|

Thư ngỏ gửi BCH TW và toàn thể đảng viên ĐCSVN

bo tu 2Ngày 28 tháng 07 năm 2014

Kính gửi: Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc. Đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh.

Trong khi đó, giới lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi mưu đồ đặt nước ta vào vị thế lệ thuộc, phục vụ lợi ích của Trung Quốc. Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay, Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Gần đây, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, Trung Quốc có nhiều hành vi leo thang mới trong mưu đồ xâm lược và bá chiếm Biển Đông, coi Việt Nam là mắt xích yếu nhất cần khuất phục trước tiên. Thực tế bóc trần cái gọi là “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” chỉ là sự ngộ nhận và “4 tốt, 16 chữ” chỉ là để che đậy dã tâm bành trướng. Cho đến nay, thế lực bành trướng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong mưu đồ biến Việt Nam thành “chư hầu kiểu mới” của họ.

Thực trạng đau lòng này phơi bày sự yếu kém cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo đảng và nhà nước trong thời gian qua.

Toàn thể ĐCSVN, trong đó có chúng tôi, phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về tình hình nói trên và phải góp phần tích cực khắc phục những sai lầm đã gây ra; trong đó phần trách nhiệm chủ yếu và trước hết thuộc về Ban Chấp hành Trung ương và Bộ chính trị.

Vì vậy chúng tôi, những người ký tên dưới đây, thấy cần bày tỏ suy nghĩ của những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng với mấy yêu cầu chính dưới đây:

1. Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, với trách nhiệm và vị thế của mình, ĐCSVN tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa. Ngay từ bây giờ, cần thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc bá chiếm Biển Đông, vạch ra con đường chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay, xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ. Chỉ có như vậy mới phát huy được sức mạnh trí tuệ, tinh thần và vật chất của dân tộc Việt Nam, tăng cường được đoàn kết, hòa hợp dân tộc và tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Quan điểm nêu trên cần được thấu suốt và thực hiện ngay trong việc chuẩn bị và tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ, đáp ứng được yêu cầu chính trị của đại hội. Đó là trách nhiệm của các tổ chức đảng các cấp và của từng đảng viên có tinh thần yêu nước. Đồng thời, kỳ bầu cử Quốc hội sắp tới phải thật sự dân chủ, tạo lập một Quốc hội chuyên nghiệp, xứng đáng đại diện cho dân, đáp ứng yêu cầu lập pháp chuyển đổi thể chế chính trị.

Việc cần làm ngay để thể hiện sự thực tâm chuyển đổi thể chế chính trị, tạo niềm tin trong dân là các cơ quan công quyền chấm dứt các hành động sách nhiễu, trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước, đối với các tổ chức xã hội dân sự mới thành lập, trả tự do cho những người đã và đang bị kết án hình sự chỉ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình.

2. Lãnh đạo đảng và nhà nước thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa thuận, hợp tác bình đẳng, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v…

Việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta. Đồng thời, Việt Nam cần chủ động cùng với các nước ven Biển Đông thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển với các đảo, bãi đá; củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình.

Quan điểm “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi.

Tổ quốc đang lâm nguy đồng thời đứng trước cơ hội lớn để thay đổi! Trách nhiệm của các đảng viên yêu nước là phải cùng toàn dân nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Bỏ lỡ cơ hội này là có tội với dân tộc!

