|

Người Quốc gia trong chiến tranh Việt nam

Hồi ký của Nguyễn Công Luận

Nguyên tác tiếng Anh: “Nationalist in the Viet Nam Wars
*Memoirs of A Victim turned Soldier “
by Nguyễn Công Luận

Do Indiana University Press xuất bản tại Mỹ năm 2012
Sách có thể đặt mua qua Email : [email protected]
Qua Bưu điện : Indiana University Press, 601 North Morton Street Bloomington, Indiana 47404 – 3796
Hay Nhà sách website Amazon.com

Cũng có thể xem các bài nhận định của độc giả :
www.amazon.com/Nationalist-Viet-Nam-Wars-
Memoirs/dp/0253356873/ref=rhf se p t 1

* * *
Tôi đã đọc khá nhiều cuốn hồi ký và tiểu sử của những nhân vật Việt nam cũng như ngọai quốc. Phần nhiều đây là những cuốn sách rất có giá trị, nó giúp cho người đọc hiểu biết rõ ràng hơn về các nhân vật lịch sử trong bối cảnh văn hóa xã hội đương thời. Nhưng cuốn Hồi ký của tác giả Nguyễn Công Luận này, thì mới làm cho tôi say sưa theo dõi và đặc biệt chú ý đến – bởi lý do đơn giản là tập sách này viết về Người và Việc tại Việt nam giữa cái thời kỳ mà chính bản thân tôi đã trải qua và cũng chứng kiến gần như y hệt tác giả – đặc biệt là tại tỉnh Nam Định ở miền Bắc hồi trước năm 1954.

Tác giả lại trực tiếp viết bằng tiếng Anh và cuốn sách còn được nhà xuất bản của một Đại học danh tiếng là Indiana University Press đứng ra nhận ấn hành – thì đây rõ rệt là một công trình không phải bất kỳ người viết nào cũng đạt tới được. Mà còn hơn thế nữa, cuốn sách lại được nhiều giới thức giả người Việt cũng như Mỹ nhiệt liệt khen ngợi và giới thiệu – thì đó cũng là một biểu lộ để chúng ta có thể tin tưởng được giá trị của cuốn sách dài đến gần 600 trang với khổ chữ nhỏ cỡ 11.

Ngay trong Lời tựa, tác giả đã khiêm tốn viết rằng mình chỉ là một thứ “vô danh tiểu tốt ở Việt nam” (I was just a nobody in Việt nam), và không có công trạng gì lớn lao để mà khoe khoang – mà cũng chẳng có làm điều chi tệ lậu để mà phải viết sách viết báo tìm cách biện bạch “thanh minh thanh nga”. Nhưng trong suốt cuốn sách, ông Luận đã trình bày hết sức trung thực về những điều tai nghe mắt thấy và những nhận định của riêng cá nhân mình – với lập trường kiên định của một người quốc gia chân chính mà là nạn nhân trực tiếp của chính sách độc tài hiểm ác và gian trá của đảng cộng sản ở Việt nam.

Để bạn đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện, tôi xin tóm tắt về Tiểu sử tác giả – như được ghi lại rải rác nơi những trang trong cuốn Hồi ký – rồi sẽ trình bày chi tiết hơn về các mục đáng chú ý nhất trong cuốn sách này.

I – Tiểu sử tác giả Nguyễn Công Luận

Ông Luận sinh năm 1937 tại một làng miền quê gần với thị xã Nam Định. Thân phụ là người đã từng tham gia sinh họat trong hàng ngũ Quốc Dân Đảng, nên đã bị Việt minh cộng sản bắt giữ vào năm 1948 và bị mất ở trong trại tù Lý Bá Sơ vào năm 1950. Ông trải qua cả một thời thơ ấu tại quê nhà và trực tiếp vừa là người chứng kiến – vừa là nạn nhân của cảnh người dân chịu đựng cái ách “một cổ hai tròng” giữa nạn độc tài sắt máu của phe Việt minh cộng sản và sự cướp bóc tàn phá của thực dân Pháp trong suốt cuộc chiến kéo dài đến 8 năm 1946 – 1954.

Vào năm 1954, ông cùng bà mẹ và hai cô em di cư vào miền Nam. Trong khi bà nội vì già yếu và ông bác phải ở lại miền Bắc, thì lại bị đem ra đấu tố trong đợt cải cách ruộng đất – khiến cho ông bác vì bị phẫn uất quá trên đường bị dẫn giải đến trại giam, nên đã liều mình ôm lựu đạn cùng chết với bộ đội canh giữ. Và bà nội thì bị trục xuất ra khỏi nhà và bị đày đọa cho đến lúc chết trong cảnh cô đơn khốn khổ.Thành ra cả gia đình đều là nạn nhân của sự đàn áp man rợ của người cộng sản tại miền Bắc.

