|

Nghị quyết về Biển Đông được trình lên Hạ viện Mỹ

Biển Đông

Một nghị quyết kêu gọi giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ-lãnh hải tại Biển Đông và các vùng biển nằm kề đất liền ở Đông Á đã được đệ trình lên Hạ viện Mỹ ngày 15/7.

Nghị quyết mang mã số H. Res. 352 do Hạ nghị sỹ Eni F.H. Faleomavaega, ủy viên cấp cao của Tiểu ban châu Á-Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, đệ trình.

Nghị Quyết H. Res. 352 ghi rõ sự kiện hôm 26 tháng 5, 2011, khi một tàu Trung Quốc cắt cáp của một tàu thăm dò địa chất Việt Nam. Nhiều ngày sau, ba tàu quân sự Trung Quốc dùng súng uy hiếp ngư dân của bốn thuyền đánh cá Việt Nam tại vùng biển Trường Sa.

Nghị quyết viết rằng Hạ viện Mỹ cần phải khẳng định lại sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với việc giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ-lãnh hải tại Biển Đông, Biển Hoa Đông và Hoàng Hải, đồng thời cam kết tiếp tục thúc đẩy quá trình cùng nhau giải quyết những tranh chấp đó một cách hòa bình.

Nghị quyết lên án việc sử dụng vũ lực của lực lượng an ninh hàng hải và các tàu đánh cá Trung Quốc tại Biển Đông và biển Hoa Đông, cũng như việc sử dụng vũ lực của đồng minh của Trung Quốc là Bắc Triều Tiên tại Hoàng Hải.

Nghị quyết kêu gọi các bên có tranh chấp lãnh thổ không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong việc đòi chủ quyền. Nghị quyết cũng hoan nghênh những nỗ lực ngoại giao của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cũng như các đồng minh và đối tác của Mỹ tại Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc nhằm giải quyết hòa bình và công bằng các tranh chấp.

Theo tờ Người Việt, Văn phòng Dân Biểu Ed Royce, người tham gia trong tư cách đồng bảo trợ Nghị Quyết H. Res. 352, đệ trình Hạ Viện Hoa Kỳ đã gửi thông cáo báo chí hôm 15 tháng 7.

Trong thông cáo báo chí, Dân Biểu Royce nói rằng: “Với việc Trung Quốc gia tăng thái độ thù nghịch chống lại các quốc gia trong vùng Nam Á lẫn Hoa Kỳ, chúng tôi xét thấy cần phải gửi đến chính phủ này một thông điệp mạnh mẽ, khẳng định Biển Ðông không phải của riêng Trung Quốc.”

DB Royce bày tỏ quan ngại về những lời bình luận thù nghịch đến từ giới cao cấp đã hồi hưu của Trung Quốc, rằng những lời này “tạo nên mối quan tâm đặc biệt,” và rằng “Nếu Trung Quốc thực tâm muốn giải quyết tranh chấp trong ôn hòa, họ nên chấm dứt những thái độ thù nghịch của mình.”

Dân Biểu Ed Royce là thành viên cao cấp trong Tiểu Ban Á Châu và Thái Bình Dương Sự Vụ, thuộc Hạ Viện Hoa Kỳ. Ông còn có chân trong Nhóm Dân Biểu Quan Tâm Về Vấn Ðề Việt Nam và Nhóm Quan Tâm Về Nhân Quyền.

Theo Đất Việt và Người- Việt

11 Phản hồi cho “Nghị quyết về Biển Đông được trình lên Hạ viện Mỹ”

  1. Ly Thuong Kiet says:

    Tin tức được dấu kín : Quan hệ giữa lãnh đạo VN với Trung Quốc
    1) Lê Khả Phiêu bị Trung Quốc gài Mỹ Nhân Kế lấy cô Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) lúc Lê Khả Phiêu sang thăm Trung Quốc năm 1988 và sanh được một bé gái.
    LKP không đem con về vì sợ tai tiếng đưa đến nhiều lần Trung Cộng gửi văn thư đòi lấn vùng biển vào tháng 1 năm 1999. Đồng thời đòi đưa ra ánh sáng vụ nầy nếu LKP không hợp tác. Và buộc Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký bản hiến biển ngày 30 tháng 12 năm 1999.