DANH SÁCH CÁC ĐẢNG VIÊN KÝ THƯ NGỎ GỬI BCH TW
VÀ TOÀN THỂ ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
______________________
1. Nguyễn Trọng Vĩnh, vào Đảng năm 1939, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương Đảng khóa III, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội.
2. Đào Xuân Sâm, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng khoa Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
3. Trần Đức Nguyên, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng ban Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
4. Nguyễn Văn Tuyến, vào Đảng năm 1946, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
5. Lê Duy Mật, vào Đảng năm 1947, Thiếu tướng, nguyên Tư lệnh phó, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu II, Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang 1979 – 1988, Hà Nội.
6. Tạ Đình Du (Cao Sơn), vào Đảng năm 1948, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
7. Vũ Quốc Tuấn, vào Đảng năm 1948, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
8. Nguyễn Hữu Côn, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên Tham mưu trưởng Hậu cần Quân đoàn 2, Hà Nội.
9. Hoàng Hiển, vào Đảng năm 1949, nguyên Trung tá Hải quân, Hà Nội.
10. Đỗ Gia Khoa, vào Đảng năm 1949, nguyên cán bộ cơ quan Bộ Công an và Tổng cục Hải Quan, Hà Nội.
11. Hà Tuân Trung, vào Đảng năm 1949, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Tổng biên tập tạp chí Kiểm tra, Hà Nội.
12. Nguyễn Thị Ngọc Toản, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Giáo sư, Cựu Chiến binh, nguyên Chủ nhiệm khoa, Quân Y viện 108, Hà Nội.
13. Phạm Xuân Phương, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội.
14. Tô Hòa, vào Đảng năm 1950, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng.
15. Võ Văn Hiếu, vào Đảng năm 1950, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam.
16. Hoàng Tụy, vào Đảng năm 1950, Giáo sư Toán học, Hà Nội.
17. Huỳnh Thúc Tấn, vào Đảng năm 1951, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Hà Nội.
18. Tạ Đình Thính, vào Đảng năm 1951, nguyên Vụ trưởng Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
19. Nguyên Ngọc, vào Đảng năm 1956, Nhà văn, nguyên Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Hội An.
20. Tương Lai, vào Đảng năm 1959, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP. Hồ Chí Minh.
21. Nguyễn Khắc Mai, vào Đảng năm 1959, Giám đốc Trung tâm Minh Triết, Hà Nội.
22. Đào Công Tiến, vào Đảng năm 1960, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.
23. Vũ Linh, vào Đảng năm 1962, nguyên Chủ nhiệm chương trình PIN mặt trời, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội.
24. Nguyễn Kiến Phước, vào Đảng năm 1962, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân, TP. Hồ Chí Minh.
25. Nguyễn Thị Ngọc Trai, vào Đảng năm 1963, nhà báo, nhà văn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội
26. Võ Văn Thôn, vào Đảng năm 1965, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
27. Nguyễn Trung, vào Đảng năm 1965, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Hà Nội.
28. Huỳnh Kim Báu, vào Đảng năm 1965, nguyên Tổng thư ký‎ Hội Trí thức yêu nước TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
29. Hạ Đình Nguyên, vào Đảng năm 1965, nguyên Chủ tịch Ủy ban phối hợp hành động Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.
30. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), vào Đảng năm 1966, nguyên thư k‎ý của Bí thư Thành ủy Mai Chí Thọ, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
31. Lê Công Giàu, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại, đầu tư TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
32. Kha Lương Ngãi, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP. Hồ Chí Minh.
33. Tô Nhuận Vỹ, vào Đảng năm 1967, nhà văn, nguyên Bí thư Đảng Đoàn kiêm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
34. Phạm Đức Nguyên, vào Đảng năm 1968, Phó Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây dựng, 46 tuổi đảng, Hà Nội.
35. Bùi Đức Lại, vào Đảng năm 1968, nguyên Vụ trưởng, chuyên gia cao cấp bậc II, Ban Tổ chức trung ương Đảng, Hà Nội.
36. Lữ Phương, vào Đảng năm 1968, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
37. Nguyễn Lê Thu An, vào Đảng năm 1969, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP. Hồ Chí Minh.
38. Nguyễn Đăng Quang, vào Đảng năm 1969, Đại tá công an, đã nghỉ hưu, Hà Nội.
39. Trần Văn Long, vào Đảng năm 1970, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
40. Nguyễn Thị Kim Chi, vào Đảng năm 1971, Nghệ sĩ ưu tú, Đạo diễn điện ảnh, Hà Nội.
41. Huỳnh Tấn Mẫm, vào Đảng năm 1971, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh.
42. Võ Thị Ngọc Lan, vào Đảng năm 1972, nguyên cán bộ công an TP. Hồ Chí Minh.
43. Hà Quang Vinh, vào Đảng năm 1972, cán bộ hưu trí, TP. Hồ Chí Minh.
44. Nguyễn Đắc Xuân, vào Đảng năm 1973, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nguyên Trưởng Đại diện báo Lao Động tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, TP. Huế.
45. Lê Đăng Doanh, vào Đảng năm 1974, Tiến sĩ Kinh tế học, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
46. Chu Hảo, vào Đảng năm 1974, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
47. Nguyễn Xuân Hoa, vào Đảng năm 1974, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
48. Nguyễn Vi Khải, vào Đảng năm 1974, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, 40 tuổi đảng, Hà Nội.
49. Cao Lập, vào Đảng năm 1974, nguyên Bí thư Đảng ủy ngành Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh.
50. Lê Thân, vào Đảng năm 1975, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh SG-Riversite, TP. Hồ Chí Minh.
51. Ngô Minh, vào Đảng năm 1975, nhà báo, nhà văn, TP. Huế.
52. Trần Kinh Nghị, vào Đảng năm 1976, cán bộ Ngoại giao về hưu, Hà Nội.
53. Hồ An, vào Đảng năm 1979, nhà báo, TP. Hồ Chí Minh.
54. Đoàn Văn Phương, vào Đảng năm 1979, nguyên chiến sĩ thuộc Ban Giao lưu trung ương Cục, TP. Hồ Chí Minh.
55. Hồ Uy Liêm, vào Đảng năm 1980, nguyên Quyền Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.
56. Trần Đình Sử, vào Đảng năm 1986, Giáo sư Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội.
57. Lê Văn Luyến, vào Đảng năm 1987, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
58. Nguyễn Gia Hảo, vào Đảng năm 1988, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
59. Phạm Chi Lan, vào Đảng năm 1989, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
60. Đào Tiến Thi, vào Đảng năm 1997, Thạc sĩ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
61. Nguyễn Nguyên Bình, vào Đảng năm 1996, Trung tá, cựu chiến binh, Hà Nội.

