|

Phải chăng Chiến Tranh Lạnh đã chấm dứt? [2]

Phần 1

USA-ChinaNhững người cho rằng, từ năm 1991 cho tới nay không còn cuộc tranh hùng tư bản cộng sản nữa, hay nói khác đi là không còn Chiến tranh Lạnh nữa, với những lý do như sau :

Thế giới cộng sản, với sự lãnh đạo của Liên sô, với khí thế mạnh mẽ và to lớn như vậy, nhất là sau Đệ Nhị Thế Chiến, cộng với Phong trào Độc lập, thế mà còn thua, nay mấy nước cộng sản còn lại, tiêu biểu là Trung cộng và Việt nam, không dám nghĩ mình là cộng sản, không có lãnh đạo, ngay cả Trung cộng cũng không dám nhận vai trò này, huống chi những nước như Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba, thì làm sao dám đương đầu với tư bản, trở về Chiến tranh Lạnh.

Tuy nhiên gần đây, với vấn đề vũ khí hóa học ở Syrie, có người cho rằng Chiến tranh Lạnh lại trở lại, qua sự đối đầu Nga – Mỹ : một bên là Hoa Kỳ và Pháp muốn dùng bom hay hỏa tiễn để oanh tạc những căn cứ dự trữ hay chế tạo vũ khí hóa học của Tổng thống Assad, bên kia Nga và Trung cộng nhất định phản đối. Sự kiện này làm cho bang giao giữa Hoa Kỳ và Nga trở nên khó khăn, Tổng thống Obama không muốn gặp riêng Tổng thống Putin, trong cuộc Họp Thượng đỉnh G8, rồi G20 tại Saint Péterbourg thuộc Nga.

Chúng ta hãy cùng nhau xét phải chăng thực sự có chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ – Nga, rồi Hoa kỳ – Trung cộng :

Sự đối đầu Nga – Mỹ qua vấn đề Syrie :

Syrie là một quốc gia Trung Đông, phía bắc giáp Thổ nhĩ Kỳ, phía nam giáp Arabie Sahoudite, phía đông giáp Iran, Irak và phía tây nhìn ra địa trung hải, thủ đô là Damas. Diện tích vào khỏang 185.000 Km2, bằng hơn ½ Việt Nam, dân số là 22,5 triệu dân vào khoảng ¼ Việt Nam, sản lượng hàng năm tính theo đầu người là 3.050 $, tổng sản lượng là gần 65 tỷ $. Lãnh đạo Syrie là một chế độ độc tài quân phiệt hữu, cha truyền con nối, từ bố đến con cách đây cả ba bốn chục năm, chẳng khác nào chế độ độc tài cộng sản tả của Bắc Hàn. Chế độ này vô cùng tàn bạo, đàn áp dân và giết đối lập không gớm tay, tuy nhiên vẫn khoác áo chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa Ả rập. Nội chiến Syrie bắt đầu cách đây hơn 2 năm, vào mùa Cách mạng Ả rập, với những cuộc cách mạng đã xẩy ra ở một số nước Ả rập, như Lybien, Ai cập, Tunisie. Nó bắt đầu bằng một cuộc biểu tình của dân ở thủ đô Damas. Chính quyền của Tổng thống Assad đã dùng công an, cảnh sát và quân đội đàn áp một cách dã man. Cuộc nội chiến bắt đầu từ đó và kéo dài cho tới bây giờ, đã làm cho 110.000 người chết, cả triệu người phải đi tỵ nạn. Nhưng biến cố làm rúng động thế giới, đó là vụ dùng vũ khí hóa học để giết dân vào ngày 21 tháng tám vừa qua.

Hoa kỳ và Pháp có một thái độ cứng rắn, kết án chính quyền Assad là thủ phạm dùng vũ khí hóa học, muốn trả đũa lại. Anh lúc đầu ủng hộ, nhưng chính quyền Anh của Thủ tướng Cameron đã yêu cầu Quốc hội biểu quyết xem có nên can thiệp hay không. Kết quả là không.

