|

Ngã Tư Quốc Tế

Tôi thiếu điều muốn tự vận (luôn) vì xấu hổ về đồng bào, đồng loại, và thời đại của mình.
tnt

Tác giả Tưởng Năng Tiến

Tác giả Tưởng Năng Tiến

Thỉnh thoảng, tôi vẫn gặp phải một câu hỏi khó:

- Thế những tác giả ngoại quốc ông thường đọc là những ai?

Tôi lí nhí:

- Gần như chả có ai ngoài Kim Dung và Remarque. Lâu lâu tôi cũng có đọc Ernest Hemingway, Mario Puzo, Boris Pasternak, hay Solzhenitsyn thôi…

- Úy Trời! Sao cũ mèm hết trơn vậy, cha nội?

- Bị hồi đó, ở miền Nam, hầu hết sách của những tác giả này đều được dịch ra tiếng Việt.

- Bộ không đọc được tiếng Anh, tiếng Pháp gì sao?

- Dạ, ráng thì cũng được nhưng … ngại lắm!

Nói nào ngay thì khi còn trẻ tôi cũng có ráng, với đôi chút làm dáng, khi vào cà phê Tùng với La 25ème Heure hay Of Mice and Men trên tay. Cái thời sung sức, và hơi nặng phần trang sức, này đã qua lâu lắm rồi.

Cũng từ lâu lắm rồi, tôi đã thôi mặc áo quần từ tiệm giặt ủi, thôi soi gương, thôi chải đầu, và gần như chỉ đọc những tác giả đang sống ở Việt Nam: Nguyễn Quang Lập, Đinh Tấn Lực, Huy Đức, Tuấn Khanh, Huỳnh Ngọc Chênh, Cánh Cò, Nguyễn Ngọc Già, Trương Duy Nhất, Võ Thị Hảo, Đoan Trang, Huỳnh Thục Vy …

Đọc họ rất “khoẻ,” trừ Nguyễn Ngọc Tư. Nhà văn này làm tôi hay bị … mệt. Đang đọc phải bỏ ngang.

Bà hay đặt những vấn đề gây quá nhiều xúc cảm quá khiến tôi, đôi khi, cảm thấy bị chới với. Riêng bài này (“Có Còn Người Không?”) tôi đọc cho tới dòng chữ cuối vì nó quá ngắn, chưa kịp bỏ xuống thì đã tới câu kết mất rồi:

Câu hỏi đó thằng nhỏ hỏi mỗi ngày mỗi ngày mỗi ngày, khi đói khát, khi bị đánh đập cấu nhéo, khi phơi trần ra dưới nắng mưa. Khi nó nằm trên mặt đường và kêu khóc khản giọng. Nó hỏi vào đám đông lướt qua nó, hỏi ai đó dừng chân cho nó (chính xác là cho những kẻ chăn dắt nó) chút tiền lẻ. Nó hỏi những kẻ bắt nó nằm lăn lóc kêu khóc trên đường để kiếm tiền, để nhởn nhơ ăn mòn tấm thân bé nhỏ non nớt của nó.

 Nhưng tôi tưởng tượng thôi, trong lúc ngồi uống một ly cà phê mặn chát. Dường như cả quán hôm đó cũng có cùng cảm giác, sau khi giở tờ báo sáng, và nhìn thấy hình ảnh của thằng bé ăn xin. Nó nhỏ đến mức chỉ biết khóc. Ở truồng và khóc. Ướt và khóc. Bị đánh đau và khóc. Chấp chới giữa dòng người ngược xuôi đông đúc như con vịt con ngơ ngác mà người ta dùng để câu nhắp cá lóc. Em bé – con mồi sống không nói gì hết, mà tôi tưởng như nó hỏi, người ơi, người ở đâu?

Tôi đã nhận được câu hỏi đó bao nhiêu lần trong đời? Không đếm được. Có đứa thậm chí còn không khóc. Nó ngủ mềm oặt, xanh rớt trên tay người đàn ông ngồi ở một góc đường. Một kiểu ngủ mụ mị vì tác dụng của thuốc. Buổi tối tôi đi qua chỗ đó và em lại hỏi bằng vẻ câm lặng im lìm. Như cái chết. Có còn người không?