    2) Ngày 31 tháng 12 năm 1999 phái đoàn Trung Quốc cầm đầu do ông Tang Jiaxuan và tình báo TQ sang Việt Nam, họ gặp kín ông Lê Khả Phiêu bàn thêm về vấn đề hiến đất.

    3) Ngày 25 tháng 2 năm 2000, Lê Khả Phiêu phái Nguyễn Dy Niên sang Trung Quốc, ông Nguyễn Dy Niên cho biết Lê Khả Phiêu đã đồng ý việc hiến thêm đất.

    Trung Quốc nghe tin rất hoan hỉ mở tiệc chiêu đãi Nguyễn Dy Niên một cách nồng nhiệt với nhiều Cung Tầng Mỹ Nữ ở nhà khách Diao-yu-tai ăn nhậu cùng ông Ngoại Trưởng
    Tang Jiaxuan .

    4) Bộ Trưởng Trung Quốc Tang Jiaxuan gửi thư kín nhắn tin muốn gặp Bô. Trưởng CSVN tại ThaiLand khi ông viến thăm nước nầy. Ngày 26 tháng 7 năm 2000. Ông
    Nguyễn Duy Niên đáp chiếc Air Bus bay từ phi trường Nội Bài vào lúc 6 giờ 47 sáng sang ThaiLand gặp Bộ Trưởng Ngoại giao Trung Quốc tại khách sạn Shangri-La Hotel Bankok phía sau phòng Ballroom 2. Cuộc gặp rất ngắn ngủi. Tang giao cho Niên một chồng hồ sơ đòi CSVN hiến thêm đất, biển trong hồ sơ ghi rõ TQ đòi luôn 50/50 lãnh hải vùng Vịnh Bắc Việt, đòi VietNam cắt 24,000 sp Km vùng biển cho TQ. Ngày 28 tháng 7 bộ chính trị nhóm chóp bu họp kín.

    5) Sau hai tháng họp kín và bàn bạc. Bộ chính trị CSVN cử Phan Văn Khải qua gặp
    mặt Lý Bằng. Phan Văn Khải bay chuyến máy bay sớm nhất rời Việt Nam ngày 26
    tháng 9 năm 2000 qua Bắc Kinh và được xe Limo chở từ phi trường Bắc Kinh về
    Quảng Trường Nhân Dân vào trưa hôm đó. Nhìn thấy mặt Khải tỏ vẻ không hài lòng
    và hoan mang về vụ hiến đất (Điều nầy chứng tỏ Khải không rõ chuyện nầy). Lý
    Bằng cho Khải biết là hai tay Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân đã gặp nhau 2 lần
    cho vụ hiến đất rồi. Lý Bằng ôm chặc PVKhải và khen Đảng CSVN làm việc rất tốt
    và ông cho biết là đã có Nông Đức Mạnh (lúc đó là chủ tịch Quốc Hội DCSVN) đã đi
    đêm sang Trung Quốc vào tháng 4 năm 2000 và Lý Bằng đã gặp lại Nông Đức Mạnh,
    vào tháng 8 năm 2000 ở New York Hoa Kỳ. Lý Bằng cho biết Nông Đức Mạnh phải được
    cử làm Bí Thư DCSVN sau khi Lê Khả Phiêu xuống, nếu không thì sẽ bị Trung Quốc
    “đòi nợ cũ” .

    Khải trước khi về vẫn khước từ vụ hiến vùng biển VN và nói với LB
    là sẽ xem lại sự việc. Lý Bằng nhăn mặt bắt Khải ngồi chờ, vào gọi điện thoại,
    nói gì trong đó và trở lại nói là Chủ Tịch Giang Trạch Dân muốn gặp Khải tại
    Zhong-nai-hai và sau đó Khải được đưa đi gặp GTD và cho ông Zhu Rongji hù dọa
    Khải nói: Trung Quốc đã nắm trong tay Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh …nếu không
    nghe lời TQ Khải sẽ bị tẩy chay và coi chừng bị “chích thuốc”. Khải cuối đầu và
    run sợ, sau đó đòi về. Trước khi Khải về, một lần nửa Giang Trạch Dân nhắn Khải
    gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh chứ không nhắc tới tên người khác
    trong Quốc Hội CSVN. Khải không được khoản đải như một vị quốc khách vì tính
    tình bướn bỉnh vì không nghe lời đàn anh ………