Nga và Trung cộng hoàn toàn ủng hộ chính quyền Assad, chống sự can thiệp bằng võ lực của Hoa kỳ và Pháp. Tình hình đã trở nên căng thẳng vì thế có người cho rằng Chiến tranh Lạnh đã trở lại giữa Hoa kỳ và Nga. Mặc dù có sự căng thẳng giữa bang giao Nga – Mỹ, nhưng nói rằng chiến tranh lạnh đã trở lại với Nga – Mỹ thì không đúng. Vì nhiều lý do : Lý do thứ nhất là Nga hiện nay không còn là một siêu cường hạng nhất nữa, mà chỉ là một cường quốc bậc trung. Một vài con số thống kê có thể làm sáng tỏ như tổng sản lượng của Nga là 1.875 tỷ, trong khi đó của Hoa kỳ là 15.000 tỷ. Nga thua cả Trung cộng, 7.000 tỷ,  Nhật, 5.000 tỷ, Đức, 3.000 tỷ, Pháp 2.600 tỷ. Ngân sách quốc phòng của Nga là 53 tỷ, trong khi của Mỹ là 750 tỷ, chỉ gần bằng số lẻ. Kinh tế Nga gần như kiệt quệ, không có khả năng cạnh tranh, chỉ dựa vào việc xuất cảng dầu và khí đốt. Chính quyền thì thối nát, tham nhũng từ trên xuống dưới. Thời gian qua uy tín của Putin đối với dân Nga đã xuống thấp nên Putin tỏ vẻ ra đương đầu với Obama, đương đầu với Hoa kỳ là vì chính trị nội bộ, vì uy tín cá nhân, muốn làm ra vẻ Nga vẫn là một đại cường quốc với mục đích làm tăng uy tín của mình.

Lý do địa lý chiến lược: Lúc còn chiến tranh lạnh, không những còn khối Liên sô và cộng sản, quân đội Nga đóng tại Đông Đức, Ba lan, sát nách với Tây Đức, chỉ trong một thời gian rất ngắn là quân đội Nga có thể đe dọa các nước Tây Âu, và những căn cứ quân sự của Mỹ ở những nước này, nhất là ở Tây Đức. Nay các nước quanh Nga như Ukhaine, Géorgie v.v… đã độc lập, quân Nga để đe dọa các nước Tây Âu, phải di chuyển một chặng đường dài. Nói như một nhà nghiên cứu quân sự  là với một ngân sách quốc phòng 53 tỷ, Nga chỉ đủ dùng để bảo trì một kho vũ khí khổng lồ do Liên sô cũ để lại, không còn sức để bung ra ngoài, nói chi đương đầu với Mỹ hay trở về chiến tranh Lạnh.

Về phía Hoa kỳ thì ông Obama rất là đắn đo trong việc can thiệp quân sự vào Syrie vì ông không muốn trở  thành hình ảnh một tổng thống “chiến tranh “, như nhiều lần ông tuyên bố, vì qua kinh nhiệm Irak, A phú hãn và gần nhất là kinh nghiệm ở Tunisie và Ai cập, sau các cuộc cách mạng, phe Hồi giáo cực đoan lên nắm quyền. Tình hình ở Syrie cón phức tạp hơn nhiều. Phe chống lại chính quyền Assad thì năm phe bảy cánh, mà trong đó những lực lượng khủng bố lại có ưu thế. Tuy nhiên Obama bị đứng trước một tình trạng khó xử. Là một đại cường quốc dân chủ mà làm ngơ trước sự kiện một chính phủ độc tài tàn sát dân mình qua nội chiến đã đi đến cả trăm ngàn người chết và cả triệu người phải đi tỵ nạn. Thêm vào đó, tuy chưa rõ là phía nào dùng vũ khí hóa học, nhưng sự kiện là có việc dùng vũ khí hóa học vào ngày 21/8 vừa qua, đưa đến cả ngàn người chết. Chính vì lẽ này mà phe Cộng hòa ở Thượng cũng như Hạ viện tố cáo Obama không có một đường lối rõ rệt ở Trung Đông, không dám lấy quyết định, quá chần chờ.