Theo gương thân phụ, ngay từ hồi còn là một học sinh ở vào tuổi 13 – 14 tuổi, cậu Luận đã mau sớm họp với một số bạn cùng lứa tuổi để tham gia sinh họat thành từng nhóm học sinh quốc gia – vừa chống Pháp vừa chống Việt minh ngay tại thành phố Nam Định. Vào miền Nam, lúc vừa đủ 18 tuổi, cậu Luận đã tình nguyện gia nhập khóa 12 Sĩ quan Trường Võ Bị Quốc gia ở Đà lạt. Và sau khi tốt nghiệp ra trường vào cuối năm 1956, thì ông còn được cử đi học thêm tại Trường Bô Binh Hoa kỳ Fort Benning trong tiểu bang Georgia.

Năm 1974, ông Luận lại được cử đi học tiếp ở Fort Benning và đã đậu hạng 10/195 trong kỳ thi tốt nghiệp với sự khen ngợi đặc biệt của Trung Tướng Chỉ huy trưởng và Bộ Chỉ Huy trường Bộ Binh. Là người có ý chí cầu tiến, ông Luận còn theo học tại trường Luật ở Saigon và đã tốt nghiệp văn bằng Cử nhân Luật khoa, Ban Tư pháp.

Trong gần 20 năm sinh họat trong quân ngũ, ông Luận đã lần lượt phục vụ tại Sư đòan 22 Bộ Binh ở vùng Cao nguyên (từ 1959 đến 1965), sau đó chuyển về làm Giám đốc Nha Tiếp nhận của Bộ Chiêu hồi ở Saigon (từ 1967 đến 1970) và cuối cùng tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị (từ 1970 đến 1975).

Sau khi chế độ miền Nam xụp đổ, cũng như nhiều sĩ quan khác thiếu tá Luận phải đi tù “cải tạo” tất cả đến gần 7 năm, kể cả nơi trại tù ở ngòai miền Bắc. Năm 1982, ông Luận được trả tự do và sinh sống bằng cách dậy Anh văn cho đến khi cùng gia đình qua định cư ở Mỹ vào năm 1990. Hiện ông bà Luận và tất cả bốn người con đều đả trưởng thành đang định cư tại thành phố San Jose ở miền Bắc California.

Trong những năm gần đây, dù bị đau bệnh nhiều do tuổi già sức yếu, ông Luận vẫn kiên trì tham gia góp phần trình bày với công chúng qua nhiều bài báo Việt ngữ cũng như Anh ngữ và đặc biệt ông còn là Phụ tá chủ bút cho bộ sách The Encyclopedia of the Vietnam War nữa. Và cuốn Hồi ký được giới thiệu ở đây chính là một công trình thật lớn lao của một cựu sĩ quan trong hàng ngũ Quân đội Việt nam Cộng hòa vậy.

II – Lược qua sự đánh giá về tác phẩm của một số thức giả Việt và Mỹ.

Trước khi trình bày nhận định riêng của mình về tác phẩm, tôi xin trích thuật lại ý kiến của một số thức giả về cuốn sách như sau đây:

1 – Nhà văn Mạc Giao, chủ bút tạp chí Diễn Đàn Giáo Dân xuất bản ở California đã viết trong bài Giới thiệu khá dài được đăng trong số báo tháng 10/2012 ở đọan cuối như sau : … “ Chúng ta nhìn thấy hình ảnh của mình trong hình ảnh của Nguyễn Công Luận, bắt gặp hòan cảnh của mình đã sống trong hòan cảnh Nguyễn Công Luận tả trong sách. (Đây là) một cuốn sách rất đáng đọc, đáng được giới thiệu cho bạn bè ngọai quốc, nhất là cho những người trẻ Việt Nam để họ hiểu được, thấy được những lầm than, nỗ lực và hy sinh của thế hệ cha anh cho đất nước và cho chính họ.”

