dùng ân huệ để mua ảnh hưởng điều khiển người làm. Mọi thưởng phạt đều phải được minh bạch và hiệu quả của chính sách phải được đánh giá công khai. Cái lợi công mà có thể bị mua bằng ân huệ thì quả là tai hại cho đất nước, dù là từ lãnh đạo (vì không có đặc ân thì các quan lại trong hệ thống đó chỉ làm việc cho qua, cho có, và chờ “xương” từ bề trên!).

      Nhưng ở trong doanh nghiệp tư nhân, cái “huệ” này thì lại có lý, tuy hiệu quả có giới hạn. Vì động cơ chính thúc đẩy con người làm việc dù là tiền, là lợi lộc, vẫn còn nhiều động cơ khác mà người lãnh đạo phải biết nhận xét mà lèo lái, chứ nhiều khi dùng lợi lộc cũng chẳng điều khiển được. (Tỉ dụ, các công ty Mỹ thường dùng cổ phần để làm động cơ thúc đẩy nhân viên, nhưng nhiều trường hợp vẫn không đạt đến kết quả tốt. Xem bàn luận ở TED).

      (còn tiếp)

      • Vương Bá Hoà says:

        Cụm từ “quân tử và tiểu nhân” rõ mồn một đâu cần phải bàn cãi!

        Người quân tử thì khiêm tốn, rộng lượng, khoan dung, dễ dàng bỏ qua và tha thứ.
        Kẻ tiểu nhân thì nhỏ mọn, ích kỷ, hẹp hòi, kiêu căng, cố chấp và đê tiện.

        Khổng Tử không phân biệt giai cấp mà chỉ phân giải để người đời hiểu thế nào là người quân tử, và thế nào là kẻ tiểu nhân.

        Quân tử thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái”. (Quân tử thư thái mà không kiêu căng, tiểu nhân kiêu căng mà không thư thái). (Luận Ngữ: Tử Lộ, XIII).

        Quân tử chu nhi bất tỉ, tiểu nhân tỉ nhi bất chu”. (Quân tử chung khắp cả mọi người mà không tây vị, tiểu nhân tây vị mà không chung). (Luân Ngữ: Vi Chính, II).

        Người quân tử chọn những điều hay điều tốt trong nho giáo đểu trau bản thân, giúp ích cho đời vì nghĩa.
        Người bình thường thì tìm hiểu, câu nào không rõ thì đặt nghi vấn.
        Còn kẻ tiểu nhân thì xoi mói, bủn xỉn, chẻ chữ để chê bai theo tiểu tâm của mình.

      • Timsuthat says:

        @Vương Bá Hoà:
        Thưa ông, định nghĩa thì đơn giản, dễ hiểu, nhưng có 2 vấn đề:

        - Chủ quan: Các cá tính định nghĩa 2 loại người đó là những cảm tính, những thái độ; và dù xấu hay tốt, nó đều cần phải được đánh giá trị bởi ‘người ngoài cuộc’ thì mới khách quan, không còn tính chất chủ quan. Một người nghĩ rằng họ đã đối xử theo định nghĩa “quân tử” không nhất thiết có nghĩa họ đã thực sự quân tử; tự cho mình là quân tử hoặc coi đối phương là tiểu nhân đều là thái độ chủ quan, có thể đúng nhưng cũng có thể sai, và là đơn giản hóa bản chất đối tượng. Tuy khái niệm quân tử/tiểu nhân có thể giúp nhận xét khác biệt giữa tốt/xấu, cao thượng/hèn hạ, hay/dở, cắt nghĩa bằng những bài học giả dụ về những cá tính tốt/xấu thì hay hơn là đóng khung ‘loại người’ vì nó tạo cái nhìn đối kháng giữa con người với nhau. Cần phải tách rời “hành động làm tội” với con người thì mới có thể thực sự rộng lượng được, mới có hy vọng thay đổi.