Để trả lời lại, Obama yêu cầu thông qua quốc hội để quyết định có oanh tạc Syrie hay không. Việc này là một mũi tên nhằm nhiều mục đích: Về phương diện quốc tế chứng tỏ Hoa kỳ là một nước dân chủ, mặc dầu tổng thống có quyền quyết định ngoại giao, nhưng vẫn hỏi ý kiến cơ quan lập pháp, khác với một số quốc gia, cơ quan hành pháp lấy quyết định một mình. Về phương diện quốc nội, những Nghị sĩ của Đảng Cộng hòa thường trách cứ Obama là không cứng rắn, quá mềm yếu, không chứng tỏ được là một đại cường dân chủ trước sự kiện một chính quyền độc tài đàn áp giết dân của họ, và hơn thế nữa lại vi phạm luật quốc tế đã được qui định cả trăm năm nay là việc cấm dùng vũ khí hóa học. Nếu quốc hội bỏ phiếu chấp nhận, thì đó là một thành công của Obama. Nếu không thì ông có thế tố cáo ngược lại các nghị sĩ Cộng hòa đã tố cáo ông trước đây. Việc này Obama nhằm tạo uy thế cho đảng Dân chủ để sửa sọan cho việc bầu cử lại quốc hội vào năm 2014. Tuy nhiên gần đây Nga đã ép được tổng thống Assad của Syrie chấp nhận phê chuẩn hiệp ước cấm vũ khí hóa học, chấp nhận để cho thanh tra Liên hiệp quốc trở lại Syrie quan sát và hủy bỏ vũ khí hóa học mà chính quyền Assad đang sở hữu.

Nhưng đây cũng chỉ là lý thuyết trên giấy tờ, còn việc trao vũ khí hóa học cho Liên hiệp quốc và phá hủy nó còn là một chặng đường dài. Trong vụ này, nga trở về truyền thống ngoại giao thời đối đầu tư bản – cộng sản của Staline, cứ chấp nhận trên nguyên tắc, nhưng trên thực tế có thể du di hay làm ngược lại. Đấy là chưa nói đến việc để phá hủy những kho vũ khí hóa học này cần đến tiền, theo như tuyên bố của Assad thì là gần một tỷ $. Ai sẽ gánh chịu phí tổn này.Vì vậy nên vấn đề Syrie còn kéo dài và việc quan trọng đó là sau khi Assad sụp đổ,  chính quyền chuyển tiếp nào sẽ cai quản kho vũ khí này. Nếu vũ  khí  hóa học lọt vào những tổ chức khủng bố, thì là một đe dọa to lớn cho thế giới nhất là những nước lân cận, trong đó có Nga.

Sự đối đầu Mỹ – Trung qua vấn đề kinh tế và biển Đông Nam Á. Ngày hôm nay, trước sự kiện Trung cộng là cường quốc kinh tế thứ nhì thế giới nếu tính theo tổng sản lượng với hơn 7.000 tỷ $ một năm, là chủ nợ của Hoa kỳ, Hoa kỳ nợ Trung cộng khoảng 1.200 tỷ, là cường quốc xuất cảng lớn nhất thế giới, trước sự kiện trục kinh tế thế giới hướng về châu Á Thái bình dương, trước sự kiện Trung cộng đưa ra chính sách ngoại giao hàng hải với ”Đường lưỡi bò“, đòi kiểm soát cả vùng biển Đông, nhiều người nghĩ rằng chiến tranh Lạnh không những còn tồn tại giữa Trung Cộng và Hoa kỳ, mà còn đi xa hơn nữa cho rằng chỉ trong vòng mấy chục năm nữa kinh tế Trung cộng bằng kinh tế Hoa kỳ về tổng sản lượng, thì cán cân chiến tranh Lạnh sẽ ngả về phía Trung cộng.

Thực ra nói chiến tranh lạnh vẫn còn giữa Hoa kỳ và Trung cộng, và về sau này sẽ ngả phần thắng về Trung Cộng là nói hơi quá. Đây là quan điểm của những người cho rằng kinh tế quyết định tất cả. Đành rằng kinh tế rất quan trọng, nhưng nó chỉ là điều kiện ắt có để tạo thành một cường quốc, chứ không phải gồm cả yếu tố đủ.
Chúng ta lấy những thí dụ lịch sử, ngay của nước Tàu để chứng minh là vào giữa thế kỷ thứ 18 (1750), tổng sản lượng nước Tàu chiếm 32,8 % tổng sản lượng thế giới, tiếp theo đến đầu thế kỷ 19 (1800), là 33,3 %, đến giữa thế kỷ 19 (1830) vẫn còn là 29,8 %, thế mà vào giữa thế kỷ này, nước Tàu bị liệt cường xâu xé, trong đó có nước Nhật với tổng sản lượng là 2,8 % và nước Nga với 5,6 %. (Thep Paul Kennedy – The Rise and Fall of the Great Powers – trang 190 – nhà xuất bản Fontana Press – 1988).