    6) Vào ngày 24 tháng 12 năm 2000 , Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao VN Lê Công Phụng
    được Trần Đức Lương phái âm thầm đến Trung Quốc gặp ông tình báo của Trung Quốc
    là ông Hoàng Di, ông nầy là cánh tay phải của Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc.
    Ông ta nói tiếng Việt rất rành. Hai bên đã gặp nhau ở một địa điểm X gần biên
    giới Việt, (Tỉnh Móng Cái Việt Nam). Theo bản báo cáo cho bộ chính trị CSVN, ông
    Lê Công Phụng Cho biết lúc đầu ông Hoàng Di vẫn khăn khăn đòi chia 50/50 với
    Việt Nam về vùng biển Vịnh Bắc Việt “Beibu Bay” đòi lấy luôn đảo Bạch Long Vĩ
    sau đó ông Phụng, được bộ chính trị dặn trước là xin lại 6% của Vùng biển gần
    khu vực Bạch Long Vĩ vì đã được lâu đời là của Việt Nam . Kết Qủa cuộc đi đêm
    Việt Nam còn lại 56% Vịnh Bắc Việt và mất đi 16,000 sq Km vùng vịnh cho Trung
    Quốc.

    7) Ngày 25 tháng 12 năm 2000, ông Trần Đức Lương rời Hà Nội qua Bắc Kinh gặp
    Giang Trạch Dân và được đưa về Thành Bắc của Quảng Trường Nhân Dân, theo tài
    liệu lấy được của tình báo Trung Quốc. Trần Đức Lương và Lê Khả Phiêu chính thức
    quyết định thông qua bản hiệp ước hiến đất bất chấp lời phản đối của Khải và
    nhiều người trong quốc hội. Phe thân Nga và Phe Miền Nam đã không đủ sức đấu với
    Lê Khả Phiêu và Trần Đức Lương. Bản hiến chương hiến đất cho Trung Quốc được
    chính Giang Trạch Dân và đảng CSTQ trả cho số tiền là 2 tỉ US Dollar được chuyển
    cho Việt Nam qua hình thức Đầu Tư. DCSTQ chỉ thị cho DCSVN sẽ phải làm gì trong
    kỳ đại hội đảng thứ 9 vào tháng 3 năm 2001 sắp tới. Trần Đức Lương được khoản
    đải ở Thành Bắc QTNN.

    Ngày 26 tháng 12 năm 2000 vào lúc 2 giờ trưa, Lý Bằng được cận vệ đưa tới gặp
    Trần Đức Lương ở Quảng Trường Nhân Dân. Lý Bằng cho Lương biết là số tiền 2 tỉ
    dollar để mua 16,000 sq km vùng vịnh Beibu của Việt Nam là hợp lý. Trần Đức
    Lương cám ơn DCSTQ về số tiền nầy. Số tiền 2 tỉ dollars nầy được Lương đem về
    để làm bớt sự phẩn nộ của Khải, Kiệt và những nhân vật khác trong quốc hội CSVN.
    Ông Lý Bằng nhắc lại chuyện Trung Quốc đã bán vũ khí và hổ trợ cho đảng CSVN
    trong thời gian chiến tranh và số nợ trên Trung Quốc dùng để trao đổi mua lại
    vùng đất Bắc Sapa của Việt Nam, Ải Nam Quan, Bản Dốc, Cao Bằng…. Thêm lần nữa
    Lý Bằng chỉ gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh !. Sau đó Lương được mời
    lên xe Limo và đưa về Zhong-nan-hai để gặp Zhu Rongji . Zhu Rongji không nói gì
    khác hơn là nhắc lại số tiền 2 tỉ dollars sẽ được giao cho Việt Nam sau khi
    Lương trở về nước.

  2. Nguyễn Nghĩa. says:

    Tôi có 1 phân tích nhỏ về nghị quyết này.

    Thứ nhất nói về Hoa Kỳ.