        - Lủng củng, hỏng, lỗi thời, giả đức: Rất nhiều định nghĩa các đức tính của quân tử đã gắn liền với triết lý chính trị và xã hội của hệ thống quân chủ và đối xử kỳ thị (tam cương, v.v.), nên tất cả các luận lý đó đã mất hết giá trị; mục đích ‘người quân tử’ ngày nay – nếu áp dụng những đức tính cá nhân tốt – là phục vụ xã hội chứ không phải là ‘đội trên đạp dưới’ nữa; ‘trung quân’ không có chỗ đứng trong dân chủ. Không những thế, không thiếu những ý niệm đầy lỗ hổng, có những mâu thuẫn trong lý luận, và vì thế không có giá trị thực. Tỉ dụ:
        + “Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi.” (Quân tử hiểu rõ điều nghĩa, tiểu nhân hiểu rõ điều lợi). Nghĩa với ai? Lợi cho ai? Lợi cho đại chúng không tốt? Lợi cho cá nhân luôn luôn xấu?
        + hoặc “Quân tử nghĩa dĩ vi thượng, quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn, tiểu nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi đạo.” (Quân tử chuộng nghĩa, quân tử có dũng mà không có nghĩa thì làm loạn, tiểu nhân có dũng mà không có nghĩa thì làm đứa ăn trộm). Điều kiện cho “loạn” mơ hồ, nhiều kẻ đã làm loạn trong lịch sử đều đã tự cho mình là quân tử có chính nghĩa. Đã là tiểu nhân thì vẫn có thể mong có nghĩa? Quân tử nhận ân huệ từ bề trên để trung thành làm việc theo sai khiến có hơn tiểu nhân?
        + hoặc trong Lân Kinh, Khổng Tử nói “Không, không! Người quân tử lo rằng mình chết rồi mà cái tên của mình không được nhắc đến, nếu đạo của ta không được dùng thì ta biết lấy gì để làm đời sau thấy ta”. Phải gây tiếng tăm lớn mới là quân tử?!!

        Có lẽ thế là quá đủ.

    • Timsuthat says:

      B – Khi không có sự thượng tôn luật pháp, không có công lý độc lập với hành chánh thì số mệnh của quan bé tới quan lớn sẽ tùy thuộc vào kẻ trên, mà kẻ trên hết được gọi là vua hay là bất cứ danh nghĩa gì khác.

      Các yếu tố tâm linh mà có thể ảnh hưởng đến hành xử của một quan chức trong hệ thống này sẽ có thể giảm nhẹ hoặc tránh được những điều thiếu đạo đức; “cung khoan tín mẫn huệ” sẽ được thể hiện tốt hay xấu hoàn toàn tùy theo cái tâm mà họ đã luyện (hay không luyện) trong tín ngưỡng của họ. Đạo giáo ở đây là đạo giáo thật, như Phật giáo và Ki Tô giáo, là những tín ngưỡng có tín lý về thần linh có quyền năng/ảnh hưởng hơn quyền lực của thế gian. Mục đích cuối cùng của họ trong sự hành “nhân” là đạt đến mục đích tâm linh của họ, và họ sẽ phải cân bằng sự phục vụ thần quyền và phục vụ thế gian. Dù vậy, cái hại của “huệ” sẽ vẫn chỉ tạo người hèn, người sợ hãi ở dưới.

      Riêng với Khổng giáo, đó không thể là “đạo” vì nó không có tín lý về thần linh; hơn nữa, theo những giai thoại về đời Khổng mà nhiều người bây giờ mới biết, Khổng đã không làm được những điều ông ta dạy; ông đã chẳng đáng là bậc quân tử! (Việc tôn vinh Khổng này đã là một “tai nạn văn hóa” lớn, có thể là sai lầm trí thức vô tình và cũng rất có thể là chủ ý của vua chúa các triều đại xưa.) Đặt tin tưởng vào Khổng giáo, họ phục vụ bề trên hơn là phục vụ đại chúng ở nơi mà bề trên và họ cai quản – đây là điều tất nhiên của cán cân vì mọi xử xét đúng sai, công tội, thưởng phạt, là tùy vào bề trên họ hoàn toàn. Mục đích cuối cùng cho sự hành “nhân” trong Khổng giáo này của họ sẽ là làm trung quân, duy trì cái vai quân tử họ đang nắm như Khổng dạy – và vì thế “cung khoan tín mẫn” chỉ còn là cái mã đẹp của giới cai trị, không còn ý nghĩa phục vụ cho lợi ích chung, và “huệ” là dụng cụ đắc lực để sai khiến con người.