Nguồn: BVN

19 Phản hồi cho “Thư ngỏ gửi BCH TW và toàn thể đảng viên ĐCSVN”

  1. Tư Heo says:

    Nhóm Đảng viên CS nên có 2 Thư ngỏ, 1 gởi BCH TW và 1 Thư ngỏ gởi đến Đồng bào tòan quốc, nơi mà Đảng đã bám vào để sống 70 năm nay và đã đưa Đất nước đến bờ vực thẳm hôm nay, Thư xin lỗi nhân dân Việt Nam là nền tảng cho Thư Ngỏ gởi BCH TW , nếu không, người Dân chỉ đơn thuần hiểu là nội bộ không được ăn thì phá thế thôi.
    Ngán lắm rồi.

  2. DâM TiêN says:

    Có một sự thiếu sót trong lá thư…quan chọng này, là, là sao cơ?

    Là phải đồng kính gởi đi mấy nơi rất …quan chọng, đó là :

    Đồng kính gửi ( không phải gỞi) :
    — CIA, hậu thân OSS, để kính trình và ” thẩm tường.”
    — Đồng chí Trung Quốc để ” theo dõi, và… hội ý với CIA / OSS.”
    — Chánh ủy DOTony, để ” cùng chú DâM, lập đảng Cộng Hòa.”
    — Quân sư Trọng Gân ” liên lạc pháp lý” với LHQ v/v Việt Nam.
    — Nhà thơ Xạo Sự aka Tiên Ngu ,chuẩn bị ” khúc trường ca VN.
    – Bản lưu gời Thư viện Quốc Hội xứ Cờ Hoa.

  3. noileo says:

    Trich: “Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. “

    “Từ nhiều năm nay” là từ bao giờ?
    Phát biểu trên, nói cho đầy đủ, đúng sự thật, phải là:

    “Từ 1945 tiến hành cuộc phản bội tháng 8, cướp chính quyền VN, vốn là một chính quyền không cộng sản, đặt chinh quyen VN vào tay nhóm cộng sản Hồ chí Minh với ý đồ dựng nên tại VN một nhà nước cộng sản theo con đường Mác Lê mà cộng sản Hồ chí Minh và đồng bọn cộng sản Võ NGuyên Giáp, cộng sản Phạm Văn Đồng, cs Cù Huy Cận… vẫn hàng theo đuổi từ rất lâu truớc đó.

