|

Trận oanh tạc Linerbacker II cuối năm 1972

LTG: Hai năm trước tôi đã viết về đề tài này trong bài Trận Mưa Bom Giáng Sinh, nghiêng về mặt quân sử. Nay ở đây tôi chỉ đề cập tới ý nghĩa chính trị của Linerbacker II, trận oanh tạc lớn nhất từ sau Thế chiến thứ hai.

—————————————————-

B52

B52

Hòa đàm khai thông và bế tắc

Sau mấy năm bế tắc, tháng 10/1972 cuộc hòa đàm Ba Lê có biến chuyển thuận lợi khi phía Hà Nội chịu nhượng bộ những đòi hỏi tiên quyết của họ như: Lật đổ TT Thiệu, lập chính phủ liên hiệp, Mỹ đơn phương rút quân và cắt viện trợ VNCH… Cộng Sản Bắc Việt đã thừa cơ nước đục thả câu, thấy Hành pháp bị phản chiến chống đối, Quốc hội thúc dục ký Hiệp định ngưng bắn nên họ ép Kissinger phải nhượng bộ những khoản như trên.

Cả Nixon và Kissinger đã thỏa thuận không lật đổ chính phủ Thiệu.

(“He agreed with Nixon that it should not involve abandoning the Thieu regime” – Walter Isaacson, Kissinger A Biography p.485)
Trước lập trường cứng rắn của Nixon và Kissinger, BV thấy không có hy vọng gì loại bỏ Thiệu nên phải nhượng bộ, sau này người Mỹ mới biết đòi hỏi này là do Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (tức Việt Cộng) đưa ra. BV đã hết ngoan cố phải nhượng bộ tháng 10/72 vì đã bị trận oanh tạc Linerbacker (cũng gọi là trận Linerbacker I) bằng B-52 từ tháng 5 tới tháng 10/1972 của Nixon khi ông yểm trợ tích cực cho VNCH để đè bẹp quân địch trong trận Tổng tấn công mùa hè đỏ lửa 1972. Theo nhận xét của Nixon, Hà nội tin chắc ông sẽ đắc cử nhiệm kỳ hai trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 7/11/1972 vì theo thăm dò ông vượt quá xa đối thủ McGovern tới 30%, họ muốn ký Hiệp định trước bầu cử vì nghĩ rằng sau khi đắc cử ông sẽ cứng rắn hơn.

(“They also probably believed that they might get better terms from me before the election than after it, No More Vietnams ”, p. 151)

Tại phiên họp lịch sử ngày 8/10/1972, Lê đức Thọ đã nhượng bộ Kissinger như trên và hai bên họp bàn ngày hôm sau về việc ký kết Hiệp định vào khoảng 25 hoặc 26/10. Kissinger mừng rú, sau bao năm vất vả mới có ngày này, hôm 12 ông về Mỹ báo tin cho Tổng thống, Nixon mở rượu uống cùng Ban tham mưu tại tòa Bạch ốc. Ngày 18/10/72 Kissinger sang Sài Gòn để thuyết trình với chính phủ VNCH về Dự thảo Hiệp định sắp ký, tin là ông Thiệu sẽ đồng ý vì ông vẫn được làm Tổng thống. Trái ngược với sự mong đợi của Kissinger VNCH cực lực phản đối bản Dự thảo, đòi BV phải rút về Bắc, mấy hôm sau Kissinger tại Sài Gòn đánh điện về Mỹ cho Tổng thống đề nghị ký riêng với BV nhưng bị từ chối, Nixon không cần ký trước bầu cử vì biết chắc sẽ tái đắc cử.