Đám đông không lên tiếng. Không Lục Vân Tiên nào, đại diện công quyền nào đưa cả hai con người rách rưới về, gạn hỏi coi có thật là cha con như gã đàn ông phân trần, hay chỉ là kẻ chăn dắt với con mồi. Em bé ngủ vì thuốc ngủ hay vì sốt cao? Em cần một mái ấm hay một bệnh viện cho qua cơn đau? Bàn tay mỏng đó không quá khó để người đời nắm lấy. Nhưng dòng người lũ lượt không ai dừng lại.

Chính xác là cũng có người bước tới cho vào cái ca nhựa bạc màu chút tiền lẻ, nghĩ sau đó mình sẽ nhẹ lòng. Tôi cũng vậy, tự lừa mình. Và cái góc đường trước Trung tâm văn hóa thông tin ám ảnh tôi dai dẳng dù em bé chỉ ở lại hai đêm rồi biến mất. Cuộc ra đi gây bất an hơn cả khi xuất hiện, bởi linh cảm em lại vạ vật ở một góc đường khác, bị nhấn chìm trong giấc ngủ khác. Ngủ là một cách hỏi, người đâu mất rồi?
  Cũng như những em bé ăn xin mà bất cứ ai cũng có thể gặp một đôi lần trên đất nước này, chúng gọi con người bằng nhiều cách, bằng ánh mắt thất thần, bằng vẻ ngoài trần trụi và lem luốc, bằng tiếng khóc, tiếng hát, bằng bàn tay bẩn thỉu xòe ngửa, bằng những vết thương bầm tím trên da thịt… Ai đó nghe thấy tiếng gọi đó nhưng họ bận rộn, sợ hãi, bất lực, cũng có kẻ không nghe, không cảm nhận gì hết…  
Và những đứa trẻ đường phố vẫn tồn tại, như một phép thử.
  Thử coi người ta bất lực, rụt rè, ngại khó bao nhiêu? Bao nhiêu người đã từng đi qua, chứng kiến những thân phận nhỏ bé khốn khổ. Dù ngoái lại, dù áy náy, dù thấy thương và bất an… nhưng chậc, mình lại phải đi rồi… Họ không làm gì mà kêu mấy ông nhà nước làm gì đi chớ…

Ảnh: Dân Trí

Ảnh: Dân Trí

Tôi không thể đoán được “cái góc đường trước Trung Tâm Văn Hóa Thông Tin” của Nguyễn Ngọc Tư nằm trong cái thành phố nào, ở đất nước mình. Tôi đã đành đoạn quay lưng, bỏ cái quê hương khốn khổ của mình đi biền biệt từ lâu lắm rồi. Người xưa, cảnh cũ đều đã trở thành nhạt nhoà và phai mờ hết ráo.

Tôi hiện đang ở một đất nước khác. Chỗ tôi tạm cư có tên là Silicon Valley (hay còn gọi là Thung Lũng Hoa Vàng) nơi có vài chục sắc dân cùng ở bên nhau, cùng chia sẻ một cuộc sống an bình và phú túc. Những đứa bé ăn xin “trần trụi, lem luốc “với “những vết thương bầm tím trên da thịt” – tất nhiên – không thể hiện hữu ở một chốn văn minh như thế.
Tuy thế, từ cái Ngã Tư Quốc Tế này (hàng ngày) tôi vẫn nhìn thấy “ánh mắt thất thần …chấp chới giữa dòng người ngược xuôi đông đúc như con vịt con ngơ ngác mà người ta dùng để câu nhắp cá lóc” của vô số trẻ thơ – qua những phương tiện truyền thông.

Trẻ con Bắc Hàn. Nguồn ảnh: VOA

Trẻ con Bắc Hàn. Nguồn ảnh: VOA

Từ đây, tôi cũng nhìn thấy hàng trăm người đã mang thân mình làm đuốc, với hy vọng gây được sự chú ý của nhân loại về thảm kịch bị mất quyền tự chủ và nguy cơ bị đồng hoá của dân tộc họ.

