|

Y sĩ nhảy dù Tô Phạm Liệu- Ra đi không mang va li

Cách ðây ðã lâu, lâu lắm, gần 40 nãm về trước, mà tôi vẫn cảm thấy như ngày hôm qua, vào một buổi chiều thứ Bảy giữa mùa hè tôi gặp Tô Phạm Liệu lần ðầu tiên ở Colorado, anh ði theo một số bạn bè từ Denver xuống Colorado Springs thãm tôi.  Qua Mỹ chưa ðầy một nãm, khi ðó vợ chồng tôi còn rách như xơ mướp. Vợ tôi tận tụy, bươn chải, còn tôi ði làm part time ðể dành thì giờ cắp sách ði học thêm ở University of Colorado. Chúng tôi thuê một cãn nhà nhỏ ở gần hồ  Prospect Lake,  cách thành phố Denver  khoảng 75 dặm. Cãn nhà có gian bếp nhỏ nhắn, cũ kỹ, chỉ ðủ chỗ cho hai vợ chồng tôi và ðôi, ba người khách ngồi ãn cơm thanh ðạm là cùng, thế mà bạn bè cuối tuần cứ ùn ùn kéo tới.  Cứ tự nhiên như người Hà Nội, như ãn nhà hàng La Pagode (ãn chùa), chẳng cần thắc mắc ðiều chi.

Không ðủ chỗ thù tiếp ðám bạn, có khi lên tới hàng chục người từ xa tới, chúng tôi phải trải tấm vải nhựa xuống mặt thảm giữa phòng khách, chén chú, chén  anh, chén thù, chén tạc.  Bắt chước người xưa: “Dục phá thành sầu dụng tửu binh”.  Cái sầu mất nước, cái sầu bỏ lại vợ con, cha mẹ, bỏ lại bạn bè.  Cái sầu phiêu lạc nơi ðất khách quê người, cái sầu ðang ðánh ðấm tưng bừng mà sao bỗng nhiên có những ông xếp lớn chợt nhiên lỉnh mất, sau những câu hứa hẹn chắc như cua gạch là sẽ ở lại chiến ðấu tới cùng . . .

Trong ðám bạn bè hôm ðó có dãm ba người phi công, hai ba chàng hải quân và mấy ông lính nhảy dù.  Ðầy ðủ Hải, Lục, Không quân.  Mặt mũi tên nào cũng còn trẻ mãng, chỉ mới xấp xỉ ba bó.   Trong số ðó có lẽ Tô Phạm Liệu là lớn hơn cả, khi ấy anh khoảng 35 tuổi.  So với tụi tôi dù tuổi tác, học hành bằng cấp có phần chênh lệch nhưng anh chẳng hề câu nệ.  Không quân và Nhảy Dù như có một cái liên hệ tình cảm ðặc biệt, chỉ sau một vài ly sương sương là bắt ðầu mày tao, chi tớ, coi như là bạn vàng biết nhau từ thuở còn ở truồng tắm mưa.  Chúng tôi ngồi uống rượu tới gần sáng, nói chuyện ðời lính, chuyện trên trời dưới ðất, ngậm ngùi nhắc tới bạn bè vắng mặt, khật khù bên ly rượu mắt ngấn ðỏ. Cũng có ðôi khi cười vỡ nhà với những câu chuyện bù khú.  Tô Phạm Liệu uống rượu không biết say, nói chuyện không biết mệt, anh thao thao bất tuyệt:

“Tao là lính Nhẩy Dù.   Ông về từ Charlie mùa hè ðỏ lửa 72 ðó mày biết không?  Tụi mày thả bom ðược ðấy, chì lã́m, A-1 và A-37 mỗi lần ðánh ðề bỏ hết bom và bã́n ðến viên ðạn cuối cùng dù phòng không hỏa tiễn của vẹm bã́n lên như mưa. Tao thấy thằng A-1 bị trúng hỏa tiễn mà thương nó, tàu nó cháy bùng giữa không gian rồi cã́m xuống bên sườn ðồi . . . Hình như cái thằng thiếu úy ðẹp trai, trẻ mãng sắp lấy con gái tiệm ãn Hương Giang gì ở Pleiku thì phải ? . . . Chúng mày ðừng cứ gọi ông là bác sĩ, bác sĩ ðếch gì! Ông là lính nhẩy dù:  “Ra ði không mang va-ly, quần áo cứ thế ðút túi . . .
oOo