Mặc dù thất bại trong việc ký kết, ngày 26/10/1972 Kissinger họp báo tại Tòa Bạch Ốc tuyên bố hòa bình trong tầm tay (peace is at hand) khiến cả nước Mỹ vui mừng. Sang tháng 11, ông Thiệu mở chiến dịch chống bản Dự thảo Hiệp định, chống Kissinger dữ dội, khi ấy Hà Nội cũng đả đảo Kissinger cho là ông này thất hứa, xảo trá. Bị cả hai miền nam bắc VN lên án, chống đối, Kissinger chán nản không muốn tiếp tục cuộc hòa đàm vì tưởng là ký được Hiệp định nay lại hụt, Tổng thống Nixon khuyến khích ông ta tiếp tục tìm hòa bình.

Theo Walter Isaacson, (Kissinger A Biography trang 464) ngày 5 và 6/12/1972 Kissinger đánh nhiều điện tín bi quan về Mỹ cho Nixon, ông đề nghị đưa yêu cầu của Thiệu đòi BV rút quân để họ bác bỏ, ta sẽ lấy cớ bỏ họp, trong một điện tín khác ông đề nghị ném bom 6 tháng. Nixon bình thản có khuynh hướng giải quyết ngoại giao hơn Kissinger, ông nói thà chấm dứt nhiệm vu Kissinger hơn bỏ hòa đàm và ném bom.

Nixon trả lời Kissinger trách sự khó khăn do câu “hòa bình trong tầm tay” đem lại
Hy vọng lên cao trước bầu cử.. (tức cuối tháng 10)…thế mà nay tiếp tục chiến tranh không thấy hy vọng kết thúc, ta sẽ thất bại”
Walter Isaacson, Kissinger A Biography trang 464.

Phá vỡ đàm phán, tái oanh tạc sẽ đưa tới tranh cãi. Kissinger nài nỉ đề nghị Nixon lên TV kêu gọi sự ủng hộ của dân để tái oanh tạc, ca ngợi Nixon là người xứng đáng nhất.

“Tôi tin ngài có thể khích động, thuyết phục họ quay quần lại như đã làm trước đây”
(Trang 464)

Lời nịnh bợ của Kissinger không làm Nixon thay đổi, ông vẫn chán nản việc Kissinger họp báo về dự thảo tháng 10 đã khoe “Peace is at hand”, phụ tá Haldeman cũng như Nixon đều muốn Kissinger lên truyền hình thông báo hòa đàm tan vỡ, bắt đầu ném bom. Kissinger đau đầu khi nghĩ tới việc phải thông báo cho người dân biết hòa bình chưa tới khi mà tháng trước ông đã lỡ nói hòa bình trong tầm tay
Tháng 12/1972 Lê đức Thọ đòi hỏi nhiều khoản mới, đắt nhiều điều kiện mới, Kissinger đánh điện cho Nixon nói BV ngoan cố hơn bao giờ hết. Mặt Trận Giải Phóng đặt vấn đề thả tù binh Mỹ liên quan với thả tù chính trị VC.,

“Nguyễn thị Bình nói trong một cuộc họp báo ngày 8 tháng 12:
-Không lý do gì mà chúng ta phóng thích tù binh Mỹ trong khi các đồng chí của ta vẫn bị địch (VNCH) giam giữ.
Sự kiện này khiến cho nội bộ đảng Lao động bị căng thẳng. Theo Brigham (Giáo Sư), một ủy viến nói:
-Mặt trận (VC) ngoan cố đã làm hỏng hết mọi cơ hội tìm hòa bình, chúng ta đã gần đạt thỏa hiệp nhưng các đồng chí Nam bộ đã phá hoại toàn bộ kế hoạch của ta.
Larry Berman, No Peace, No Honor trang 208,209.

Không riêng gì Mỹ và VNCH bất đồng ý kiến mà ngay nội bộ BV và VC cũng không ổn thỏa. Kissinger sau này kể lại: tháng 12 họp nhau cả chục ngày không đi tới đâu, việc ký Hiệp định ngày càng xa vời.