    Hoa Kỳ là một cường quốc kinh tế nên nhu cầu về dầu hỏa rất lớn. Tuy vậy bể dầu hỏa mà họ quan tâm là Trung cận đông. Họ đã có ý nhường lại cho Trung Quốc Biển Đông từ 1974. Nhưng do tốc độ bành trướng của Trung Quốc quá nhanh, hơn nữa Trung Quốc đang muốn phá vỡ những qui định luật biển đã được Hoa Kỳ và đồng minh xây dựng trong vài trăm năm qua, thông qua những gây hấn, hay phát biểu chủ quyền vô căn cứ. Hoa kỳ cảm thấy không yên tâm, nên đã quyết tâm trở lại Đông Nam Á. Họ luôn phát biểu về an ninh hàng hải quốc tế bởi vì trên Biển Đồng, hàng năm gần 1/3 lượng tầu hàng hóa quốc tế chạy trên hải lộ này.
    Trung Quốc từ đầu năm 2011, cố đánh lừa Hoa Kỳ rằng : Trung Quốc sẽ đảm bảo anh ninh hàng hải quốc tế tốt, nếu Hoa Kỳ đứng ngoài các tranh chấp lãnh hải, công nhận chủ quyền của TQ. Lý luận này tương tự như khẩu hiệu mà Đặng đã tung ra : chủ quyền của TQ, gác tranh chấp cùng khai thác.
    Thượng Nghị Sĩ J.Mc Cain đã hiểu thâm ý của TQ qua những tranh luận sôi nổi trên internet sau vụ TQ cắt cáp tầu Bình Minh 2 và VIKING II của VN. Ông đã thấy những tranh chấp tiềm tàng trong tương lai khi Mỹ có biểu hiện suy yếu mà TQ lúc đó muốn vượt mặt Mỹ. TQ sẽ mượn cớ chủ quyền là của họ và cấm cửa Hoa Kỳ ở Biển Đông. Vậy nghị quyết kêu gọi giải quyết tranh chấp bằng hòa bình là Hoa Kỳ cấm TQ dùng bạo lực chiếm đoạt thêm nữa trên Biển Đông.
    Hơn nữa, nếu Hoàng Sa, Trường Sa trở về với VN, do VN hoàn toàn quản lý thì an ninh hàng hải quốc tế chắc chắn sẽ được đảm bảo hơn, vì VN không có quá khứ bành trướng bất chấp thủ đoạn như TQ hiện nay.
    Mặt khác, Hoa Kỳ còn nhớ là 1974, TQ chiếm của VN Hoàng Sa bằng vũ lực.
    Vậy nói không dùng vũ lực là ám chỉ TQ mà thôi.

    Thứ 2, nói về Việt Nam.

    VN thảo luận về chủ quyền HS,TS với TQ liệu có đòi lại được toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa không.
    Tôi nghĩ là không bao giờ.
    Thế nhân dân Việt Nam có đồng ý chia đôi những gì đang tranh chấp cho TQ một nửa, VN một nửa không?
    Tôi nghĩ không bao giờ.

    Tất cả là của VN.

    CHẤM HẾT.

    VN đã có chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa từ hàng trăm năm nay.
    Của VN, thì VN có quyền đòi lại.
    Đây là quyền phản kháng lại, đánh trở lại, cướp trở lại những gì vừa bị kể cướp cướp đi. Đây là quyền tự vệ bảo vệ lãnh hải thiêng liêng mà không một ai có thể cấm VN làm điều này.
    Hoa Kỳ khi thấy bất an trước khủng bố Bin La Đen, đã mở 2 cuộc chiến tranh xa biên giới mình : Irak và Afghanistang để đảm bảo an toàn cho quốc nội Hoa Kỳ.
    Việt Nam khi bị mất Hoàng Sa, một số đảo của Trường Sa, cũng đang cảm thấy an ninh lãnh thổ quốc nội không đảm bảo.
    Đang cảm thấy ngực VN đang bị muôn họng pháo TQ từ các tầu chiến của họ ngắm vào.

    Vậy ta phải đánh mà lấy lại Hoàng Sa, Trường Sa thôi.
    Không câu nệ những điều Hoa Kỳ nói.
    Thực chất là họ sẽ ủng hộ ta.

    Nên tin vào điều này, và làm bằng được để Hoa Kỳ tin vào điều này.

    Cần phải có kế hoạch tác chiến tốt.
    Hiện nay TQ chưa biết sử dụng tầu sân bay.
    Đừng để họ hút hết dầu hỏa Biển Đông và những đồng đôla này dùng để trang bị cho hải quân của họ.
    Khi ấy VN sẽ gặp kẻ địch mạnh hơn bây giờ nhiều lần. Khi đó hi sinh là lớn gấp nhiều lần.

    Nguyễn Nghĩa.