Đấy là về vấn đề kinh tế, còn vấn đề quân sự và ngoại giao thì sao?

Về vấn đề quân sự ngoại giao, người ta có thể nói Trung cộng hiện nay chưa có thể so sánh với Liên sô thời chiến tranh Lạnh và xa hơn nữa với nước Nhật thời Đệ Nhị thế Chiến. Thật vậy, về ngoại giao, Trung cộng không khôn khéo và xảo quyệt bằng Liên sô thời Staline. Bằng cớ là về đường lối “Đường lưỡi bò “, Trung cộng đưa ra nhưng không tính trước, tính sau, vẫn giữ thái độ của “Thiên triều“ thuở nào, không dè được phản ứng của các nước lân bang, không đo được phản ứng của Hoa kỳ, kết cục Trung cộng chỉ tự cô lập mình, gây thù với tất cả những nước chung quanh. Trung cộng không tiên đoán được rằng, một khi trục kinh tế thế giới hướng về châu Á Thái bình dương, thì biển Đông đóng một vai trò quan trọng, vì trong kinh tế, vấn đề vận chuyển là quan trọng, mà trong đó vận chuyển hàng hải giữ 80 %. Không thể nào thế giới nói chung và nhất là các cường quốc như Hoa Kỳ, Anh, Pháp Đức có thể khoanh tay chấp nhận sự kiện trung cộng khống chế biển Đông, kiểm soát đường vận chuyển quan trọng của thế giới.

Về quân sự, theo con số chính thức thì ngân sách quốc phòng của Trung cộng là 100 tỷ $, con số bán chính thức là 150 tỷ, đứng thứ nhì thế giới chỉ sau Hoa kỳ, hơn cả Nga. Nhưng chúng ta cũng không thể chỉ dựa vào con số này mà suy đoán quá xa. Tình trạng về hải quân Trung cộng còn thua Liên sô thời chiến tranh Lạnh và thua Nhật thời Đệ Nhị thế Chiến. Trong khuôn khổ bài này tôi không thể đi sâu vào chi tiết, tôi chỉ xin nêu ra một vài thí dụ điển hình: về tàu ngầm và hàng không mẫu hạm, tự mình đóng thì Trung cộng đang tiến hành, tốt xấu ra sao, thì chưa rõ; nhưng những tàu ngầm và hàng không mẫu hạm đang dùng là mua của Nga. Riêng về hàng không mẫu hạm đầu tiên mang tên Thi Lang đang hoạt động, thì đây là hàng không mẫu hạm mua của nước Ukhraine. Sau khi đế quốc cộng sản Liên sô sụp đổ, những nước chung quanh Nga trở nên độc lập, trong đó có Ukhraine, được Nga chia phần gia tài về quân sự, và đã cho Ukhraine một chiếc hàng không mẫu hạm do Nga đóng, nhưng có một số nhược điểm về kỹ thuật. Vì điểm này và để duy trì một chiếc hàng không mẫu hạm rất là tốn kém, nên Ukhraine đã rao bán. Trung Cộng mua với giá khoảng 12 triệu $ , nhưng không dưới dạng quốc gia – quốc gia, về quân sự, mà dưới dạng dân sự, do hai sòng bài của Macao, nhưng đứng đằng sau là chính phủ Trung cộng, mua, nói rằng là để làm sòng bài nổi. Một khi mua rồi, Trung cộng sửa thành hàng không mẫu hạm quân sự. Nhưng mục đích chính của hàng không mẫu hạm quân sự là một sân bay, để những máy bay quân sự đáp xuống và cất cánh khi cần, để tấn công địch thủ. Tuy nhiên cho tới giờ này, theo tin tức đáng tin cậy, thìvấn đề hạ cánh máy bay của hàng không mẫu hạm này của Trung cộng vẫn còn là một vấn đề khó khăn. Ở điểm này, ta có thể nói Trung cộng còn thua ngay cả Nhật vào thời Đệ Nhị Thế Chiến. Vào thời đó hàng không mẫu hạm Nhật không thua gì Hoa kỳ.