Và cũng từ cái Ngã Tư Quốc Tế này – thỉnh thoảng – tôi vẫn được xem một cái thư kêu cứu, gửi từ những trại tù của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Nơi còn có tên gọi khác là Trung Quốc Đại Lục, hay Trung Cộng.

Thư sau được đăng tải trên New York Times, vào ngày 11 tháng 6 năm 2013, rồi được phổ biến rộng rãi khắp nơi, kể cả những trang tiếng Việt:

Nowy obraz (4)

Bức thư được viết với những dòng chữ tiếng Anh nguệch ngoạc trên một tờ giấy mỏng và người viết nói rằng ông bị giam giữ tại một trại cải tạo lao động ở thị trấn phía Đông Bắc Trung Hoa. Ông cho biết ở đó các tù nhân phải làm việc vất vả bảy ngày một tuần, 15 giờ trong ngày họ bị ám ảnh về sự giám sát ác nghiệt của bọn cai tù tàn bạo.

“Quý vị: Nếu quý vị thỉnh thoảng mua sản phẩm này, xin vui lòng chuyển thư này đến Tổ chức Nhân quyền Thế giới.

Đó là một đọan trong bức thư được nằm giữa hai ngôi mộ đá giả, nó rơi ra khi bà Julie Keith mở chiếc hộp trong phòng khách nhà bà vào tháng 10 năm ngoái. “Hàng ngàn người tù ở đây, những người đang bị nhà cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Cộng hành hạ, sẽ tri ân và nhớ đến quý vị mãi mãi.” (Đằng Sau Tiếng Khóc Kêu Cứu Từ Trại Cải Tạo Lao Động Trung Quốc” – “Behind Cry for Help From China Labor Camp”. Như Ngọc chuyển ngữ).

Thư kế tiếp theo xuất hiện trên tờ Belfast Telegraph vào ngày 26 tháng 6 năm 2014. Qua ngày hôm sau trang web của Time đã có bản tin (“Another SOS Note From China Has Been Found In a Piece of Store-Bought Merchandise”) với đầy đủ những chi tiết cần thiết:

“SOS! SOS! SOS!… We are prisoners in the Xiang Nan Prison of the Hubei Province in China. Our job inside the prison is to produce fashion clothes for export. We work 15 hours per day and the food we eat wouldn’t even be given to dogs or pigs. We work as hard as oxen in the field.”

(SOS! SOS! SOS!… Chúng tôi là tù nhân tại nhà tù Xiang Nan ở tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Công việc trong tù của chúng tôi là sản xuất quần áo thời trang đem xuất khẩu. Chúng tôi làm việc 15 tiếng một ngày, thực phẩm chúng tôi ăn thì đến chó và lợn cũng không thèm ăn. Chúng tôi phải làm việc nặng nhọc như trâu bò ở ngoài đồng. Dương Long chuyển ngữ).

Những tiếng kêu cứu thảm thiết như trên, tuy được nhanh chóng phổ biến khắp mọi nơi nhưng rồi đều rơi ngay vào quên lãng, tựa như những viên sỏi nhỏ … rơi tõm xuống một cái ao bèo! Thái độ của cư dân nơi những cái Ngã Tư Quốc Tế, buồn thay, cũng (hờ hững) y như cái đám đông ở góc đường trước Trung Tâm Văn Hóa Thông Tin – gần nhà Nguyễn Ngọc Tư – thôi.

Không Lục Vân Tiên nào, đại diện công quyền nào bận tâm cả. Nhân loại (chắc) cũng có ai đó nghe thấy tiếng gọi đó nhưng họ bận rộn, sợ hãi, bất lực, cũng có kẻ không nghe, không cảm nhận gì hết…   ráo!

Đã thế, ở nhiều nơi, những kẻ nhởn nhơ ăn mòn tấm thân của hàng triệu nạn nhân (khốn khổ) còn được long trọng đón tiếp nữa cơ:

-RFA: Chủ tịch Trung Quốc phát biểu trước Quốc hội Việt Nam.