Ngày 12/12 tại Sài Gòn TT Thiệu chủ tọa phiên họp khoáng đại, ông tuyên bố giữ vững lập trường về Hiệp định ngưng bắn, đòi BV phải rút khỏi miền nam VN. Ông Thiệu cho biết Hội đồng hòa giải dân tộc chỉ là Liên hiệp trá hình, đòi Hà Nội phải công nhận Đông Dương có bốn nước, họ không được gây hấn, tấn công ba nước kia, VNCH không chấp nhận tổng tuyển cử.

Ông tuyên bố sẽ không ký Hiệp định như trên dù Quốc hội Mỹ cắt hết viện trợ, dù VNCH chết ngay, ông cho biết không tin vào lời hứa của Mỹ.

Ngày 13 Kissinger điện tín cho Nixon nói thái độ của Lê Đức Thọ hôm qua cũng y như ba ngày liên tiếp trước đó.

“Nói về bề ngoài hỗn hào trông cũng buồn cười, Hà Nội lên mặt với chúng ta vì biết ta nay yếu thế không còn ảnh hưởng, trong khi Sài Gòn với cái nhìn thiển cận chỉ phá hòa đàm khiến ta suy yếu thêm. Chẳng bao lâu ta sẽ suy yếu không còn đủ sức khi áp lực trong nước sẽ gia tăng nếu ta không ký được Hiệp định và cũng chẳng bảo vệ được miền nam VN. Nay chúng ta chỉ còn hai sách lược. Trước hết cứng rắn với Hà Nội và tăng cường oanh kích cùng những biện pháp khác. Cũng có thể gồm những biện pháp như gài mìn hải cảng , oanh kích ồ ạt hai ngày các nhà máy phát điện cuối tuần này, sử dụng thêm B-52. Ta muốn cho họ biết họ trả giá cho mười ngày ngoan cố vừa qua. Đồng thời ta cố chấn chỉnh Sài Gòn và ít nhất ngăn cản Thiệu đừng để ông ta đơn phương đề nghị thêm nữa. Rất cần áp lực với Sài Gòn để Thiệu đừng nghĩ có thể lung lạc được ta, và chúng ta có thể chứng tỏ rằng ta không chịu nổi sự ương ngạnh của đồng minh (tức Sài Gòn) cũng như sự ngoan cố của kẻ địch (tức Hà Nội)”
(No Peace No Honor trang 213, 214)

Hòa đàm tháng 12/1972 lâm vào tình trạng bế tắc, miền Bắc ngoan cố phá hòa đàm, miền Nam cứng rắn đòi BV phải rút hết, đòi sửa lại nhiều điều khoản. Trong khi ấy người dân Mỹ, phong trào phản chiến cũng như Quốc hội sốt ruột vì muốn có hòa bình sớm hơn. Nếu không ký được Hiệp định Quốc hội có thể ra luật chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước, cắt viện trợ VNCH để đổi lấy tù binh, khi ấy mọi nỗ lực của Nixon, Kissinger để cứu miền nam sẽ tiêu tan.

Tổng thống Nixon căm ghét miền Bắc, giận dữ miền Nam, ông tức giận Kissinger vì đã vội vã tuyên bố “hòa bình trong tầm tay” hôm 26/10 khiến cho cả nước hân hoan vui mừng, nay hòa đàm tan vỡ đã đưa ông vào tình trạng khó xử.

Lá bài chót.

Hòa đàm tan vỡ ngày 13/12/1972, Thọ bỏ phiên họp, Kissinger về Mỹ, Haig nói nay chỉ có việc ném bom Hà nội bằng B-52 là cần, tại tòa Bạch ốc chỉ có Nixon, Kissinger và Tướng Haig đưa tới quyết định oanh tạc toàn bộ BV, vấn đề là cuộc oanh tạc sẽ tàn khốc thế nào. Lần đầu tiên trong chiến tranh, Nixon có thể ra lệnh ném bom Hà Nội, Hải phòng bằng B-52. Pháo đài bay khổng lồ này đã được dùng oanh tạc những đường xâm nhập ngoài thành phố, đối với những mục tiêu có dân cư người ta thường xử dụng oanh tạc cơ chiến đấu như F-111 hay F4.