2 – Thiếu Tướng David T. Zabecky viết trong Lời nói đầu cuốn sách : “…Một trong những bản tổng kết (accounts) của Quân lực Việt nam Cộng hòa có giá trị lớn và đày suy tư mà tôi đã được đọc… Đó là một cuốn sách trung thực mà sự lương thiện của tác giả hiện ra ở mỗi trang…”

3 – Trung Tướng Lawson W. Magruder III là người quen biết tác giả đã 40 năm, thì viết : “…Qua con mắt của một người yêu nước chân thực, lịch sử và những chiến dịch có tính quyết định của cuộc tranh chấp đã được duyệt lại từ một nhãn quan độc đáo của một nạn nhân trở thành chiến binh… Cuốn sách này là một tác phẩm cần phải đọc cho những ai muốn có được một hình ảnh đày đủ và sự thật tòan diện về cuộc chiến tranh bi thảm mà đã làm cho cả thế giới phải ray rứt mủi lòng trong suốt hơn hai thập niên…”

4 – Giáo sư C. C. Lovett Đại học Emporia State University, thì viết trong tạp chí CHOICE chuyên về điểm sách cho các nhà sách và thư viện lớn nhỏ trong số phát hành vào tháng 8/2012 như sau : “… Từ quá lâu, tiếng nói của người Việt nam đã không được nghe đến. Trong cuốn Hồi ký này, ông Luận đã chiếu rọi tia sáng mới vào cái phần chiến tranh còn thiếu vắng trong lối trình bày diễn giải thông dụng điển hình đó…Cuốn Hồi ký này sẽ là một bổ túc có giá trị cho bất kỳ tủ sách hàn lâm nào mà có sự quan tâm đến cái thảm kịch Việt nam. Tóm tắt lại : (Đây là thứ tài liệu) Thiết yếu. Mọi trình độ/Thư viện.”

5 – Đại tá Gregory Fontenot nguyên Giám đốc Trường Nghiên cứu Quân sự Cao cấp cũng viết bài nhan đề “A Vietnamese Perspective” được đăng nơi Tập san Army Magazine của Hội Lục quân Mỹ vào số tháng 8/2012, xin trích một đọan ngắn như sau : “ …Ông Luận thuật lại khá rõ rệt về những cuộc chiến Việtnam như ông đã chứng kiến. Dù mới chỉ mang cấp bậc Thiếu tá, ông đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong tổ chức quốc phòng. Ông là Giám đốc một Nha rộng lớn nhất trong Bộ Chiêu Hồi. Và sau này còn là Trưởng Phòng Nghiên Cứu Kế Họach của Tổng cục Chiến tranh Chính trị thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Việt nam Cộng hòa… Đây là cuốn sách thiết yếu cho những ai muốn tìm hiểu về cái thảm kịch phức tạp của những cuộc chiến tranh ở Việt nam.”

III – Những điểm đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

Tập Hồi ký này dài đến gần 600 trang với khổ chữ nhỏ, nên người lớn tuổi với đôi mắt suy yếu, thì khó mà có thể đọc liền một lúc hết quá 10 trang được. Như vậy cần phải để ra vài ba tháng để mà đọc và nghiền ngẫm cho hết trọn cuốn sách. Tác giả ghi ra rất nhiều chi tiết lý thú về mọi thứ chuyện thực tế đã xảy ra – mà đích thân mình chứng kiến hay được nghe những nhân chứng đáng tin cậy tường thuật lại. Có nhiều chuyện hấp dẫn khiến người đọc có thể tìm coi lại nhiều lần mà vẫn thấy hay như khi mới đọc lần đầu tiên vậy.

Nếu phải ghi ra một điều bất cập trong cuốn sách dày đặc những chữ với chữ này, thì đó chính là nó không có những hình ảnh để minh họa cho các chủ đề của tác phẩm – quả thật đó là một điều thiếu sót đáng tiếc. Thiết nghĩ nếu trong sách mà có được vài ba chục trang hình ảnh kèm theo ghi chú ngắn gọn cho mỗi hình, thì người đọc sẽ chú ý tìm coi trước nhất những trang này. Rồi sau đó họ sẽ thích thú coi tiếp nữa. Hy vọng trong ấn bản tiếng Việt, tác giả và nhà xuất bản sẽ tránh được sự khiếm khuyết tuy nhỏ nhoi mà cũng thật lợi hại này.

Sau đây, tôi xin lần lượt nêu ra mấy điểm đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

1 – Về hình thức diễn đạt của tác phẩm.

Tác giả đã dày công sử dụng từ ngữ rất chính xác để có thể mô tả rõ ràng những sự kiện do bản thân mình chứng kiến – cũng như những suy luận và nhận định chủ quan của mình. Cái lối viết đơn sơ mà gãy gọn này đã được ban Biên tập nhà xuất bản của Đại học Indiana cũng như nhiều thức giả đánh giá cao – như đã trình bày lược thuật ở trên. Đây rõ ràng là một thành công đáng kể của một người viết trực tiếp bằng thứ ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ của mình vậy.