-RFI: Luân Đôn Trải Thảm Đỏ Đón Chủ Tịch Trung Quốc.

–BBC: Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tới Anh trong chuyến thăm bốn ngày mà Thủ tướng Anh David Cameron gọi là ‘kỷ nguyên vàng’ trong quan hệ hai nước.

Tôi thiếu điều muốn tự vận (luôn) vì xấu hổ về đồng bào, đồng loại, và thời đại của mình. Cái tốt sao mà nhỏ nhoi, lẻ loi, yếu đuối, cô đơn vậy. Công lý sao mà chậm chạp, nhợt nhạt vậy – hả Trời?

Nguồn: UK Times

Nguồn: UK Times

© Tưởng Năng Tiến

 

4 Phản hồi cho “Ngã Tư Quốc Tế”

  1. Quang Phan says:

    “Tôi thiếu điều muốn tự vận (luôn) vì xấu hổ về đồng bào, đồng loại, và thời đại của mình “.Tác giả: Tưởng Năng Tiến .

    Nhục nhã dân Việt: Thuở xưa, tiền nhân bao phen đánh thắng giặc Tàu. Ngày nay, dưới chế độ Cộng sản Hà nội đần độn, ngu dốt, dân Việt còng lưng làm đầy tớ cho Tàu .

    Theo Lã Thế Vinh – Phó trưởng Phòng việc làm, tiền lương, bảo hiểm (thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Nghệ An), cho biết: “Hiện chỉ mới có ký kết hợp tác lao động với Ma Cao và Đài Loan chứ nước ta chưa có ký kết hợp tác lao động nào với Trung Quốc”.

    ***11/03/2015 – Theo trang mạng công an nhân dân : Hiện nay đã có các tổ chức đưa lao động Việt Nam sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp. Phần biên giới thuộc lãnh thổ Trung Quốc đã xuất hiện những công ty được thành lập chỉ để môi giới, tuyển chọn và cung cấp lao động là người Việt Nam cho các công ty và cá nhân người Trung Quốc có nhu cầu sử dụng lao động.

    Theo kết quả khảo sát tại 10 địa phương giáp biên giới phía Bắc, từ năm 2011 đến nay đã có khoảng 20 vạn người đi lao động thời vụ tại Trung Quốc. Các tỉnh có số người đi lao động nhiều gồm Lạng Sơn, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Giang… trung bình mỗi ngày có vài nghìn người sang Trung Quốc lao động làm thuê.

    Lao động Việt Nam sang Trung Quốc theo hình thức này đa số là lao động phổ thông làm các công việc như: bốc vác, vận chuyển hàng hóa, làm thuê tại các trang trại lớn trồng cây lương thực, cây ăn quả,…

    ***06 tháng Hai năm 2016 – RFA

    Trích- Theo thống kê của Bộ lao động Đài Loan đến nay có hơn 566.000 người lao động Việt Nam đang có mặt tại Đài Loan. Những lao động Việt Nam tại đây có tuổi đời khá trẻ, họ chủ yếu làm các ngành nghề như lao động sản xuất, lao động ngành nông, lâm, ngư nghiệp, xây dựng, dịch vụ…
    Dù sống trên xứ người, nhưng những lao động này luôn ước mong một tương lai tốt đẹp đến với người Việt Nam ở khắp nơi, đặc biệt là những lao động Việt Nam ở nước ngoài. Bởi những người Việt khi đi lao động ở xứ người, một số ít trong họ thường đánh mất hình ảnh đẹp của người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

    Anh Phạm Hoài mong muốn rằng:

    “Em mong muốn người Việt Nam đi ra ngoài thì cũng nên giữ hình ảnh của dân tộc Việt Nam, bởi vì em thấy hầu như nước nào cũng vậy, không chỉ ở Đài Loan mà ở Hàn Quốc, Nhật, rồi các nước khác… em thấy báo chí họ đưa tin về người Việt Nam nào là ăn trộm, rồi nhiều vấn đề khác, mất hình ảnh lắm.”