Ngày 14/12 Kissinger điện tín cho Đại sứ Bunker ở Sài Gòn đến gặp ông Thiệu ngay và đừng để ông ta lung lạc, ám chỉ cho ông ta biết TT Nixon sẽ có biện pháp mạnh với BV vì trở ngại hòa đàm. Kissinger cũng nhắc Bunker nói rõ cho TT Thiệu biết TT Nixon rât khó chịu vì lập trường của ông ta về đàm phán. Nếu ông ta vẫn như cũ, nó sẽ đe dọa quan hệ hai nước.

Phái đoàn BV bỏ hội nghị không hẹn bao giờ sẽ trở lại, họ chờ phiên họp của Quốc hội Mỹ đầu tháng 1/1973 sắp tới, hy vọng tình hình có thể thay đổi: Lập pháp sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh rút quân về nước, cắt viện trợ VNCH để đổi 580 người tù binh còn bị giam tại Hà Nội. Như đã nói trên, đầu tháng 12, Nixon không muốn xử dụng vũ lực như đề nghị của Kissinger, nhưng nay BV đã lộ cho thấy sự gian ngoan xảo trá, nếu không nhanh tay trừng trị bọn này đại cuộc có nguy cơ sụp đổ. Quốc hội sốt ruột khi hòa đàm bế tắc có thể sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh khi ấy mọi nỗ lực của Nixon từ bốn năm qua sẽ tiêu tan như mây khói.

Đây là quyết định khó nhất của Nixon về VN trong nhiệm kỳ, nó cũng là canh bạc táo bạo cuối cùng của ông.

Trong No More Vietnams trang 157, Nixon nói:

“Ngày 14 tháng 12 tôi ra lệnh gài mìn cảng Hải phòng, cho máy bay thám sát trên không phận BV, và cho oanh tạc vùng phụ cận Hà Nội, Hải Phòng bằng B-52. Đó là một quyết định khó khăn nhất về VN của tôi trong suốt nhiệm kỳ. Nhưng tôi không còn cách nào khác. Tôi tin chắc nếu ta không ép buộc BV theo đòi hỏi của ta Quốc hội có thể bắt ép chúng ta chấp nhận thua cuộc bằng thỏa thuận rút quân để đánh đổi lấy tù binh Mỹ.”

Nixon lệnh cho Đô đốc Moorer, Tham mưu trưởng liên quân phải đánh trúng mục tiêu đề thắng địch nếu không ông ta sẽ chịu trách nhiệm. Moorer bèn ra lệnh oanh tạc tối đa các mục tiêu quanh Hà nội-Hải phòng, các B-52 mang bom tối đa,
Trận oanh tạc này gọi Linerbacker II cố tránh thiệt hại cho nhân dân nhưng trấn áp tinh thần họ. Moorer nói tôi muốn người dân Hà nội phải nghe thấy tiếng bom. Nixon muốn trận này tiêu diệt timh thần chiến đấu của BV và chứng tỏ cho miền nam VN biết ông là con người thép. Pháo đài bay B-52 chứa một khối lượng bom lớn có thể tấn công mọi thời tiết là khí giới áp đảo tinh thần địch.

Ngày 17/12 bắt đầu tiến hành gài mìn, và trong 24 tiếng đồng hồ Hoa kỳ đã xử dụng 129 B-52 để oanh tạc BV. Trong 12 ngày từ 18/12 cho tới 29/12 Không quân Mỹ đã thực hiện 729 phi vụ B-52 và khoảng 1,000 phi vụ máy bay oanh tạc chiến đấu, đã ném hơn 20 ngàn tấn bom. Mục tiêu oanh tạc gồm hệ thống giao thông, đường rầy xe lửa, nhà máy phát điện, phi trường, kho nhiên liệu… những mục tiêu này đều có ý nghĩa về quân sự.