    • Võ Hưng Thanh says:

      HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

      Hoàng sa và Trường sa thực chất là của VN từ hơn một trăm năm nay, điều đó quá hiển nhiên, không bất kỳ ai có thể phủ nhận. Ngay cả bản thân nhà nước TQ hiện nay cũng vậy. Nhưng chính TQ đã trắng trợn dùng vũ lực công khai chiếm đóng của nước ta từ kể mấy chục năm nay. Tuy họ có dựa vào bản tuyên bố trước kia trong thời kỳ đất nước bị chia cắt của ông Phạm Văn Đồng. Nhưng thực sự họ vẫn thất lý. Như vậy, yêu cầu buộc phải phản công để lấy lại Hoàng sa bằng mọi cách, tới đâu ứng phó tới đó, chính là nghĩa vụ thiêng liêng, cấp bách, và quan trọng nhất của đất nước ta hôm nay. Tới chừng đó, thế giới tất sẽ cũng phải lên tiếng ủng hộ ta, như việc ủng hộ sự công bằng tự nhiên, và công lý. Khi đó, bất kỳ quốc gia nào trong thực tế ủng hộ, giúp đỡ ta, đứng về phía ta, cho dù họ là ai chăng nữa, là cường quốc nào cũng thế, sẽ dĩ nhiên là đồng minh và bạn của ta. Còn ngược lại, chỉ là kẻ xấu hoặc không thân với ta. Chỉ có thế thôi. Vậy chỉ có tiến hành thực tế mới nên kết quả, cho dù bằng mọi giá. Mọi việc biểu tình, ngoại giao hiện nay đối với TQ vẫn chỉ là yếu tố bề ngoài, chưa phải hiệu lực. Việc này không những chính là quyền lợi thực tế, là danh dự của dân tộc, là uy tín của đất nước, mà còn cũng là nghĩa vụ của thế hệ hiện nay đối với tổ quốc, trách nhiệm của nhà nước đối với dân tộc, bổn phận của quân đội đối với tiền nhân. Để bị Trung quốc xâm chiếm Hoàng sa, đó chính là nổi nhục, không thể nào làm ngơ được, không thể nhượng bộ hay hòa hoãn được, mà đây cũng còn là thực tế thật sự hết sức nguy hiểm, bất lợi đối với toàn thể đất nước ta từ bao lâu nay. Một đất nước cứ phải chịu bất công như thế mà không phản công, chỉ có thể cho thấy là một đất nước hèn, điều mà ông cha ta không hề bao giờ dễ dàng chấp nhận. Bằng mọi cách phải lấy lại Hoàng Sa, lấy lại mọi hải đảo bị đánh mất, đó thật sự là mệnh lệnh tự nhiên của tổ quốc, nên không bất kỳ người VN nào có thể nghĩ khác được. Cứ cương quyết và quyết liệt, nhất định sẽ đạt đến kết quả. Nhất thiết không thể để bị khuất phục, nhất thiết không lùi bước, nhất thiết phải đạt kết quả, phải thành công cuối cùng. Vì đây là công lý và chính nghĩa. Không thể nào phải làm khác được. Bằng mọi giá, nhưng nhất định không thể nhu nhược hay bị thất bại. Nếu không, đất nước chỉ tỏ ra yếu hèn và nhu nhược trước cộng đồng quốc tế, làm sỉ nhục chính ông cha ta, trở thành tội lỗi với chính tổ tiên ta.

      Võ Hưng Thanh

  3. Không bao giờ sợ hãi !!! Khanh chết thì Chúa cũng băng hà.Dưa Gan đỏ đít ,quả Cà cũng rụng trôn. Nếu chiến sự do TC phát động xảy ra.Trung cộng có nhiều tử huyệt lộ thiên dễ làm mồi :các đập thủy điện lớn dọc dòng Dương tử, Mekong…nhà mày nguyên tử hạt nhân,hóa chất ,eo biển hàng hải huyết mạch hẹp qua DNA, Tây tạng,Tân cương,Nội mông,Mãn châu luôn sôi sục. Chỉ cần chọt vào đó ,đủ đưa Trung cộng quị gối , gục mặt trở ngược về thời kỳ tiền nguyên thủy nhân loại rồi….

    • NK says:

      Nhưng ai làm được việc này, đâu phải VN yếu ọp mà làm được. VN mãi mãi mất toi hi vọng được mạnh như Nhật, Đức, Hàn quốc … thật sự rồi. Than ôi, bao nhiêu năm tuyên truyền ảo vọng đối với nhân dân.