    Cô Hồng chia sẻ:

    “Em mong Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi độc tài để có một cơ hội phát triển lớn mạnh một chút, không còn trình trạng xuất khẩu lao động ồ ạt như bây giờ nữa. Để những người lao động trẻ như bọn em có thể cống hiến cho đất nước, chứ không phải cống hiến cho một nước sở tại Đài Loan chẳng hạn, bọn em có sức trẻ, có trí tuệ, nhưng bọn em cống hiến cho những đất nước khác chứ không phải Việt Nam.”

  2. Nguyễn Kim Nên says:

    1 thời đại chó má . Nhưng rồi người ta sẽ nhận ra không thể mãi mãi làm ngơ với sự tàn ác để mãi mãi bắt tay, làm ăn với bọn sát nhân . Chỉ hy vọng đừng quá muộn .

  3. Quang Phan says:

    Những ” cây đuốc sống” đi tìm tự do cho dân tộc Tây Tạng : Kể từ tháng ba năm 2009 cho đến nay, đã có hơn 140 người Tây Tạng tự thiêu để đòi hỏi nhân quyền và tự do cho người Tây Tạng . Người tự thiêu trẻ nhất là 15 tuổi.

    Hiện có ba triệu người Tây Tạng phải sống dưới sự đô hộ của bọn đế quốc Tàu cộng từ 56 năm nay. Và khoảng 150000 người Tây Tạng lưu vong .

  4. Nguyễn Thi says:

    Trích – 31/1/16 – Trái tim vàng : Tôi có một ông bạn là nhà văn đã trên 70 tuổi sống độc thân hưởng tiền “ét ét ai” (SSI) hàng tháng cũng tạm đủ cho cái thân già nơi xứ người. Vì không còn phải lo cái đói, cái bệnh hành hạ thân thể nên ông nghĩ tới các bạn cùng nghề (khi xưa) còn kẹt lại nơi quê nhà. Muốn viết người ta (Cộng sản ) không cho viết, mặc dù đã tìm hết cách “lách”. Ngoài viết ra các bạn ông, sau khi “học tập cải tạo” về, lúc ấy còn chút sức lực đi đạp xích lô cũng kiếm được chút cháo sống qua ngày. Nhưng mấy năm trở lại đây vì tuổi già sức yếu lại thêm bệnh tật hành hạ nên đành chịu thất nghiệp vậy. Mà thất nghiệp thì bị đói tức thì. Cảm thông hoàn cảnh khốn cùng đó, (đồng bệnh tương lân mà!) ông nhà văn già bèn “xúi” các bạn mình viết văn, viết báo gửi sang Mỹ để ông lo bán dùm cho các báo. Có vài ba ông bà bạn già viết lách cũng tàm tạm khá nên các báo đăng bài đều đều.

    Thế là mỗi bạn văn hàng tháng có trăm đô nhuận bút gửi về …ấm bụng rồi. Cứ hai tháng một lần ông nhà văn già nhận được tấm check của tòa báo trả nhuận bút. Ông ra ngân hàng lãnh rồi đến đại lý gửi tiền về cho các bạn trong nước. Tất nhiên tiền cước gửi mỗi lần cả chục đồng, ông nhà văn già phải xuất tiền túi nhưng ông không hề hé lộ cho một ai biết. Vì ông thực hiện đúng lời Chúa dạy: “Tay phải làm việc thiện tay trái không biết”. Thế rồi cuối năm (bỗng dưng) tòa báo tổng kết số tiền nhuận bút ông nhận lên tới vài ngàn và yêu cầu ông khai thuế. Ông khai thuế và nộp thuế mất đâu vài trăm đồng. Kể ra thì đau thật với một người già chỉ sống bằng tiền “ét ét ai” như ông. Nhưng ông nhà văn già tự an ủi: “Không sao ! Mình bớt tiêu đi một chút và nhịn ăn phở sáng cũng chưa chết thằng tây nào. Chứ các bạn mình mà không có tiền là tiêu liền”.

Phản hồi