2 – Về nội dung thật là phong phú và khả tín của tập Hồi ký.

Quả đúng như nhận xét của Thiếu Tướng Zabecky đã ghi trong bài Tựa cuốn sách : “ Sự lương thiện của tác giả hiện ra ở mỗi trang”, ông Luận đã tường thuật hết sức trung thực và chính xác về những điều chính bản thân mình đã “tai nghe mắt thấy”. Điển hình trong các giai đọan đáng chú ý như sau:

A – Giai đọan từ 1945 đến 1954 tại vùng thị xã Nam Định ở miền Bắc.

Vì trong gia đình có cụ thân sinh đã từng tham gia tranh đấu chống thực dân Pháp ngay từ hồi thập niên 1930, nên cậu Luận sớm có được những hiểu biết rõ rệt về tình hình chính trị xã hội tại địa phương – ngay từ năm 1945 lúc cộng sản Việt minh lên nắm chính quyền, dù lúc đó mới chỉ là một thiếu niên 8 tuổi. Tác giả biết được nhiều điều qua những cuộc trao đổi thảo luận giữa thân phụ của ông với các đồng chí trong hàng ngũ tổ chức Quốc Dân Đảng ở địa phương xung quanh thành phố Nam Định.

Ông Luận thuật lại rất chi tiết những cuộc sát hại bắt bớ do chính quyền Việt minh gây ra đối với các thành viên của Quốc Dân Đảng – trong đó có cả chính thân phụ của ông bị bắt giữ năm 1948 và chết tại trại giam Lý Bá Sơ vào năm 1950. Tác giả còn cho biết là mối hận thù giữa phe Cộng sản và phe Quốc Dân Đảng Việt nam đã có từ lâu trước cả năm 1945, lúc cả hai phe đều còn ẩn náu ở bên nước Tàu – đó là lúc phe Cộng sản Việt nam đi theo cánh của Mao Trạch Đông đang tranh chấp hận thù không đội trời chung với cánh Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch. (Tình trạng này cũng tương tự như tại miền Nam hồi năm 1945 – 47, phe Cộng sản Đệ Tam đã sát hại tàn bạo đối với các nhân vật thuộc phe Cộng sản Đệ Tứ (còn gọi là phe Trostkyst) như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch… Đó là họ theo sự chỉ đạo của Stalin ở Liên Xô.)

Trong hơn 150 trang mô tả về tình hình chính trị xã hội xung quanh địa phương tỉnh Nam Định thời kỳ trước năm 1954, người đọc mà cũng xuất thân từ tỉnh Nam Định như tôi – thì đều có thể kiểm chứng rõ ràng là tác giả Nguyễn Công Luận đã tường thuật lại một cách rất chính xác và trung thực. Và đó chính là một điểm son của tác phẩm – khiến cho người đọc có thể yên tâm mà đọc cho đến hết các phần kế tiếp cũng vẫn đày rẫy những chi tiết về “Người thật, Việc thật” mà chính bản thân tác giả đã trải qua.

B – Phục vụ tại Sư đòan 22 nơi vùng Cao Nguyên (1958 – 1965).

Là một sĩ quan trẻ tuổi, Trung úy Nguyễn Công Luận đã hăng say phục vụ đất nước trong thời gian 7 năm với Sư đòan 22 Bộ Binh đóng tại các tỉnh vùng Cao nguyên là nơi có nhiều đồng bào thuộc các sắc tộc thiểu số đã định cư lâu đời nơi vùng đất rộng người thưa này. Tác giả coi đây là Sư đòan của gia đình mình với biết bao kỷ niệm gắn bó với số đông các bạn đồng đội và bà con dân chúng ở địa phương – bởi lẽ ông Luận lập gia đình vào năm 1962 và ông bà đã có hai người con được sinh ra trong thời gian ông phục vụ tại đơn vị này.

Dù chỉ là một sĩ quan cấp nhỏ, ông Luận đã phát huy nhiều sáng kiến trong việc thi hành các công tác được trao phó cho mình – đặc biệt trong lãnh vực tổ chức phòng thủ và vận động quần chúng ở địa phương. Thành tích của ông tại vùng cao nguyên đã được vị Tư lệnh Sư đòan lúc đó là Đại tá Nguyễn Bảo Trị chú ý đặc biệt, nên vào năm 1967, khi làm Bộ trưởng Thông tin Chiêu hồi, ông Trị đã xin biệt phái Đại úy Luận về làm Giám đốc Nha Tiếp Nhận của Bộ này mà có số nhân viên lên đến 200 người.