Gần đây Nhật và ngay cả Ấn độ, mỗi nước cho hạ thủy một hàng không mẫu hạm, do tự mình đóng để cảnh báo Trung cộng, rằng về hải quân, chúng tôi không thua kém mà còn hơn anh. Bởi lẽ đó cho rằng có chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và Trung cộng thì cũng hơi quá đáng. Đồng ý là có sự căng thẳng. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng cộng sản – tư bản chung sống hòa bình.  

Nếu nhìn vào hiện tình xã hội, kinh tế của 2 nước Trung cộng và Việt Nam thì người ta thấy không có gì là cộng sản, mà là «tư bản hơn tư bản«, người dân nhắm mắt chạy theo lợi nhuận, không còn e dè, nể nang một cái gì, ngay cả việc dối trá, lừa lọc, làm hàng giả, sao chép trái phép, đi đến chỗ giết người như vụ sữa Mélanine ở Trung cộng, đầu độc cả trăm ngàn trẻ em. Nhiều người cho rằng Trung cộng và Việt Nam không còn là cộng sản nữa khi bước chân xuống Bắc Kinh, Thượng hải hay Sài gòn, Hà nội với những cửa hàng ngoại quốc và những ngôi nhà chọc trời, đây chỉ là cái nhìn hời hợt bề ngoài, hay là luận điệu đưa ra bởi giới cầm quyền cộng sản để che dấu cái đuôi cộng sản của mình. Nếu xét kỹ, chúng ta thấy hiến pháp của hai nước vẫn ghi rõ lấy triết lý Mác Lê và tư tưởng Mao hay Hồ làm nền tảng. Về chính trị ở hai nước vẫn là độc khuynh, độc đảng, độc tài, vẫn tiếp tục đàn áp dân, vẫn là cộng sản. Sau này có thêm tư tưởng của Đặng tiểu Bình, «Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa«. Đây chỉ là một cách chơi chữ, vì đã là kinh tế thị trường, thì không có định hướng xã hội chủ nghĩa, vì kinh tế xã hội chủ nghĩa là kinh tế nhà nước, không tôn trọng quyền tư hữu, kinh tế thị trường là kinh tế tư nhân, tôn trọng quyền tư hữu. Cho rằng, thời họ Đặng, kinh tế Trung cộng không còn ở trong tay nhà nước là không đúng hoàn toàn, vì kinh tế được phép lọt vào tay Tám Đại Gia, sau đó là con ông cháu cha của những người đang nắm quyền nhà nước.

Tám Đại Gia đó là :

Đặng tiểu Bình, người nói câu : «Mèo trắng hay mèo đen ; miễn là mèo bắt chuột.»

Tướng Vương Chấn (Wang zhen), người đã lo lương thực cho quân đội của Mao.

Trần Vân (Chen Yun), người phụ trách kế hoạch kinh tế khi Mao lên nắm quyền 1949.

Lý tiên Niệm (Li Xiannian), người cốt cán trong mưu đồ làm kết thúc Cách mạng Văn hóa.

Bành Chân (Peng Zhen), người xây dựng lại hệ thống luật pháp Trung cộng sau 1980.

Tống nhậm Cùng (Song Renqion), Trưởng ban tố chức đảng, người giám sát việc phục hồi các cán bộ bị thanh trừng, sau Cách mạng Văn hóa.

Dương thiệu Côn (Yang Shangkun), người ủng hộ mạnh nhất Đặng tiểu Bình trong việc đàn áp Thiên an Môn 1989.

Bạc nhất Ba, cựu Phó Thủ tướng, và là công thần chết cuối cùng ở tuổi 98, vào năm 2007. (Theo Bloomberg).

Ngày hôm nay, tới đời con, đời cháu, Tám Đại Gia này trở thành 80 Đại Gia, thực ra là 103 Đại Gia. Trong lúc 8 Đại Công thần này phỉ báng

chủ nghĩa cá nhân tư sản của các nước tư bản, thì gần một nửa con cháu của họ sống, học tập hoặc làm việc ở nước ngoài, một số ở Hoa kỳ, Úc, Anh và Pháp. Hoa kỳ, nước thiết lập ngoại giao với Trung cộng năm 1979, là điểm tới hàng đầu của con ông cháu cha, nhất là của nhóm Đại công thần. Trong số 8 người thì 3 người có con cháu học ở đại học Harvard, 4 người ở đại học Stanford; đó là 2 đại học nổi tiếng nhất của Hoa kỳ, theo như bảng xếp hạng của đại học Thượng hải năm 2013. Ngoài ra còn rất nhiều người theo học ở những đại học khác.