Đây là trận oanh tạc lớn nhất từ sau Thế chiến thứ hai, một trong những phương châm của Nixon là nếu đã xử dụng vũ lực thì phải mạnh hết cỡ không giới hạn, một khi đã áp dụng sức mạnh quân sự, tôt nhất là phải đánh xả láng.

(“once a decision had been made to apply military muscle, it was best to go all out -Walter Isaacson”, Kissinger A Biography trang 468)

Trong một quyết định táo bạo và liều lĩnh, Nixon đã đánh nước cờ cao để cho BV thấy họ đừng hy vọng dựa vào Quốc hội và bọn Phản chiến, ông đã nhanh chóng ra tay trước.

Ngày 19/12, khi Linerbacker II băt đầu được thi hành, Tướng Haig được cử tới dinh Độc lập cùng Đại sứ Bunker, ông mang thư của Tổng thống Nixon cho TT Thiệu, chỉ có ba người biết nội dung thư là Nixon, Kissinger và Haig. Tướng Haig cho biết TT Nixon lượng giá lại tình hình Đông nam Á, bức thư cho ông Thiệu biết Mỹ sẽ oanh tạc và BV sẽ trở lại bàn hội nghị, Nixon nhắc nhở ông Thiệu cũng phải thay đổi.

“Trận oanh tạc này là một loại bảo hiểm cho ông Thiệu, nếu sinh mạng miền Nam bị đe dọa thì bảo hiểm sẽ giải quyết “
(The bombing was a sort of insurance policy for Thieu. If South Vietnam‘s life was threatened, the policy would be executed, No Peace No Honor, p.217)

Tướng Haig thuyết trình về trận Linerbacker II cho TT Thiệu, ông nói

“TT Nixon quyết định oanh tạc tối đa trận này .. nó được tái diễn để nói cho Hà Nội biết một lần nữa họ đừng rỡn mặt với TT Nixon” ,
(President Nixon was determined to continue these strikes at a maximum intensity…It was designed to again convey to Hanoi that they could not trifle with President Nixon, Larry Berman -No Peace No Honor, p.217)

Larry Berman và nhiều người Mỹ cho rằng Nixon chứng tỏ cho Hà Nội thấy sau này nếu họ vi phạm Hiệp định sẽ bị trả đũa dữ dội cũng như ông cứng rắn trong việc cưỡng bách thi hành Hiệp định. Thực tế cho thấy nhận định trên không đúng vì ngay sau khi ký Hiệp định CS đã vi phạm liên tục và nhất là năm 1975 họ công khai đem đại binh xâm lược miền Nam trước mắt cả thế giới.

Sau 7 ngày oanh tạc, Nixon ngưng ném bom ngày Giáng sinh, ngày 26 lại đánh tiêp, hầu như ngay sau đó Hà nội muốn trở lại bàn hội nghị. Những trận tấn công sau ngày 26 nói chung ồ ạt, 10 mục tiêu từ 15 hương bị đánh mạnh. Trận oanh tạc ngưng ngày 29, Hà nội chịu trở lại hòa đàm..

Mục đích trận oanh tạc này để kéo BV trở lại bàn hội nghị
(This time, he had only one goal: to bring Hanoi back to the negotiating table, No Peace No Honor trang 215)

Nhờ đó Quốc hội Mỹ sẽ không có cớ để ra luật chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước đổi lấy tù binh, có nghĩa là Nixon đã giữ được VNCH không bị mất về tay CS ít ra là trong lúc này.

Thiệt hại về vật chất hạ tầng cơ sở của BV rất nặng (nguồn Wikipedia: Operation Linebacker II): Không quân ước lượng 500 đường xe lửa bị đình chỉ hoạt động, 372 toa xe lửa và ba triệu gallons săng dầu bị phá hủy, 80% điện năng của BV bị hư hỏng. Nhập lượng tiếp liệu vào BV được tình báo Mỹ đánh giá là 160,000 tấn hàng tháng khi mới tiến hành chiến dịch. Đến tháng 1/1973, nhập lượng này đã tụt xuống còn 30,000 tấn, vào khoảng năm lần.