      Mọi nhận định về khả năng và hiệu quả của một công chức trong hệ thống “đức trị” này sẽ tùy thuộc nhiều vào tài mưu mẹo, thủ đoạn, mua bán ảnh hưởng chính trị, sai khiến nô lệ (qua cái “huệ”) – chứ không dựa vào tài năng trí thức thật có sức thuyết phục những người liên hệ trong công việc và những chính sách minh bạch – nhất là khi vua và quan lớn là người thiếu khôn ngoan, đạo đức. Tuy sẽ vẫn có người dám làm theo cái “nghĩa”, hy sinh cái “lợi” riêng như theo ý niệm quân tử, số người có tâm đó là hiếm vì nó có thể gây nguy hiểm đến tính mạng họ và vì không có cơ chế nào bảo đảm các giá trị đó cả (bên cạnh vấn đề chủ quan, thô thiển của ý niệm “nghĩa/lợi” như cô Vy bàn ở đây); hình dung tình trạng khi đất nước lâm vào kinh tế khó khăn hay chiến tranh thì người can đảm này càng khó tìm hơn.

      Còn tệ hơn những trường hợp trên là khi những người vô thần, duy vật và cực đoan như đảng CS tranh quyền cai trị quốc gia. Những chủ nghĩa mơ hồ (XHCN) và ý niệm cực đoan (dân tộc) là những thứ thuốc ma túy mê hoặc chính họ và dân gian, để rồi, mọi ý niệm có thể tốt của Khổng hay của bất cứ đạo giáo nào cũng bị lợi dụng để họ “giả nhân, giả nghĩa, giả trí, giả tín” – giả hết mọi sự, chỉ có súng đạn cùm xích là thật – làm bằng mọi giá để chiếm đoạt ngôi báu và duy trì nó. “Cung khoan trí mẫn” là cái mã đẹp sẽ có “sợ hãi” đứng đàng sau bảo đảm, “huệ” thực hiện bằng “hộ khẩu, tem phiếu, đặc quyền đảng viên” ở thời trước hay “buôn quan bán chức” như bây giờ là họ đang theo Khổng đấy thôi!

      Vì thế, gạt bỏ được CS mà trở về với Nho giáo là sai lầm. Các cụ nào còn nuối tiếc hãy coi Khổng như một trong các triết gia cổ, có thể tìm hiểu rút ra những bài học nhưng chớ mà vì tự ái dân tộc, màu da mà tôn vinh và áp dụng. Các nước Đông Á còn ảnh hưởng Khổng – điều đó đúng và VN cũng sẽ khó thoát khỏi quá trình đó, nhưng tổng hợp các tư tưởng mới và các giá trị thực sự cần giữ nhất (là những gì?) để làm nền tảng mới thì hay hơn. Giải đáp là cứ áp dụng hệ thống dân chủ; lập pháp và hành pháp cùng với các xã hội dân sự sẽ đấu trí, tranh luận công khai để xác định mọi giá trị và gạn lọc, sửa đổi từ đó – đại khái giống như VNCH vậy!

      Góp thêm vài ý về “nhân” trong chính trị của Khổng này, nếu có ai vẫn chưa thuyết phục với bàn luận của thày Dân.

      Kính

  2. abc says:

    1/”những giá trị cổ xưa mà ông cha ta đã suy tôn trong hành trình “tự Hán hóa” .Điều này không những nói suy nghĩ sai,như tìm sự thất đã phản hồi trên mà còn chưng minh. HTV đã lấy con mắt thời nay ,lấy cái nhìn Khỗng Tữ qua cs tàu cộng và bắc cộng mà mạt sát ong cha ta một cách hồ dồ và vô thức .Nếu không có hán hóa thì có lẻ chưng ta đã thành người dân tộc sống theo bộ lạc hết rồi ! Đay là sự thực tuy có đau lòng !
    2/cuộc chiến tranh vừa qua là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa tư bản và cs,không là chiến tranh huynh đệ như cuộc chiến Trịnh Nguyễn . Cố nhiên vn có thể nói là chiến trường thữ lử của 2 nguồn ya thức đó .Tuy nhiên nếu chúng ta nhìn về Bắc Hàn , Đức Quốc cũng chia hai như vn,nhưng họ không như bọn csvn ,đổi một phần gaing sơn lấy súng đạn của CSQT (tàu,nga) và đêm hi sinh xương máu thanh niên vn cho chũ nghĩa không tưỡng (đánh là đánh cho Nga ,Tàu như Lê Duẩn tuyên bố). Và bây giờ vì lậm quá sâu vào TC, thêm sự ngu muội (ngu trung )nên giờ không thể thoát ra được “anh cả đỏ” TC .Bị mất nước ,bị đô hộ là đương nhiên ( Bắc Kộng coi Mỹ là tân thực dân ,nhưng thưc ra ba chữ này phải dành cho thằng Tàu).
    3/HTV không thích nho học ,nhưng những điều HTV có được là một phần do nho học bàng bạc trong văn hóa Á Chau ,nước chịu ảnh hưỡng văn hóa Tau ,như Nhật, Triều Tiên ,Mã Thái ….Và anh HNT cũng chịu ảnh hưỡng phong cách ,nép sống của vnch ,trong đó bàng bạc ý thức Khỗng tử mà không biết đó thôi !
    Khi nói về KT phải nói đến thời đại Ong ta sống ,một xã hội không kỹ cương cho nên người san định lại xã hội ,lập ra luật lệ ,phép tắc.Cố nhiên từ KT tới nay ,qua ngọn gió Tây Phương,xã hội đã biến đỏi nhiều ,vài điều khổng tữ nói không còn thích hợp vói thời đại bây giờ ,nhưng những điều căn bản về con người và làm người vẩn còn bàng bạc trong suốt chiều dài lịch sử cho đến ngày nay.
    Ý niệm về người quân tử cúng ý như Tây phương (gentleman/bonhomme hay gentilhomme,honnêtehomme)
    là người có nhân cách tài đức phẩm hanh cao quí trong xã hội Người quân tử không hẳn là kẻ lãnh đạo chánh quyền . Đây là hình thành một loại người khác.Nhưng nếu kẻ cầm quyền có tài đức như là người quân tử : lâp ngôn lập đức đú cả thì tốt chứ sao . Đức là cái mà người quân tử (hay kẻ lãnh đạo ) phải có. Nhưng không phải có đức mà không có luật pháp ,kỹ cương,nên đức trị đi đoi vói pháp trị thì mới hoàn háo .Ngoài ra còn cái nghĩa cái ân của nhũng người chung quanh mình ,hổ trợ cho mình ,hi sinh cho mình là tốt.Đó là bổn phận trách nhiệm đối vói nước vói dân ,vói tổ tiên …Và đó là những chiến thắng lừng láy của việt nam sau 1000 năm đô hộ giặc Tau. Khi chiến thắng quân Thanh ,QT đã thả các tù binh về Tàu, Khi Lê Lơi chiên thắng quân Minh cũng cho tù binh về tàu, tha thuế 3 năm cho dân ,cấp bổng lộc cho lính giãĩ nghũ về quê cày ruộng… dó là nghĩa là nhân ,là đức Nhưng nếu ai phạm pháp thì bị xữ phạt thật nang làm gương kẻ khác. Luật pháp phải minh ,phai nghiêm ….Cho nên không thể nói nghĩa và đức nên bỏ .Phũ nhận Khổng tữ kể cã những điều tốt đẹp thì hơi quá đáng nếu không là cộng sản trong CMVH ,hạ bệ Khởng Tữ của Mao xếnh xáng.
    Còn nếu phê bình Bắc Kộng thì cứ phê bình ,đừng đưa Khỗng tữ và o đây mà sổ toẹt hết,con đem Lưu Hiểu Ba ra chưng minh LHB là ai ?là tàu cộng là cs là được đào luyện trong thới kỳ CM VH là kẻ diệt khổng phu tữ ,vị vạn thế sư biểu đó…
    Cũng như Ong thầy dạy học t rò điều hay lẻ phải nhưng học trò không nghe thì không phải lổi tại thầy. Cùng thới HCM nhiều nhà nho đăm mình trong Nho Giáo cũng biết yêu nước thương dân ,cũng nhìn ra con đường cs là con đường không tưỡng cho nên họ không đi theo con đường HCM đi !Kẻ quân tử và bọn tiểu nhan khác nhau ở chổ biết cái nào hay ,dở đẻ liệu cho mình con dường đi …
    Gióng như HCM nói “Các nhà CM như PBC ,PCT là đưa rắn cửa trước ,rướccọp của sau” và ngày nay nhìn lại ,thì ra thũ phạm đưa rước chinh là NÓ.
    Cho nên cái học Khỗng Tữ phải được trang trọng. Cố nhiên là phải san định lại ,bỏ đi hay sữa đổi chio phù hớp với văn minh ngày này : Cái văn minh của thiên chúa giáo Tây Phương.
    “Ở trong cò lắm điêu hay…”
    Có học mới hiểu đạo lý ,mới biết yêu nước..
    Và mới biết trong cuộc chiến ý thức hệ vừa qua ai là kẻ yêu nước ,đâu là chính nghĩa. Ai là kẻ phi nhân .phản quốc. bán nước cầu vinh…là đồ phi nghĩa !
    (abc)
    #chắc chăn HCM không là kẻ quân tứ theo khổng giáo ,không là kẻ yêu nước thương nòi.
    (abc)