Tô Phạm Liệu dáng người khá to lớn, ðẹp trai, trắng trẻo, nói chuyện dí dỏm, có duyên.  Khi mới gặp, tôi không ngờ anh là lính tác chiến, Y sĩ trưởng Tiểu ðoàn 11 Nhẩy dù, vì trong ðầu óc tôi vẫn in ðậm hình ảnh những người lính trận phải mang nét mặt sạm nắng, gân guốc, phong trần.  Ðâu có ai dáng dấp phong nhã như Tô Phạm Liệu “gươm ðàn nửa gánh, non song một chèo”, bao nãm trấn thủ lưu ðồn ở Vùng II Chiến Thuật, ðầy tâm hồn vãn nghệ, xúng xính thơ phú.

Từ trái sang phải: Tô Phạm Liệu, Phạm Chí Thăng,  Phạm Chí Bảo, Lê Trung Hiếu

Từ trái sang phải: Tô Phạm Liệu, Phạm Chí Thăng,
Phạm Chí Bảo, Lê Trung Hiếu

Tuy cùng một tên họ với thi sĩ Tô Ðông Pha làm quan dưới ðời nhà Tống bên Tầu, lừng danh kim cổ với hai bài phú Tiền Xích Bích và Hậu Xích Bích, nhưng ông quan tu-líp họ Tô tên Liệu, dù mê thơ nhưng không có tài làm thơ, ông chỉ thích kể lại thời oanh liệt, chuyện “Tiền ðồn Charlie” và “… Hậu ðồn Charlie”, mà mỗi lần nhắc tới người nghe như cảm ðược nỗi ngậm ngùi trong từng tiếng nói, ðau xót trên từng thớ thịt khi nhắc ðến tên bạn bè.

Ðốc tờ Tô có biệt tài ðọc thơ, ðọc phú, dù thơ phú lượm lặt ở những buổi trà dư tửu hậu, hay tự phịa ra, chẳng câu nệ cú pháp, anh vẫn làm cho mọi người thích thú vì luôn hàm chứa tính hài hước, tiếu lâm.  Những lần bạn bè họp mặt có anh là không khí trở nên vui nhộn, sống ðộng, dù các bà khó tính, giữ chồng như giữ của, mặt mũi lúc nào cũng ðăm chiêu, nhãn nhó kinh niên, cũng ôm bụng cười hả hê, cười chảy cả nước mắt, cười bò ra sàn nhà. Và dù ông chồng có mạ̃t lỳ mày lợm có ngồi lại ðụng ly, ðụng chén với bạn bè tới sáng, say ngỏm củ teo, những bà thuộc loại chằng lửa cũng chẳng lườm, chẳng nguýt, chẳng mặt nặng, mày nhẹ, mặt xưng, mày xỉa. Chẳng ðanh ðá chua cay xỉa xói bạn bè.

Trong cái chặng ðường phiêu bạt của cuộc ðời di tản buồn thê lương của người lính chiến buộc lòng rũ áo, một nhóm bạn bè cũ, mới, bỗng nhiên cảm thấy gần gũi nhau, thương nhau hơn. Thương cho thân phận lãng nhách ðột nhiên bị ðẩy vào giữa cái xã hội vàng thau lẫn lộn, bạc tình, bạc nghĩa, ãn cháo, ðá bát, qua cầu rút ván, coi ðồng ðô la to bằng cái bánh tráng.  Mấy mợ gặp nhau thì khoe khoang, ganh tỵ:  Hột chị nhỏ, hột em to, hột chị tròn, hột em méo, hột em trã́ng, hột chị ðen . . . Trước cái sự lố lãng trong ðời tha phương ðó, Tô Phạm Liệu  tức cảnh sinh tình, anh thường châm chọc:

Chồng chị giầu chị đeo vàng, đeo ngọc
Chồng em nghèo em nắm chắc con cu
Một mai bóng xế trăng lu,
Ngọc vàng chị mất mà con cu em vẫn còn.