      NK

  4. Dù nhóm Lú vương xin dâng toàn bộ Đông hải và đất tới sông Thạch hãn cũng không ngăn cơn cuồng vĩ tối mặt tham tàn của trọc phú Tề già cỗi. Không bao giờ sợ hãi ! Dân Vệ ngày càng xuống đường đanh thép lớn tố cáo thói tham lam cùng hung cực hèn trong và ngoài trước nhân loại văn minh nơi đại diện bộ mặt nhem nhuốc Tề quốc. Tiếng hô hào dân Vệ như sấm vang rền.. rền dộng vào tai bè Lú vương tại Ba đình làm chúng hồn phiêu phách lạc co rúm trong Bắc bộ phủ đợi ngày phán quyết.

  5. Đạo Nhân says:

    Hy vọng các hội đoàn người Việt Tự Do tại Hoa Kỳ và các nước Tây Âu hãy biểu lộ sự ủng hộ một cách mạnh mẽ đối với các vị dân biểu đã làm ra nghị quyết cùng tham gia ký tên trong bản nghị quyết này. Đây là việc vô cùng hệ trọng và có nhiều tác động đến sự kiện đã và đang diễn ra từng giờ trong cuộc tranh chấp biển đảo giữa VN-TQ và Hoa Kỳ có liên quan quyền và lợi ích trong biển đông.Rất mong các đảng phái cũng như mọi đoàn thể của người Việt đang sinh sống bên ngoài VN thể hiện lòng yêu nước hãy quan tâm sự kiện trên.Kính,ĐN