Theo Nixon (No More Vietnams trang 158) , dư luận báo chí trong nước Mỹ lên án chính phủ trải thảm các khu cư dân BV, nhưng theo các số thống kê chỉ vào khoảng 1,300 cho tới 1,600 người, đó là điều đáng tiếc nhưng số tử vong này không thấm gì so với hồi Thế chiến thứ hai, hơn 35,000 người bị giết tại Dresden, Đức quốc trong ba cuộc oanh tạc và hơn 42,000 người bị giết trong 6 đêm oanh tạc tại Hamburb, một thành phố lớn của Đức và hơn 83,000 người Nhật bị giết chỉ trong hai ngày khi chúng ta ném bom lửa tại Tokyo năm 1945. Nếu chúng ta nhắm mục tiêu dân sự thì số người thiệt mạng sẽ tăng lên gấp hàng trăm lần như thế.

Stanley Karnow, trong Vietnam , A History trang 668 xác nhận số tử vong do BVchính thức thông báo là 1,318 người tại Hà Nội và 305 người Hải phòng thua xa trận ném bom lửa tại Tokyo năm 1945 có tới 84,000 người chết trong một đêm. Karnow cho biết sự phản đối của người dân tương đối thầm lặng vì quân đội Mỹ đã rút gần hết về nước, chiến tranh không còn gây phân hóa mạnh, trái lại báo chí lên án dữ dội, Đức Giáo Hoàng Paul Đệ Lục nói ngài rất đau buồn vì trận oanh tạc trong một buổi tiếp kiến tại Vatican.

“Một ký giả Pháp duy nhất ở tại chỗ truyền đi một bản tin để rồi báo chí đài phát thanh, truyền hình Mỹ dựa theo đó nói đây là ‘oanh tạc trải thảm’ Hà nội Hải phòng. Nhưng ngay sau đó ký giả Malcolm Browne của tờ New York times truyền đi từ Hà Nội nói sự thiệt hại đã được phóng đại nhiều lần và những ký giả ngoại quốc khác cũng nhìn nhận như thế. Cả Trần Duy Hùng, Chủ tịch uy ban nhân dân thành phố Hà Nội cũng xác nhận thế. Các nhà phản chiến Mỹ viếng thăm thành phố trong trận oanh tạc đã xúi ông Chủ tịch ủy ban cứ “hê” lên có mười ngàn người bị giết vì bom đạn nhưng ông này từ chối, sợ làm mất uy tín cho chính phủ của ông”
Vietnam, A History trang 667, 668

Thế mới biết nhóm phản chiến gian trá, CSBV còn phải thua. Theo Karnow sau chiên tranh ông viếng Hà nội thấy đa số các tòa nhà của hai thành phố không bị tàn phá cũng như không được xây dựng lại. Thật ra B-52 đã được thảo chương chình điện tử tránh khu dân sự và nhắm mục tiêu rất chính xác, chỉ có một số ít trường hợp bom lạc như khu Khâm Thiên có hơn hai trăm người bị giết, nhà thương Bạch Mai trúng bom có có 18 người chết trong số khoảng một trăm bệnh nhân và nhân viên y tế.
Thiệt hại phía Mỹ không phải là ít: 15 B-52, mỗi chiếc trị giá 8 triệu dollars thời đó và và 12 máy bay oanh tạc chiến đấu, mất 93 phi công và phi hành đoàn trong đó có 31 người bị bắt.

Bàn luận về trận Linerbacker II

Việc sử dụng B-52 trong trận này có nhiều ý kiến khác nhau, những người tán thành cho rằng đó là một đòn nặng để đưa BV trở lại bàn Hội nghị trước khi Quốc hội tái họp và ngăn chận toàn bộ chiến dịch nếu bom không khuất phục được họ.