  3. Dong Ong Co says:

    “Các chủ thuyết đều là màu xám, chỉ có cây đời là mãi xanh tươi”, bất kỳ luận thuyết nào cũng đều nhằm phục vụ cho một lợi ích nhất định, nên “Tứ thư ngũ kinh” cũng chỉ là một phương tiện để cầu lợi thôi. Xem ra con người gọi là “Quân tử” xét cho cùng vẫn là vì lợi mà thôi. Đông và Tây cũng đều là “Real-Politics” cả, chỉ khác ở cái vỏ thôi.
    Đồng Ông Cộ.

  4. Vương Bá Hoà says:

    Sau khi khẳng định; Khổng Tử nói : “Chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân là khó dạy” , ông Nguyễn Trọng Dân phang tới tấp một cách hả hê:

    Như vậy là sau khi trình bày phơn phớt ba chủ trương DIỆT…rất bậy của Khổng giáo làm trì trệ sự phát triển của xã hội hàng hóa cần có cho một xã hội hiện đại , giam cầm sự Tự Do về Tư Tưởng cũng như triệt tiêu công lý , phản hồi này xin trình bày nhè nhẹ một chủ trương DIỆT..bậy khác của Khổng giáo , đó là DIỆT…Bình Đẳng ( giữa người và người )” (?)

    Tôi nhận thấy có điều bất công và hết sức vô lý. Trong trường hợp ông Nguyễn Trọng Dân mắt thấy tai nghe từ miệng Khổng Tử nói ra thì vẫn cần phải được xác minh cho rõ ràng. Huống chi những lời ấy cách đây đã hơn hai ngàn năm, chắc gì vẫn còn nguyên vẹn, đó là chưa kể đã bị hiểu sai, bị bóp méo hay bị tam sao thất bổn!

    Căn cứ vào một đoạn văn trên không chằng dưới không rễ để lên án Khổng Tử, một vị hiền triết bậc thầy đã để lại cho đời những triết lý sống và đạo đức qua rất nhiều thế hệ trong hơn hai ngàn năm qua, liệu có tránh được khiếm khuyết?

    Trong Bách Khoa tri thức, ở trang 48 tác giả Dương Hoá viết (nguyên văn): “Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã! Cận chi tắc bất tôn, viễn chi tắc oán” (Nữ tử và người tiểu nhân là khó cư xử! Thân mật thì họ không giữ được kính nể, xa lánh thì họ oán trách).

    Vậy ông Nguyễn Trọng Dân nghĩ gì về câu dịch của tác giả Dương Hoá? Câu nào đúng và nghe thoáng nhĩ hơn?

    Vẫn chưa hết, ông NT.Dân lôi kéo câu viết của HOÀNG ĐẠO để hỗ tương cho ý tưởng của mình ; ““Xin trích một đoạn trong báo Ngày Nay số 124, năm 1938, nằm trong loạt chính luận nhiều kỳ nhan đề “Phiếm Du Trong Đạo Khổng” của HOÀNG ĐẠO để mọi người đọc chơi : ” … Người đàn bà, thật vậy, sinh ra chỉ có một số phận: lấy chồng để đẻ con. Họ không cần học và cũng không được học, đạo tu thân là để dành riêng cho đàn ông. Họ chỉ cần biết phục tòng. Giáo dục của thánh hiền về mặt phụ nữ chỉ có thế“.