3 – Giai đọan phục vụ tại Bộ Chiêu Hồi (1967 – 1970).

Sau thời gian trên 10 năm trong hàng ngũ quân đội và tới tuổi “tam thập nhi lập” vào năm 1967, Đại úy Luận đã trở thành một vị sĩ quan trưởng thành chín chắn với nhiều kinh nghiệm về chỉ huy và tổ chức điều hành.

Trong nhiệm vụ nặng nề là đơn vị trưởng của một cơ quan rộng lớn tại Bộ Chiêu Hồi ở thủ đô Saigon, ông Luận đã hăng say làm việc ngày đêm để cho guồng máy cơ quan đạt được hiệu năng tối hảo trong việc phân lọai, xác định lý lịch, thu thập tin tình báo, huấn luyện chính trị và sắp xếp phân phối bố trí công việc cho hàng chục ngàn những “hồi chánh viên” – là những người vừa rời bỏ hàng ngũ phe Cộng sản để gia nhập sinh họat trong Đại gia đình phe Quốc gia.

Ông Luận coi giai đọan phục vụ tại Bộ chiêu Hồi (từ 1967 đến 1970) là thời gian công tác có ý nghĩa nhất trong suốt gần 20 năm mà ông sinh họat trong quân ngũ. Ông thuật lại nhiều trường hợp người hồi chánh tham gia chiến đấu kiên cường trong các đơn vị Quân đội Việt nam cũng như Quân đội Mỹ. Mỗi tóan 3 người họat động sát cánh từng đơn vị của Quân đội Mỹ được gọi là “Kit Carson Scouts”, thì phần đông đều tạo được thành tích đáng khen ngợi.

Lý do chính yếu của sự thành công của Nha Tiếp Nhận do ông Luận lãnh đạo, đó là do lập trường quốc gia vững chắc kiên định và nhất là do sự thông cảm chan hòa tình yêu thương gắn bó của nhân viên phụ trách đối với các bạn hồi chánh viên.
Trong suốt ba năm làm việc miệt mài tại Bộ Chiêu Hồi, ông Luận đã có dịp trực tiếp phỏng vấn trao đổi với trên 500 hồi chánh viên – nhờ vậy mà ông thu thập được khá nhiều thông tin, tài liệu chính xác về tình hình xã hội ở miền Bắc sau năm 1954. Ông đã chuẩn bị để xuất bản một cuốn sách bằng Anh ngữ về đề tài này, nhưng chưa kịp hòan thành thì đã xảy ra biến cố 30 tháng tư 1975 làm xụp đổ chế độ miền Nam.

Ông là tác giả của văn kiện lập quy quan trọng rộng lớn cho tòan bộ chính sách Chiêu Hồi. Đó là Huấn Thị số 22 của Thủ Tướng Chính Phủ năm 1968 quy định các quy chế và thủ tục tiếp nhận Hồi Chánh của chính quyền, QLVNCH và Quân Đội Mỹ tại Việt Nam, quy định phòng chống nội tuyến, bảo vệ người hồi chánh đã hòan lương, biện pháp chế tài, các điều kiện và thủ tục miễn trách, miễn tố cho các bị can phạm tội như phá họai, giết người theo lệnh của VC.
Khó khăn lớn mà ông Luận đã vượt qua được, đó là thái độ ít khoan dung đối với các cựu VC về chiêu hồi của nhiều viên chức, sĩ quan và nhân sĩ VNCH, không chấp nhận những biện pháp “bàn tay nhung” tích cực giúp đỡ người hồi chánh bằng những yểm trợ vật chất và tinh thần để thu phục họ. Ông đã cùng Trung Tướng Trần Thanh Phong, Tham Mưu Trưởng Bộ TTM đệ trình dự án đồng hóa các sĩ quan Bắc Việt giỏi và đáng tin cậy vào QLVNCH như Đại Tá Tám Hà, Trung Tá Phan Mậu, Trung Tá Lê Xuân Chuyên, Thiếu Tá Hùynh Cự, Đại Úy Phan Văn Xướng và hàng trăm sĩ quan BV khác với quân hàm giảm 1 cấp, để phục vụ các ngành Bộ Binh, Pháo Binh, Thiết Giáp, Chiến Tranh Chính Trị… Nhưng dự án này không thành vì sức chống đối của nhiều chức quyền cao cấp trong chính phủ tuy được Quân đội cà Cảnh sát quốc gia tán thành.