  6. Võ Hưng Thanh says:

    VỀ SỰ KIỆN PHẠM VĂN ĐỒNG

    Sự kiện xảy ra đã trên nửa thế kỷ rồi. Thời gian như vậy không gọi là ngắn, cũng không gọi được là dài, đối với thời điểm hiện nay.
    Năm 1958, phía nhà nước TQ đơn phương tự tuyên bố phạm vi lãnh hải của họ là 12 hải lý. Nhưng họ tính thế nào không rõ, vì có ý gian lận, lại bao hàm trong đó cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN. Kể cả ngày nay xem lại, nó còn bao quát hết thảy cả một vùng rộng lớn thuộc lãnh hải rất quan trọng của đất nước VN nói chung nữa. Khi ấy miền Bắc chưa có chiến tranh với Mỹ hay với miền Nam trong thực tế.
    Việc quá sờ sờ vô lý như vậy, đáng lẽ ra, phía VN miền Bắc kh ấy không nên vội vã tuyên bố gì, nếu quả thật đang phải ở trong thế kẹt nào đó. Đáng lẽ phải hoặc là kịch liệt phản đối cương quyết thật sự. Hay nếu không, cũng chỉ cần làm bộ phản đối giả vờ bề ngoài, chiếu lệ cho qua, tùy thuộc theo tình huống, hoặc tình trạng ý chí thực chất khi đó của mình. Đằng này, ông Phạm Văn Đồng, lúc đó trên cương vị là Thủ tướng (của chỉ nửa nước VN) ở miền Bắc, nhưng lại hấp tấp lên tiếng ủng hộ lập trường, quan điểm, và và lời tuyên bố đó của TQ. Trong đó, ông lại còn cam kết là sẽ tích cực chỉ thị cho guồng máy phục tùng bên dưới phải chấp hành nghiêm chỉnh để thực hiện về lời tuyên bố thừa nhận của ông. Đây quả thật, chuyện đúng là có vấn đề. Bởi vì, ông Phạm Văn Đồng khi ấy không thể nào chỉ đơn thương độc mã mà dám tuyên bố một điều nghiêm trọng như vậy đối với đất nước, dân tộc, nhưng ông chắc phải đã tham khảo ý kiến các cấp trên ông, những người lãnh đạo ông; kể cả các ý kiến của bên dưới ông, nơi bộ phận tham mưu của ông; hoặc nói rộng ra, cũng phải với các địa phương khác nhau của miền Bắc. Đó là chưa nói nhất thiết phải hỏi ý kiến của toàn thể nhân dân miền Bắc lúc đó. Đàng này, chỉ thấy duy có lời tuyên bố đơn phương của ông Đồng đáp lại lời tuyên bố đơn phương từ cơ quan phát ngôn TQ vào thời điểm đó. Có nghĩa, tất cả phía VN miền Bắc lúc ấy đều bị kẹt hết. Cấp trên của ông Đồng thì bị kẹt vì ý chí chung của toàn hệ thống quốc tế “phe ta” lúc ấy. Còn cấp dưới của ông Đồng, cũng chỉ là thứ người máy, luôn phải tuân phục răm rắp theo ý chí của ông Đồng, để tự bảo vệ các quyền lợi cá nhân tự nhiên của chính họ. Điều này, cũng không loại trừ đối với toàn thể giới báo chí, truyền thông của miền Bắc; và cả mọi lực lượng vốn được gọi là trí thức XHCN khi đó, của miền Bắc nữa. Hiện tượng PVĐ, như vậy chỉ là hiện tượng độc tài, độc đoán nhất thời của các cá nhân cầm quyền ở miền Bắc lúc ấy; quả tình không đếm xỉa gì đến chính các quyền lợi tự nhiên, lâu dài, và vĩnh cửu, của quốc gia, dân tộc, về mặt lãnh thổ muôn đời của đất nước, như mọi người đều biết cả. Bởi ông Đồng không phải là một người không từng học lịch sử đất nước, không từng biết lịch sử nước nhà, tại sao lại quá ngô nghê, tăm tối, hời hợt, bất cẩn, vô trách nhiệm tột cùng, để dại dột đi tuyên bố việc thừa nhận điều phi lý, nhằm làm thiệt hại chung đến quyền lợi quốc gia, dân tộc, trong tương lai vĩnh cửu về sau này như vậy.
    Điều này, chỉ nói lên sự tai hại của nguyên tắc cai trị đất nước theo kiểu độc đoán, chỉ nói lên sự tai hại của việc đặt ý nghĩa về lý thuyết của “chủ nghĩa” đang được say mê nhất thời, lên trên cả mọi bổn phận, trách nhiệm đối với đất nước, dân tộc, và chính quyền lợi tối cao, tự nhiên nhất, của nước nhà. Nhưng nguy hại hơn nữa, là chính sự kiện nông nỗi ấy, lại bị che lấp, giữ kín, trong suốt gần nửa thế kỷ; vì chỉ có một thiểu số trong quốc nội, và quốc tế, có được thông tin mới biết, trong khi dân chúng nói chung lại mù tịt, toàn dân phần lớn đều chẳng hay gì cả. Đó đúng là hành động coi thường nhân dân, tự đặt mình ngồi lên trên đầu, trên cổ của đất nước, dân tộc, bởi chính cả bản thân của ông Phạm Văn Đồng; bởi khi ấy, ông là Thủ tướng của toàn miền Bắc. Chỉ có mỗi điều, là VN lúc ấy cũng còn có miền Nam độc lập, riêng rẻ đối với miền Bắc, trong ý nghĩa quốc nội, và trên trường quốc tế. Nhất là, toàn bộ lãnh hải của miền Nam khi ấy, trong đó có bao gồm hai hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đều không hề thuộc phạm vi cai quản của ông Đồng. Điều ấy, hoàn toàn có nghĩa lời tuyên bố của ông Đồng khi ấy tuyệt đối không có giá trị thực tế với nước VN ngày nay. Bởi vì, khi ấy chính ông Đồng đã tự ý tuyên bố vượt ra ngoài thẩm quyền thực tế, đích thực, khách quan của mình. Vả lẽ, đối với riêng miền Bắc khi ấy, ông Đồng chỉ ở cương vị Thủ tướng, mà không hề chính thức qua ý kiến của chủ tịch nước, của chủ tịch Quốc hội, hay hỏi ý kiến toàn thể nhân dân miền Bắc lúc ấy gì cả. Cho nên, ngày nay nhìn lại, Phạm Văn Đồng không phải là nhà chính trị thuộc tầm cở quốc gia, đừng nói đến là thuộc tầm cở lịch sử. Thực chất, người ta có thể nhìn thấy được cở ông, chỉ đúng là cở “cán bộ chính trị”, hoạt động theo cung cách của “phong trào”, lâu năm được bốc lên thành lão làng, vốn chỉ do cơ chế độc quyền mà đôn lên, để được ở vào cương vị nắm quyền cấp cao, thế thôi. Bởi những nhà chính trị yêu nước có tầm cở thật sự, nhất thiết đều cần phải có tầm nhìn xa thấy rộng, chỉ biết vì quyền và lợi ích chính đáng của dân tộc, quốc gia, và nhất thiết phải cần có tinh thần, ý thức độc lập, tự chủ mặt bản thân, tức phải biết tự chịu trách nhiệm, trong mọi trường hợp, về những cung cách xử sự quan trọng đối với các quyền lợi chính đáng của đất nước mình. Trong khi đó, trái lại, ông Đồng quả thật đã chỉ biểu lộ thái độ của một con người tầm thường, tuân theo tập thể, không biết tự đấu tranh, không biết tự tỏ ra ý chí độc lập, sáng suốt, hay chỉ có nhu nhược, phục tùng, trong một sự kiện hết sức trọng đại của đất nước như thế. Nói khác đi, ông cũng chỉ là một cá nhân vốn nằm trong hệ thống, phải chịu điều kiện hay sự điều khiển của cả hệ thống, tức phải tự bảo vệ sự sinh tồn và quyền lợi bản thân riêng của ông trong hệ thống đó; kể cả đó còn là hệ thống quốc tế “phe ta” khi ấy. Tức ông chẳng phải là một con người can trường, sáng suốt, hay quả cảm, và có tinh thần yêu nước, yêu dân tộc một cách thật sự. Tức ông có thể chỉ là một cá nhân do thời cuộc mà được, hay bị, vô hình chung, tuần tự phải cuốn hút vào trong toàn thể hệ thống có tính cách nhất thời của một giai đoạn lịch sử nhất định, thế thôi. Nên ngày nay, lỗi lầm, hay tội lỗi đó của ông Đồng, chỉ có thể được xóa đi, hay được chuộc lại phần nào, khi nào mà nhà nước VN hiện nay, hay đất nước VN nói chung sau này, sẽ thu hồi lại được nguyên vẹn Hoàng Sa, như thực tế tự nhiên vốn có của nó, đối với cương thổ của quốc gia. Còn nếu không, đó thật chính là một vết ô nhục ngàn đời, một tội lỗi muôn đời đối với dân tộc VN mà chính bản thân ông Phạm Văn Đồng đã mắc phải. Bởi thực chất khi ấy, ông là một con người chỉ biết sống vì quyền lợi của “chủ nghĩa”, theo kiểu nhất thời, giả tạo, mà không phải là một con người luôn luôn chỉ biết đặt lên cao nhất các quyền lợi tự nhiên, khách quan, vĩnh cửu, muôn đời, của chính quốc gia, dân tộc, đất nước mình.