    Trước cuộc phản bội tháng 8, chính quyền VN vốn là một chính quyền không cộng sản, trong tay chinh phủ Trần Trọng Kim, chính phủ hợp pháp, chính phủ đầu tiên của nước Việt nam mơi vừa giành lại độc lập từ ngày 11-3-1945, thoát khỏi sư cai tri của thục dân Pháp,

    Không lâu sau đó, chính là chủ tịch Hồ chí Minh lại ăn cứt thực dân Pháp & hửi rắm thục dân Pháp, ký với thục dân Pháp bản văn tự bán nước ngày 6-3-1946, đón giặc Pháp vào Hà nội ngày 19-5-1946, đat VN vào vòng nô lệ Pháp làn thứ 2,

    Từ 1950 đảng cộng sản VN, aka “Lao Dong” và chu tich Hồ chí Minh lại xoay qua ăn cứt Tàu & hửi rắm Tàu, ruóc giặc tàu vào Việtnam cùng vói giặc Tàu tiến hành tội ác bành truóng chủ thuyết Mác Lê Mao vào Việt nam, chia cắt Việt nam, dựng nên chế độ & nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam Dân chủ Cộng hoa trên vùng lãnh thổ phía bắc vỹ tuyến 17 của Việt nam

    [do đảng cộng sản Việt nam tuân lệnh đảng cộng sản Tàu, hợp tác với thục dân Pháp, chia cắt VN tại vỹ tuyến 17, chiếm đoạt vùng lãnh thổ phía bắc vỹ tuyến 17 của Việt nam, khi ấy còn mang tên "Quốc Gia Việt nam" theo khuynh hướng dân chủ tự do Tây phương & kinh tế thị trường]

    Dựa vào sự chống lung của giặc Tàu, dựa vào vũ khí giặc Tàu, đang cộng sản Việt nam, chủ tich Hồ chí Minh khủng bố & giet hai nhân dân Việt nam, cưỡng bức nhân dân Việt nam vào dưới ách cai tri của đảng cộng sản và chủ tich Hồ chí Minh, dẫn dắt dân tộc đi theo con đường tội ác xây dựng chủ nghĩa xã hội tội ác theo mô hình xô-viết tội ác dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin tội ác

    gây nên cuộc chiến tranh Hồ chí Minh tội ác xâm lăng VNCH, cuộc chiến tranh 20 năm người Việt ta giết người Việt mình, phục vụ cho quyền lợi cộng sản tội ác, phục vụ cho tham vọng quyền lực bệnh hoạn của cộng sản tội ác, của chủ tịch Hồ chi Minh tội ác, của Tổng bí Thư Lê Duẩn tội ác, chuyên gia đánh thuê cho Nga & Tàu cộng sản

    từ đó gây nên hậu quả như ngày nay cho Việt nam, tụt hậu về mọi phương diện, kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, đạo đức, xã họi… , bị đang cộng sản VN xô đẩy vào vòng nô thuộc Trung cộng

    từ đó lãnh thổ Việt nam càng ngày càng bị thu hẹp, bị đảng cộng sản VN học tập và làm theo bác cố chủ tịch nước Hồ chí Minh, bán nước cứu bác, bán nước cứu đảng, cắt xẻ dâng cho TRung cộng để mong đuọc Trung cộng chống lưng chông lại nhân dân, kéo dài & câu giơ cho chế độ cộng sản trấn lột nhân dân đất nước VN, đàn áp trí thức, giam cầm tuổi trẻ, bóc lột dân nghèo, mãi quốc cầu vinh, ăn cắp quốc khố…

  4. Kan says:

    Hy vọng có nhóm nào cùng làm việc với những người này để nó trở thành một phong trào: Kiến nghị, facebook anyone??

  5. BUILAN says:

    Thưa cùng quý huynh đệ :
    Có công nhận là gần đây Banlui tui lươì viết- đọc nhiều hơn – khoái chí rôì cười Khakha k h a
    Khoái chí vì sự thật đã phơi bày- phơi bày ngay trên báo chí thuộc loaị CCCĐ tôi thường triển khai = Công cụ côn đồ, cầm cu chó đái , Cầm KU Chệt đâm…. Hạ bô cuả HQL – tonydo10… cũng phaỉ dỡ cười dỡ khóc !!! Khakhakha
    Nay thì có thêm đến 61 tên CS thuộc loại tiên sư cha cố cuả đám lâu la cấc ké CCCĐ10 củng cố cho những lời nguyền ruã CS cuả tôi . Tôi nghĩ không phai 61 tên tuổi , mà đến 610 – 6100..61000 VC .thậm chí có thêm 61 triệu dân, chiụ chung số phận “công hèn xuống hàng chó ngưạ vì ngu (CHXHCNVN) nếu họ vượt qua sợ haĩ ! Tôi nghiệp cho dân cho nước, cho những đuá con hư hõng , hoang đàng !!!!?????