Ông cũng vượt qua khó khăn lớn trong việc vận động Bộ Tư lệnh MAC-V chịu áp dụng quy định HT-22 Chiêu Hồi cho các đơn vị Mỹ ở Việt Nam, một điều mà các đơn vị chỉ huy cao cấp Mỹ vốn có tính tự cao tự đại không mấy khi chấp nhận.

IV – Để tóm lược lại.

Cuốn Hồi ký này là một trong mấy cuốn sách hiếm hoi do số ít tác giả Việt nam viết trực tiếp bằng Anh ngữ mà đề cập chi tiết về cuộc chiến tranh Việt nam trong cả hai giai đọan 1946 – 54 và 1960 – 75.

1 – Tác giả đã nêu rõ lập trường của mình là một “người quốc gia” đối lập dứt khóat với “người cộng sản”. Vì thế mà ông mới lấy nhan đề là : “Nationalist in the Viet Nam Wars : Memoirs of a Victim Turned Soldier”.

Thật vậy, trước năm 1954, lúc còn là một thiếu niên, cậu Luận đã là nạn nhân của sự tàn ác của Việt minh cộng sản (người cha bị bắt giữ và chết trong nhà tù cộng sản). Vào miền Nam, khi đủ 18 tuổi cậu Luận bắt đầu tham gia Quân đội thành người chiến binh – để chống lại sự xâm lăng do giới lãnh đạo cộng sản từ miền Bắc phát động.

2 – Cuốn sách chứa đựng rất nhiều chi tiết trong sinh họat của người dân Việt nam giữa thời kỳ 30 năm chiến tranh xáo trộn liên tục từ 1945 đến 1975. Có thể nói đây là tiếng nói tiêu biểu đại diện cho hàng triệu người trong tầng lớp “đa số thầm lặng” – vốn chỉ là nạn nhân bất hạnh của mưu đồ độc quyền thống trị của đảng Cộng sản Việt nam theo mô hình của Liên Xô và Trung Cộng. Đây là một chứng từ hết sức trung thực và khả tín của một công dân cần mẫn và lương thiện – nhằm góp phần vào việc xác định Chính Nghĩa cùng Chỗ Đứng của Việt Nam Cộng Hòa trong lịch sử thế giới hiện đại.

3 – Cuốn sách này cần được phổ biến rộng rãi trong các gia đình người Việt với cả ba thế hệ gồm có : ông bà (từ tuổi 60 trở lên với sự hiểu biết cụ thể về cuộc chiến) – cha mẹ (từ tuổi 30 – 50 chưa trải qua kinh nghiệm trực tiếp về cuộc chiến tranh) – và thế hệ các cháu sinh trưởng ở hải ngọai (thường có hiểu biết rất ít hay sai lạc về cuộc chiến do các sách báo người ngọai quốc viết với sự thiên lệch cường điệu).

* * *

Với tác phẩm đặc sắc này, tác giả Nguyễn Công Luận đã trở thành một nhân vật nổi trội, một thứ “somebody” trong cộng đồng người Việt ở hải ngọai – chứ không còn là thứ “nobody” như ông đã khiêm tốn viết nơi trang đầu cuốn sách nữa.

Người viết rất hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn Hồi ký rất trung thục và lý thú này của vị cựu sĩ quan Quân lực Việt nam Cộng hòa và cũng là một người có tấm lòng yêu nước nồng nhiệt chân thành.

Sau cùng, người viết xin được bày tỏ lòng biết ơn và quý trọng chân thực đối với tác giả vì sự đóng góp thật quý báu này./

Costa Mesa, California Tháng Mười 2012

© Đoàn Thanh Liêm

© Đàn Chim Việt

 

 