Theo dữ kiện của Bloomberg cho biết: Có 26 hậu duệ của các Đại Công thần nắm giữ các chức vụ hàng đầu trong các công ty nhà nước thống trị nền kinh tế.

Vào đời con, chỉ riêng 3 người con – con trai tướng Vương Chấn, ông Vương Quân, con rể Đặng tiểu Bình, ông Hà Bình (He Ping) và ông Trần Nguyên, con trai Trần Vân; 3 người con này đứng đầu điều hành các công ty sở hữu nhà nước với tài sản cộng chung khoảng gần 2.000 tỷ $, gần bằng 1/3 tổng sản lượng quốc gia. Ngày hôm nay tới đời cháu, trở thành 103 Đại Gia, trong đó có 43 người điều hành những doanh nghiệp riêng hoặc trở thành giám đốc điều hành trong các công ty tư nhân. «Có ít nhất 18 người con cháu các Đại công thần làm việc ở những hãng xưởng lớn Hoa kỳ, nhất là trong ngành kinh tế tài chính. » (Vẫn theo Bloomberg).

Từ những dữ kiện trên có người cho rằng « Tư bản và cộng sản ngày hôm nay chung sống hòa bình». Nhưng có người ngược lại nghĩ là vẫn còn đấu tranh tư bản – cộng sản, Chiến tranh Lạnh vẫn tiếp diễn, ít nhất là giữa Hoa kỳ và Trung cộng cùng với Việt Nam. Họ đưa ra những lý lẽ sau :

Chiến tranh Lạnh ngày hôm nay không diễn ra dưới hình thức tư bản – cộng sản, mà diễn ra dưới hình thức chiến tranh giữa 2 mô hình tổ chức nhân xã : một bên là mô hình tổ chức nhân xã dân chủ tự do và kinh tế thị trường, một bên là mô hình tổ chức nhân xã độc tài phát xít quân phiệt và kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực vậy, vào thời kỳ sắp chấm dứt Chiến tranh Lạnh Mỹ – Liên sô cuối thập niên 80 đầu 90, ông Francis Fukuyama, một người Mỹ gốc Nhật bản, đã viết quyển sách nổi tiếng «La Fin de l’Histoire et le dernier Homme« (Sự Kết thúc Lịch sử và Con người cuối cùng), (Bản dịch tiếng Pháp – do nhà xuất bản Flammarion, ấn hành năm 1992), đây là một quyển sách nổi tiếng vào thời ấy, nó là đường lối đấu tranh của nhóm Tân bảo thủ Hoa kỳ, theo đó lịch sử nhân loại không phải là lịch sử của những biến cố, mà là lịch sử của tiến trình tổ chức xã hội của loài người đi từ tổ chức thô sơ gia tộc cho tới bộ lạc, qua quân chủ phong kiến tới độc tài phát xít, cộng sản và kết thúc ở mô hình tổ chức nhân xã dân chủ, tự do và kinh tế thị trường.

Mô hình này đã chiến thắng mô hình phát xít, đang chiến thắng mô hình cộng sản (vào thời điểm cuối những năm của thập niên 80), và phải được coi là mô hình tổ chức nhân xã cuối cùng của nhân loại.

Con người cuối cùng là con người của mô hình tổ chức này.

Tư tưởng của Fukuyama đã được Trường phái Tân Bảo thủ theo và áp dụng trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Georges Bush (con ) (2000 – 2004), với những người đi theo mà có thể nói bắt đầu bằng tổng thống, phó tổng thống, bộ trưởng quốc phòng, và thứ trưởng quốc phòng Paul Wolfowick, người làm ra Chiến lược Tiên hạ thủ vi cường, theo đó, vì chống khủng bố, vì lý tưởng tự do dân chủ, Hoa kỳ phải hành động mau lẹ trên thế giới, ngay cả hành động một mình, đã đưa đến việc đổ bộ vào A phú Hãn và đánh Irak. Ông Bush đã tuyên bố “Kẻ nào không là bạn ta, thì là kẻ thù của ta ».