    Lợi dụng tình thế “thiên thời điạ lợi..” tôi mươn ; com cuả bạn dọc- chưi cha mấy thằng ngu si tôi từng quen biết – Dĩ nhiên trong đám 61 VC kia sẽ bị dính mảnh !! Xin cứ xem như là bạn bè quý anh cũng chưỉ chó mắng mèo các anh như tui, cho vui cả làng !

    Thu Nguyệt says
    “Quá khứ nàm vùng xách động học sinh sinh viên thiên tả thân Cộng quậy phá VNCH và hoạt động khủng bố ám sát Công chức VNCH cho Cộng sản trước 1975 của tên luật sư Nguyễn Đăng Trừng này không thua gì những tên thân Cộng khác tại miền Nam như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Hạ Đình Nguyên, Lê Văn Nuôi, Cao Lập, Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Lập, Miên Đức Thắng v.v… Tên CS Trừng này không tự nguyện ra khỏi Cộng đảng mà chỉ đợi ngụy quyền CSVN trục xuất ra khỏi Cộng đảng. Chúng ta thấy 5 điều với tên ĂN CƠM QUỐC GIA THỜ MA CỘNG SẢN Nguyễn Đăng Trừng này như sau:
    - U mê tăm tối với chủ thuyết Cộng sản, không tự Nguyện ra khỏi Cộng đảng tới giờ phút này. Lưu lại với Cộng đảng quá lâu chúng tỏ tên Trừng này là một tên CS bảo thủ sắc màu u mê tăm tối.
    - Lưu lại với thẻ đang viên Cộng sản vì quyền lợi xôi thịt, sổ hưu, đặc quyền đặc lợi.
    - Không ai nghe thấy tên ls Trừng nầy khi còn tại chức dù với tư cách luật sư có giờ phút nào tranh đấu cho dân chủ nhân quyền ở VN, bênh vực dân oan, biện hộ cho những người bất đồng chính kiến, giới đối lập ở VN.
    - Dây dưa dính dáng với ngụy quyền CSVN có phần hậu không tốt, tên Trừng nầy 1 bằng chứng.
    - bị ngụy quyền CSVN vắt chanh bơ vỏ.”

    Caí đám goị là “ăn cơm QG thờ ma CS” tui quen biết ơi ! HĐNguyên _ Đệ tam B3 TQC/NK62-63 ; HKBáu _ con ông HC chaú môi bà Trùm S :- NĐX ( tiếng là Huế nhưng góc QN) đã từng được TKĐ đón tiếp ở Mỹ ! Dúng không nào ??
    _ Mắng chúng mầy một lần cho bỏ ghét ! Có LS kiêm LGia VHT (lớp đàn anh chúng mầy) đang ở Saìgon làm chứng !

    “Ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần”

    Thật lòng giờ nầy Builan ta thầm cảm phục CHÚNG MẦY biết trở cờ và dám trở cờ – Thể hiện lòng yêu nước (rất đang khâm phục) ! Không sợ CHẾT như LHĐ đã chết – ( rồi cũng chết) – chậm lên tiếng, không dám lên tiếng như NĐTrừng, rôi cũng bi khai trừ !!!
    Can đãm lên có chết cũng đừng luì, trên 70 cả rôì !
    Nghe lời ta – Nếu VG/CS không tiếp thu, thành tâm sám hối tạ tôi ! ” 61 người hùng” hay bầu chon một lãnh tụ _ ra tuyên cáo thành lập một Đảng đối lập, chơi tay đôi với bọn “thực dân CS Bắc kỳ ” Lòng dân đang sôi sục !
    Còn không thì xem như tự chuốt hoạ vào thân – TRỚT QUỚT !! Đúng nghĩa “Trí thức không bằng cục phân”, Ta laị phaỉ cảm ơn CHÚNG MẦY có lòng cho ta dược cưới khoaí chí – nghiã là khoỉ tôn tiền mua thuốc bổ ! KHA KHA K H A
    THật lòng là như thế đấy !

  6. Haile says:

    Day cung la hinhthuc “NOI” cua 61 cu Ong Ba Vietcong da ve vuon. Phai nhin viec lam cuthe cua 61 Vietcong nay. Moi danh gia duoc. Da la Vietcong coi. Phai bieuhien bang hanhdong tuongxung voi “SAI LAM” cua banthan la dangvien Vietcong lam cho DanToc chiare. Datnuoc lamnguy nhu the nay !!!