Anh hay cất giọng cười sảng khoái sau những lần ngâm thơ tiếu lâm như vậy, hoặc những khi nhái thơ ông Nguyên Sa:

Nắng Saigon anh đi mà chợt “rét”
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông
“Lụa Hà Ðông 5 ngàn đồng một thước
Mà sao em nỡ xé 4, 5 mầu”

Anh vui với ðời sống bình dị, không ðua ðòi, chỉ thích gần bạn bè nhất là những người với anh ðã một thời lao vào lửa ðạn trong cuộc chiến tàn khốc, cố gìn giữ phần ðất miền Nam tự do.  Tôi nhớ có dạo anh lên một bệnh viện thuộc một thành phố nhỏ phía bắc Dakota ðể tu nghiệp ngành chuyên môn, nhưng chỉ 3 tháng sau anh bỏ dở, quay về lại Denver.  Trước khi anh ði tôi cũng ðoán trước ðược ðiều ðó.  Tô Phạm Liệu không thể sống thiếu bạn bè.

Anh cảm thấy thoải mái khi ngồi quay quần, không kiểu cọ, khách sáo giữa ðám bạn thân tình cười nói tự nhiên.  Nhưng cũng có ðôi khi tôi chợt thấy anh ngồi thừ người trước ly rượu, mắt nhìn vào bóng tối mông lung bên ngoài khung cửa sổ.  Như nỗi ðau buồn nào từ những ngày tháng xa xưa bỗng dưng trở lại mà những ly rượu cay, những tiếng cười rộn rã không ðủ che giấu những vết thương nhức nhối trong lòng.  Hình ảnh ðồn Chalie và người anh cả Trung tá Nguyễn Ðình Bảo mà chính tay anh ðã bãng bó trước khi hy sinh, những ðêm bãng rừng lội suối, dìu ðồng ðội bị ðầy thương tích, mà anh nhiều lần nhắc tới, như hiện về trong ký ức.  Anh thường cất giọng ngâm bài “Nhớ rừng” của Thế Lữ:

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
…………..
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta ðợi chết mảnh mặt trời gay gắt.
………
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Hoặc ðôi khi ðập tay xuống bàn, mắt trợn trừng nhìn vào bóng tối, ngâm bài “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm:

Ðưa người ta không ðưa qua sông 
Sao có tiếng sóng ở trong lòng? 
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt, 
Sao ðầy hoàng hôn trong mắt trong?
 
Ðưa người, ta chỉ ðưa người ấy 
Một giã gia ðình, một dửng dưng…
 
Ly khách! Ly khách! Con ðường nhỏ, 
Chí lớn chưa về bàn tay không, 
Thì không bao giờ nói trở lại! 
Ba nãm mẹ già cũng ðừng mong.
……………….

Người ði? Ừ nhỉ, người ði thực! 
Mẹ thà coi như chiếc lá bay, 
Chị thà coi như là hạt bụi, 
Em thà coi như hơi rượu say.
 
Mây thu ðầu núi, gió lên trãng
Cơn lạnh chiều nao ðổ bóng thầm. 
Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng ðời xô ðộng, tiếng hờn cãm. 
Khoảng giữa nãm 1981, Tô Phạm Liệu hành nghề ở một bệnh viện sát biên giới hai tiểu bang Kansas-Colorado.  Dù ở cách xa Denver trên 200 miles, nhưng gần như mỗi tuần anh ðều lái xe về Denver, chúng tôi một nhóm bạn bè lại hú nhau tụ tập, chén chú, chén anh, chuyện trò thâu ðêm suốt sáng.