35 Phản hồi cho “Người Quốc gia trong chiến tranh Việt nam”

  1. BẠT NGÀN says:

    CON NGƯỜI VÀ NGÔN NGỮ

    Cách đây nhiều ngàn năm, Khổng tử một bậc hiền triết Á Đông đã nêu lên thuyết Chính Danh, là một thuyết rất hay cho xã hội con người, và có lẽ muôn đời nó luôn chính đáng, cần thiết, hay vẫn luôn đúng. Nhà hiền triết cho rằng danh bất chính, ngôn bất thuận. Tức nói điều gì không đúng sự thật khách quan đều luôn ngượng miệng, khó nói, trừ phi đó là kiểu của kẻ không ra gì. Tức ngôn ngữ của kẻ đại nhân quân tử luôn luôn vẫn khác với ngôn ngữ của kẻ phàm phu, tiểu nhân, ít nhất là về mặt mục đích cùng thực chất của nó.
    Do vậy ngôn ngữ của chính sử luôn phải cần ngôn ngữ của đại nhân quân tử, tức nghiêm cẩn, trung thực, không thể chỉ nhất thời theo cách tuyên truyền nông cạn hoặc phi trách nhiệm, vô ý thức. Điều này trong các sách sử về chính sử của nước ta trong suốt thời kỳ quân chủ phong kiến đều nhất nhất được tôn trọng. Ngay như Khổng tử khi viết kinh Xuân Thu cũng không đi ra ngoài ý nghĩa đó. Bởi vậy mọi loại hôn quân tà giáo đều rất ghét mà cũng rất sợ hãi nội dung trước tác về lịch sử này của Khổng tử.
    Điều này có nghĩa con người chân chính, xã hội chân chính luôn đi theo với mọi ngôn ngữ chân chính.
    Mọi sự đi ngược lại thực chất đều là phản con người, phản xã hội, phản tính cách chân chính của sử học và lịch sử. Và nếu trong ý nghĩa hay hoàn cảnh như thế, trong những xã hội không tôn trọng sự thật khách quan, đúng đắn, tức không tôn trọng chính bản thân con người, bản thân xã hội, mọi ý nghĩa của lịch sử đều không có giá trị thực chất trong xã hội hiện tại đó mà chỉ có ý nghĩa hay giá trị mãi về sau, khi mà mọi cái nhất thời đều đã đi qua và xã hội và con người đã quay lại được với chính bản chất trung thực cũng như đúng đắn của mình.
    Do vậy, vấn đề người quốc gia trong chiến tranh VN vừa qua cũng không thoát ra được ý nghĩa ấy.
    Thực chất ý nghĩa của giải phóng là gì, của tên gọi chiến tranh đó là gì, của người quốc gia đúng nghĩa là gì, có lẽ về sau này lịch sử chân chính truyền thống mới thật sự xác đinh rõ. Bởi trong tương lai xã mọi sự thật khách quan đều được diễn đạt trung thực lại trong bản thân nó, không bất ai có thể xuyên tạc gì được, ngụy tạo gì được, bởi vì khi đó mọi thế hệ hiện tại đều đã chết hết và chỉ có các thế hệ tương lai mới thật sự làm chủ xã hội của chính họ.
    Bây giờ trước mắt, mọi người có thể hiểu một cách nghiêm túc hoặc đơn giản thế này :
    Thực chất ý nghĩa của ý niệm chiến tranh giải phóng lâu nay được nhiều người hiểu như vậy là giải phóng “giai cấp”, giải phóng khỏi chế độ “tư hữu” để đi lên chế độ công hữu hay chế độ “cộng sản” theo học thuyết Mác quan niệm.
    Chiến tranh có liên quan đến các thế lực quốc tế như Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Pháp, nên cũng không hoàn toàn là chiến tranh trong nước mà có phần nào đó ý nghĩa quốc tế hay ý nghĩa ý thức hệ toàn cầu.
    Vậy thì người “quốc gia” thuần túy chỉ có nghĩa là người có ý thức yêu nước thật sự độc lập, có mục đích yêu nước thật sự độc lập, mà không phải chỉ là thành phần, là con cờ thuần túy của các ý nghĩa chiến tranh mang tính quốc tế hay mang tính ý thức hệ. Chỉ ngặt một nỗi là những người như thế thì chỉ có ở miền Nam trước kia mà không thể có nơi miền Bắc hay trong hàng ngũ cách mạng. Bởi những người nào ở vế sau dù muốn dù không họ cũng đều là thành phần của yếu tố cộng sản, không phải yếu tố quốc gia tư sản theo tên gọi đúng nghĩa. Tất nhiên người yêu nước chân chính thì lúc nào cũng có, ở đâu cũng có, nhưng họ phải bị khung vào hoàn cảnh thế nào, trong chiều hướng và mục đích thế nào, nhiều khi vượt lên trên cả chủ đích của họ, song đó lại là tên gọi đúng nghĩa khách quan cho bản thân của họ.
    Đấy chính cái trớ trêu cho những người quốc gia yêu nước thật sự và cho những người cách mạng yêu nước thật sự của VN trong thời kỳ cận đại là như thế đó. Những người quốc gia yêu nước thật sự thì bị lẫn vào trong hàng ngũ những người được gọi là “Mỹ Ngụy”, và những người yêu nước cách mạng thật sự thì bị lẫn vào trong hàng ngũ những người “Cộng sản”. Do vậy cũng cần nên định nghĩa tóm gọn :
    Người Cộng sản đúng nghĩa : người chủ động đi theo chủ thuyết Mác, đứng trong hàng ngũ và mục đích của hệ thống cộng sản quốc tê.
    Người Yêu nước cách mạng : vì lòng yêu nước thật sự, nhưng không thể thoát ra ngoài được hệ thống cách mạng theo kiểu Cộng sản quốc tế.
    Người Quốc gia yêu nước, có lòng yêu nước, mục đích yêu nước thật sự, nhưng đứng ngoài hay chống lại những người trong hệ thống Cộng sản.
    Những người được gọi là Mỹ Ngụy, những người thuần túy chỉ sống cho hoàn cảnh chiến tranh, họ do hoàn cảnh lịch sử đưa lại, không chắc gì họ là những người có lòng yêu nước, nhưng họ dĩ nhiên không ở trong hàng ngũ Cộng sản và cũng chống lại hàng ngũ Cộng sản. Bởi họ nằm trong hệ thống quốc tế Tư sản chống lại hệ thống quốc tế Cộng sản.
    Hiểu biết và đánh giá con người, lịch sử cũng như xã hội, cũng cần phải hiểu biết và đánh giá về tên gọi cũng như của ngôn ngữ chính là như thế.