    Xin hỏi ông Dân, “Phiếm Du Trong Đạo Khổng” do chính Khổng Tử viết hay là do HOÀNG ĐẠO?

    Tử Lộ là học trò của Khổng Tử nói; “Quân tử hoà nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hoà” (Quân tử sống chân tình chan hoà với mọi người mà không kết bè đảng, tiểu nhân kết bè đảng mà không chân tình chan hoà, hoặc là: Người quân tử hòa với mọi người, dù không đồng. Kẻ tiểu nhân đồng với mọi người nhưng không hòa).

    Tôi không biết, có phải Khổng Tử DIỆT….. bậy, hay chính ông Nguyễn Trọng Dân đang viết bậy?

    • Nguyễn Trọng Dân says:

      Thưa ,

      Có dịch kiểu nào thì cũng lòi cái tâm khinh khi dị biệt. Xin đọc lại câu dịch do chính mình chép ra mà nghiệm lại xem..

      Còn bốn cái DIỆT..bậy của Khổng CÓ HAY KHÔNG, thực tế SỰ THẬT của lịch sử trả lời rồi mà , lo gì…. Xin từ từ nghiệm lại xem có phải như vậy không?

      Ki’nh

      • Vương Bá Hoà says:

        Trong những chế độ quân chủ chuyên chế, phong kiến thời đó, nhà vua coi mình như (Lịnh) Trời: “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu. (muốn giết ai thì giết), thì quá bất nhân bất nghĩa, vô luân thường và không có đạo lý.

        Khổng Tử xuất hiện với lời dạy cách cư xử ở đời, phải lấy lòng nhân (tình người) cư xử với nhau, trau dồi đức tính “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín”. Không thể bá đạo, mà phải cai dân trị nước bằng đạo đức với câu: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.

        Ngài là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng thời đó, triết lý của ngài vẫn có giá trị đến ngày nay. Các bài giảng và triết lý của ngài có tầm ảnh hưởng rộng lớn đối với các nền văn hóa Á Đông. Luận ngữ của ngài cũng chỉ truyền đạt những kinh nghiệm trong cuộc sống giữa người với người.

        Khổng Tử không phải là một giáo chủ hay là người lãnh đạo tôn giáo!

        Chữ “NHÂN” của Khổng Tử bởi thế chỉ dạy cách cư xử ở đời, giữa con người với nhau, hướng dẫn cho những người làm Chính Trị hành động, như trong luận ngữ mà ông NTD đã trích dẫn;

        Nếu mình nghiêm trang cung kính thì chẳng ai dám KHINH mình. Nếu mình có lòng khoan lượng thì THU PHỤC được lòng người. Nếu mình có đức tín thật thà thì người ta TIN CẬY mình. Nếu mình cần mẫn, siêng năng thì làm được công việc hữu ích ( quản trị được người ) . Nếu mình thi ân, bố đức, gia huệ thì mình SAI KHIẾN được người“.

        Ông NTD đã hiểu (trich); “Nhân của Khổng thực chất là những phương thức rèn luyện khả năng đắc nhân tâm , thu phục lòng người cho các chính trị gia ” (hết).

        Vậy thì không thể đem chữ “NHÂN” của Khổng Tử (dạy cách cư xử ở đời) so sánh với lòng NHÂN của Phật Thích Ca hay của Chúa Jesu dạy để “giải thoát con người khỏi đau khổ, hay hãy yêu tha nhân như chính mình” (tôn giáo).

        Cũng là chữ “NHÂN” nhưng ở hai phạm trù, hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau.

        Do vậy, phê bình chữ “NHÂN” của khổng tử (dạy cách cư xử ở đời) đã là sai, lấy bụng tiểu nhân của mình để suy lòng Khổng Tử, cho rằng ngài DIỆT…bậy (?) thì lại càng thêm hồ đồ, bậy bạ!

Phản hồi