Tuy nhiêm qua kinh nghiệm, ngay chính Fukuyama cũng nhận thấy về tự do dân chủ, phải thực hiện từng bước một và phải để ý đến hoàn cảnh địa lý, lịch sử, tâm lý của từng dân tộc một.

Từ đó nghĩ rằng giới lãnh đạo Hoa kỳ từ bỏ lý tưởng cao đẹp của mình là đi truyền bá mô hình tổ chức nhân xã của Hoa Kỳ trên thế giới, thì không đúng. Với Đảng Dân chủ, đặc biệt với Obama, việc thực hiện này diễn ra dưới hình thức chính trị, kinh tế nhiều hơn.

Giới lãnh đạo và trí thức Hoa kỳ, họ không nói ra, nhưng họ luôn nghĩ rằng cuộc chiến giữa 2 mô hình tổ chức này vẫn tiếp diễn, vì nhiều lý do : Lý do thứ nhất là họ không bao giờ từ bỏ mô hình tổ chức nhân xã của họ, vì họ biết rằng, qua lịch sử đã chứng minh, không những nó giúp họ làm cho đất nước phát triển hài hòa, giúp cho một quốc gia mang nhiều chủng tộc, màu da khác nhau, nhưng vẫn có thể đoàn kết, để thăng tiến. Lý do thứ nhì là chừng nào còn độc tài, dưới hình thức này hay hình thức khác, độc tài cộng sản hay độc tài phát xít, quân phiệt, thì vẫn có sự kình chống giữ 2 mô hình này. Và lý do thứ ba đó là thực tế hiển nhiên, những người, những nhà lãnh đạo theo mô hình tổ chức nhân xã độc tài và kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, miệng rêu rao sự ưu việt của mô hình này, nhưng thực tế là hoàn toàn làm trái lại, bằng cớ mà giới lãnh đạo và trí thức Hoa kỳ họ biết rất rõ, đó là hàng năm số tiền các đại gia, con ông cháu cha, người trong Trung ương đảng và Bộ chính trị gửi sang Hoa kỳ càng ngày càng tăng. Việc này đúng với Trung cộng và Việt Nam : số con em các ông lớn muốn sang Hoa Kỳ du học, đã ghi tên là gần 200.000 người, hiện đang du học là 50.000, đó là Trung Cộng. Việt nam thì số con em, con ông cháu cha, những đại gia là gần 50.000 người ghi tên, hiện là 15.000 người đang du học. Nếu họ nghĩ rằng mô hình tổ chức nhân xã của họ tốt đẹp, thì tại sao chính họ, con cháu họ lại bỏ nước ra đi. Vào năm 2012, theo một cuộc thăm dò «chui «  của tờ Hoàn cầu thời báo, thì 63% dân số Trung cộng mong muốn thể chế dân chủ như kiểu tây phương ở xứ họ. Cũng trong năm này, trước khi thăm viếng một số nước Đông Nam Á, để xác nhận lập trường Hoa Kỳ sẽ trở lại Châu Á Thái bình dương, bà Ngoại trưởng Hilary Clinton có tuyên bố: «Trung cộng sẽ sụp đổ. Họ đang lo lắng và họ định ngăn chặn lịch sử. Đó là việc làm vô ích, họ không thể làm được điều đó. Nhưng họ đang cố duy trì, kìm hãm càng lâu như có thể… Họ đang làm trò cười.”

Cuộc tranh hùng Mỹ Trung, ai sẽ thắng ai ?

Chúng ta không cần lý luận dài dòng, tìm lý do sâu xa, chúng ta chỉ cần dùng một hình ảnh dễ hiểu, đó là chúng ta có thể so sánh một chế độ như một cái cây, những người lãnh đạo và con cháu là những người đứng dưới gốc cây, hưởng bóng mát của nó; nhưng thay vì mang đất ở ngoài vun vào gốc cây, lại đào đất ở gốc cây thảy ra ngoài, bằng cách gửi tiền, cho con cháu ra học nước ngoài rồi không về, thì sớm muộn cái cây sẽ trốc gốc. Vì vậy chế độ Trung cộng và Việt Nam, hay nói khác đi mô hình tổ chức nhân xã độc tài, độc khuynh, độc đảng, với nền kinh tế mâu thuẫn, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sẽ sớm sụp đổ. Sụp đổ không vì ai đánh mà chính là người của chế độ, con cháu của chế độ.