    NON NGÀN
    (16/9/13)

  2. nvtncs says:

    Ở ngoài Bắc, “tivi”, “càrem” chạy khắp “phố”.

    Tiểu sử của ông Diệm, do con mèo viết, cũng có giá trị ngang với câu trên của người Bắc nói về “tivi”, càrem.

  3. MINH says:

    Làm cam HÈN quá đành phải làm lính VNCH cho oai ? Xin lỗi , thằng VC tòn ten cọng rau muống có muốn giả dạng thì cũng chả được.Với cách viết đó , anh conmeo có KHÙNG thì mới nghĩ rằng ảnh lường gạt được người ? Lại giả làm anh ” lính xưa” để cổ võ cho mình mới ác ! conmeo, concho, con giundat , havu – cha va đều y tuồng nhau.

  4. VIỆT says:

    Hà hà chưng sơn, việt quốc bị cấm khẩu thì tự nhiên anh conmeo, mayvu xuất hiện, té ra cũng chỉ là 1 thôi. Anh cam may vu này ảnh là dân nón cối chính gốc. Ai thừa hơi mà chụp mũ các anh.

  5. nvtncs says:

    Quý vị tin tiểu sử gia đình ông Diệm do nickname “conmeo” viết, hay quý vị tin Wikipedia?
    http://en.wikipedia.org/wiki/Ngo_Dinh_Diem

    • Lính xưa says:

      Tôi tin ” conmeo ” là lính xưa chính hiệu VNCH .

      Còn nói chuyên tin ông Diệm ở Wikipedia , cũng chẳng khác gì tin HCM ở Wikipedia ….!

      • Choi Song Djong says:

        @ Lính Xưa.
        Xưa conmeo bị vc nó tuyên truyền gạt gẫm rồi nó đánh cho chạy thiếu điều tụt quần,nay sang được nơi có cơm no bò cưỡi lại ngây ngô đi tin lời láo khoét vc,thảo nào suốt đời cứ làm lính trơn,cứ cả tin rồi bị gạt,đéo có lập trường.

    • DâM TiêN says:

      DâM tui là lính VNCH, nhiều khi không ưa ông Diệm, chỉ vì lý do
      qua một thời có tí chút Cần Lao dình trong quân ngũ.

      Nhưng theo đại cuộc, thì khi nghĩ lại, phải phục lăn sát đất ông
      Diệm : ông đơn thương độc mã, cả gan chống lại một chánh
      quyền HK khi dự tính đổ quân tác chiến vô Miền Nam VN.
      Ông Diệm yêu đất nước và đồng bào xiết bao!

      Trong khi, hãy thử xem những tên Cộng phỉ trọ trẹ Nghệ tĩnh
      đánh đĩ với Nga Hoa ra sao…từ màu cờ, chính sách…nhứt nhứt
      triệt để răm rắp theo lệnh Nga Hoa…

      Nè nè cu ConMeo…thứ xem cái tượng ông bố Lê Nin của mi vẫn
      còn đứng gác nơi Giảng Võ, Hà nôi, phải không?

Phản hồi