    Võ Hưng Thanh
    (18/7/11)

    • @ Võ Hưng Thanh !

      Ngắn gọn rõ ràng PVĐ là tể tướng 34 năm theo lệnh y chang HCM TRẦN DÂN TIÊN ký Công hàm bán Nước !

      PVĐ = 1000 lần TRẦN ÍCH TẮC

      HCM TRẦN DÂN TIÊN = 1000 LÊ CHIÊU THỐNG

      • Phan Nguyen says:

        Và đầy đủ hơn phải nói rằng, nó là cái giá phải trả để tìm sự hậu thuẫn của bắc kinh từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp do việt minh cộng sản dẫn dắt cho đến khi quyết tâm “giải phóng” miền nam, cho dù bọn cộng sản đã làm tan hoang cả miền bắc. Nó cho thấy đám cộng sản vn hoàn toàn ngu dốt ngoan cố bị đưa vào tròng bởi những thằng đàn anh để phục vụ cho mục đích riêng của mỗi tên này. Hơn 4000 ngàn năm dựng nước tốn bao xương máu mà chỉ một lần đại họa đưa đẩy thằng kiếm cơm ba thành bị Pháp từ chối cho học trường thuộc địa mà dân tộc ra nông nỗi này. Hãy mở mắt ra đồng bào ơi. Tụi cộng sản vn không có một chủ trương gì hết từ trước đến nay. Chúng chỉ muốn tồn tại giữ quyền hành cho mình mãi mãi. Hãy tự xem lại thằng cáo già mưu sĩ hồ đã mang lại gì cho dân tộc ngoài sự trừu tượng mà phải sử dụng mọi sự tuyên truyền giả dối bao năm. Nó là bản chất thật của chúng. Láo, láo nữa, láo mãi.

    • nt says:

      Tóm gọn, đây là sự nhất thời ngu xuẫn của CS Hà nội!!!

Leave a Reply to Ly Thuong Kiet