  7. tonydo says:

    Nhà Thơ Nguyễn Trọng Dân có viết:
    Tại sao trong danh sách 61 người KÝ tên đó lại không thấy chánh ủy TonyDo
    Đổ huynh ui , có thiếu sót trong in ấn chăng? (hết trích)
    Xin cám ơn đàn anh đã nhắc.
    Trong danh sách 61 vị đảng viên ký tên ,chỉ có mình đồng chí Ngyễn Trọng Vĩnh là người vào đảng trước 1945 (lão thành cách mạng) còn lại đều theo đóm ăn tàn từ 1946 trở lại đây.
    Khổ cái là, đồng chí Vĩnh cũng chỉ là ủy viên “dự khuyết” khoá 3, tức là không có quyền bầu phiếu, như thế là ông này chưa bao giờ làm lãnh đạo. Đồng chí này lại là nguyên đại sứ Trung quốc một thời gian dài, nên nếu cụ Vĩnh không là điệp viên của tình báo Hoa Nam thì cũng là cảm tình của Trung Nam Hải. Không thể khác được.
    Như vậy cả 61 ngài Lão Thành Cách Mạng đâu có vị nào ra hồn? Quyền thì Đại tá là cao nhất, chức thì tà lọt, oai nhất cũng chỉ được điếu đóm cho cụ Kiệt.
    Ngày nay họ không những tiếng tăm chẳng có, mà tiền bạc tiêu pha cũng phải tằn tiện từng đồng.
    Con cái thì chạy chọt tứ phía cũng chỉ được chân phụ tá, bồi bàn, tà lọt.v.v.
    Trong khi con cái cháu chắt của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Giáp, Đỗ Mười, Minh Triết, Sang-Trọng-Hùng-Dũng-Nghị.v.v.ôi thì Tây học về nắm bộ này, bộ nọ.(lại có cả cái thẻ Xanh USA mới cảo trong túi quần)
    Có đứa còn đứng đầu tỉnh khi mới 30.
    Khú đế ngang ngạnh như con cái đồng chí Nhà Thơ Lớn-Tiếng trong cải cách ruộng đất, họ Cù, chửi rủa Địa Chủ như điên còn được thẻ xanh vào Mỹ, lại được các đồng chí đại biểu nhân dân xứ đệ nhất Nhân Quyền trên cả hành tinh xanh đón tiếp tưng bừng.
    Mẹ Bố nó, con Vua thì lại làm Vua.
    Con Sãi ở Chùa đi quét lá đa.
    Ông đíu.. có dính vào mấy cái vụ này.
    Xin lỗi đàn anh Trọng Dân. Em đang nóng tiết.
    Kính.
    Đả đảo đế quốc Mỹ và bọn tay sai Sang-Trọng-Hùng-Dũng-Nghị!

  8. Việt Quốc Thiên says:

    Nguyễn Anh Dũng, nhà giáo- cựu chiến binh, viết;

    Trước đây nước Mỹ tham chiến ở Việt Nam, đâu phải để thực hiện mục đích xâm lược, họ không hề lấy đi của Việt Nam một tấc đất nào. Nhà nước VNCH vừa phải chống trả sự tấn công tổng lực của quân Bắc Việt, vừa phải chiến đấu chống quân Trung Quốc. Cuộc chiến ngày 19/1/1974 bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, bởi sự hy sinh của 74 chiến binh của quân đội VNCH. Đến nay họ vẫn chưa được vinh danh, thân nhân chưa chưa được hưởng những sự giúp đỡ cần thiết. Đó là tội lỗi, là vết nhọ đối với nhà nước cộng sản Việt Nam.

    THỨC TỈNH

    ……….Đối với nhà cầm quyền, quân Bắc Việt đã chiến thắng, chúng tôi có nhiệm vụ giải phóng cho người dân miền Nam. Thoát khỏi hệ lụy của chủ nghĩa tư bản, để tiến lên CNXH do Đảng cộng sản lãnh đạo. Thế nhưng thực tế đã thức tỉnh cho họ hay cho chúng tôi đây?

    Hà Nội, ngày 16 tháng 01 năm 2014
    Nguyễn Anh Dũng – Nhà giáo – cựu chiến binh

Phản hồi