Nói như ông Lê xuân Tá, cựu Phó Chủ tịch Ủy Ban khoa học và Kỹ thuật Đảng Cộng sản Việt nam, sau đó bỏ đảng, vào những năm 90:

«Sự ngu dốt và sự thấp hèn, tự nó không đáng trách và không làm nên tội ác. Nhưng sự ngu dốt và thấp hèn mà được được trao quyền lực và được cấy vào vi trùng ghen tỵ, thì nó trở thành quỷ nhập tràng. Và con quỷ này, nó ý thức rất sớm và rất rõ rằng cái đe dọa quyền và lợi của nó chính là sự hiểu biết, văn hóa và văn minh. Nên nó đã đánh những thứ này một cách tàn bạo, vô nhân đạo và không thương tiếc. Cách mạng Hồng vệ binh ở bên Tàu là thế, vụ Nhân văn Giai phẩm ở Việt Nam là vậy». « Tuy nhiên vì nó là ngu dốt và thấp hèn, nên những thứ này lâu ngày đã trở thành sỏi thận, sỏi mật, sơ gan, cổ chướng, trong lục phủ ngũ tạng của chế độ, làm cho chế độ này không ai đánh mà tự chết«. (1)

Câu trên cũng chỉ đúng một phần, vì nhìn vào lịch sử nhân lọai, những chế độ, triều đại sụp đổ là tự mình làm mình sụp đổ trước, rồi cũng phải có sức mạnh bên ngoài làm sụp đổ sau. Như đế quốc cộng sản Liên sô gần đây, tự mình làm yếu mình trước, vì đi theo triết lý Mác Lê, phản tự nhiên, phản kinh tế, lại đua đòi chạy đua vũ trang, đòi thắng tư bản, sau đó Hoa kỳ mới tiếp tay làm sụp đổ.

Ngày hôm nay, Trung cộng và Việt Nam, vẫn còn giữ căn bẳn triết lý Mác Lê, như hiến pháp của 2 nước này qui định, chỉ thêm « kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa «  là một nghịch lý, đi theo chủ nghĩa tư bản một cách rừng rú, không luật lệ, làm hàng giả, sao chép trái phép, cạnh tranh bất chính, thêm vào đó, một số dân, trí thức và lãnh đạo vẫn đi theo duy vật chủ nghĩa, ở chỗ thấp hèn nhất, không coi trọng đạo đức, giá trị tinh thần, đưa đến chỗ làm bất cứ chuyện gì, kể cả bán nước, đầu độc nhân dân, để có «vật chất« , có tiền, « Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng. Quan trọng là nó bắt chuột « . Chính vì vậy mà xã hội Trung cộng và Việt Nam xuống cấp trầm trọng về giá trị tinh thần. Đó là lý do nội tại, tự mình làm mình yếu trước. Yếu đây không chỉ có nghĩa là yếu về kinh tế, mà yếu về đủ mọi mặt.

Lý do ngoại tại, đó là một sức mạnh bên ngoài tới làm sụp đổ sau. Đây chỉ có thể là Hoa kỳ, vì tự nguyên tắc hai mô hình tổ chức xã hội, một bên là dân chủ tự do, kinh tế thị trường, bên kia là độc khuynh, độc đảng, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong bản chất đã kình chống nhau. Chúng ta có thể nói đây là Chiến tranh Lạnh, dưới một dạng khác.

Nói như vậy, không có nghĩa là những người dân Trung cộng và Việt Nam, đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền khoanh tay ngồi chờ. Hãy cố gắng đấu tranh mạnh hơn, để thúc đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa cho quê hương, để bắt kịp đà tiến bộ của nhân loại là đa khuynh, đa đảng, tôn trọng dân chủ, tôn trọng nhân quyền.

Paris ngày 17/10/2013

© Chu Chi Nam

© Đàn Chim Việt

—————————————

(1)               Xin xem thêm những bài về Marx, Việt Nam và Trung cộng, trên : http://perso.orange.fr/chuchinam/

Tags:

Phản hồi