Vào cuối thập niên 1980 anh ðổi ði làm việc ở một bệnh viện cựu chiến binh ở thành phố Alexandria, Louisiana, chúng tôi ít có dịp gặp lại nhau, chỉ thỉnh thoảng gọi ðiện thoại hoặc nhắn tin thãm hỏi.  Lần chót tôi gặp lại anh vào mùa hè nãm 1993, anh trở lại  Denver  thãm bạn bè và ðó có lẽ cũng là lần cuối chúng tôi ngồi chung bàn tiệc với nhau.  Sức khỏe Liệu suy sụp một cách nhanh chóng, trông anh gầy hẳn ði vì bệnh gan tàn phá cơ thể.  Mùa hè nãm sau, tôi lo lắng gọi ðiện thoại hỏi thãm, giọng anh yếu ớt, mệt mỏi.   Tuy vậy, tôi vẫn còn nghe tiếng cười ngạo nghễ từ ðầu dây bên kia: “Tao là lính Dù. Tao không dễ chết ðâu mày.  Ông ðếch sợ, ông còn chống cự dài dài, còn lâu ông mới ngỏm”.  Tôi hứa sẽ có dịp ghé thãm anh.  Anh dặn dò: “Mày xuống ðây tao gọi thằng em LXN, thằng KQ viết vãn của tụi mày ở dưới New Orleans, nó làm ðồ nhậu hết xẩy, thỉnh thoảng vẫn bê lên tao một bao crawfish ngồi lai rai cả buổi. Anh còn thách thức: “. .  . Mày ðừng lo, ông bệnh nhưng ông vẫn uống như rồng . . . Sư mày.   Xuống ðây.   Còn lâu ông mới uống thua mày.”

oOo

Tô Phạm Liệu vĩnh biệt bạn bè ra ði vào giữa ðêm 29 tháng 7, 1997.  Tôi không ngờ anh ði mau như vậy.  Tôi ân hận mãi vì thời gian ðó phải ði công tác xa nhà liên miên nên không xếp ðặt thì giờ ðể thãm anh ðược.

Thời giai trôi qua như bóng câu, nào ngờ thấm thoát ðã ngần ấy nãm cách biệt.  Có những buổi chiều cuối tuần vắng lặng, tôi ngồi một mình, chợt nhớ tới anh, sao cảm thấy trống vắng lạ lùng.  Tôi nhớ những chiều thứ Bảy, dáng Tô Phạm Liệu lừng lững trong bộ ðồ hoa dù, chiếu mũ ðỏ ðội lệch trên trán, bước ngang khu sân cỏ trước nhà tôi với một ðám bạn bè, hớn hở cười nói.  Tôi nhớ những ðêm ngoài trời tuyết giá, tôi say mèm, người mềm như sợi bún, tửu lượng tôi chẳng thể so bằng Liệu nên thường hay thua cuộc. Tôi nằm trên ghế salon nửa tỉnh, nửa mê, anh ðến gần ân cần ðắp nhẹ chiếc mền lên ngực tôi: “Ngủ ði mày, sáng mai nhậu tiếp. Mẹ…cái thằng dở ẹt, chưa nhậu ðã xỉn”.

Người Y sĩ yêu thương ðồng ðội, người lính Mũ Ðỏ can trường Tô Phạm Liệu:  “Ra ði không mang va-ly, quần áo cứ thế ðút túi… ” dọc ngang một ðời chiến ðấu lẫm liệt không sợ hòn tên, mũi ðạn, nhưng số mệnh khã́c nghiệt ðã quật anh nã̀m xuống sau cơn bệnh ngạ̃t nghèo. Anh sớm chia tay bạn bè vĩnh viễn, ra ði chẳng cần hành trang.  Ngoài hình bóng người vợ trẻ, ðứa con thơ, chắc chắn anh còn mang theo tình bạn bè, tình chiến hữu, tình những người lính Mũ Ðỏ một thời cùng nhau ngang dọc, ðạp gót bốt ðờ sô lên không gian, coi cái chết tựa lông hồng.   Tôi cũng tin rằng nếu khi ra ði mà ðược chọn lựa, anh sẽ chọn chiếc áo hoa dù và cái Mũ Ðỏ ðút túi mang theo, mãi mãi như hành trang quí báu về bên kia thế giới.

Và dù có yên nghỉ nơi nào, nếu còn ðược nghe tiếng phi cơ khu trục bay ngang trời chắc hã̉n anh cũng ðưa tay vẫy chào . . . Vẫy tay chào nhau, những người ðã một thời chiến ðấu hiên ngang, chiến ðấu hết lòng cho phần ðất tự do nhưng phải buông tay trước số mệnh nghiệt ngã của quê hương.

Viết Nhân Ngày Quân Lực VNCH 19 Tháng 6.

Hoàng Gia Viễn      

Phản hồi