Những ý kiến chống đối cho rằng kế hoạch táo bạo này sẽ không có kết quả, chết chóc nhiều và tốn kém cho Hoa kỳ vì B-52 rất đắt tiền. Kế hoạch sẽ làm cho Mỹ bị mang tiếng, không được người dân ủng hộ, những người tin việc ném bom khu kỹ nghệ để làm suy yếu BV không dễ dàng lắm.

“Ngoài ra Sài Gòn cần phải bị gây áp lực chứ không phải Hà Nội. Thật là bất công khi khi oanh tạc BV tàn bạo vì hòa đàm tan vỡ do TT Thiệu gây ra từ trước”
(Walter Isaacson trong Kissinger A Biography trang 468)

Trận Linerbacker II bị trong nước kết án nặng nề: Tờ Washington post ngày 28 nói cuối tháng 10/1872 Kissinger tuyên bố hòa bình trong tầm tay nay lại diễn ra trận oanh tạc vô nhân đạo. Tờ New York Times diễn tả trận này là điều ô nhục trên trái đất, Thượng nghị sĩ Mansfield nói đây là chiến thuật thời kỳ đồ đá…Chính TT Nixon cũng cũng ghi nhận về những dư luận chống đối ông như:

Một tờ báo viết dân tộc văn minh sẽ ghê sợ hình ảnh không quân mạnh nhất thế giới tấn công tàn bạo một nước Á châu bé nhỏ không kể gì tới nguyên tắc nhân đạo. Có tờ chỉ trích ông là một bạo chúa điên, một trận tàn sát mang danh người Mỹ.

Nói về nguyên do đưa tới trận Linerbacker II, có nhiều ý kiến như: Nixon và một số nhà nghiên cứu nói BV bỏ Hội nghị ngày 13/12/1972 để chờ phiên họp Quốc hội đầu tháng 1/1973, họ hy vọng Lập pháp sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh có lợi cho họ. Vì nhận định sai lầm như thế nên họ đã phải trả giá cao.

Theo Walter Isaacson trong sách kể trên trang 470, tại BV đòi hỏi quá đáng và lý do chính Hà Nội bị oanh tạc vì Kissinger và Nixon tin rằng cần phải có chút nhượng bộ cho Sài Gòn đỡ mất mặt. TT Thiệu đã thách đố Kissinger và cố chấp.

Sau này Kissinger viết
“Lỗi lầm chính mà Bắc Việt đã phạm phải trong cuộc đàm phán với Nixon là họ đã dồn ông vào chân tường “
(No Peace No Honor trang 215)

Larry Berman cho rằng B-52 là lá bài chót của Nixon (The B-52s were his last roll of the dice, trang 215)

Ngoài ra Larry Berman (No Peace No Honor trang 176-177) cho biết nay cuộc nghiên cứu mới dựa vào tài liệu của văn khố Hà nội cho biết sự nhượng bộ của Lê Đức Thọ đã khiến giới lãnh đạo Mặt Trận Giải Phóng (tức VC) ngạc nhiên và bất mãn. Từ 1968 VC đòi Thiệu phải bị loại bỏ. Giáo sư Brigham cho biết MTGP đòi thả tù chính trị tại miền nam VN và Thiệu phải ra đi. MTGP chính thức phản đối Bộ Chính trị, Nguyễn Thị Bình họp với Xuân Thủy, Lê Đức Thọ, Hà Nội cam đoan với Thị Bình việc thả tù Mỹ có liên hệ thả tù chính trị VC và Thiệu chỉ là bù nhìn cho tới khi bầu cử xong ở miền nam.

Nhưng giai đoạn này Hà nội lại không quan tâm tới tù chính trị VC còn bị VNCH giam giữ. Ngày 16/10/1972 Thọ thỏa thuận việc thả tù binh Mỹ không liên hệ với thả tù VC. Khi Kissinger tuyên bố hòa bình trong tầm tay ngày 26/10/1972, MTGP (VC) chính thức than phiền Hà Nội đi quá xa chỉ quan tâm tới kẻ địch, tù binh Mỹ hơn là lo cho các đồng chí còn bị giam ở miền nam VN. Việt cộng không vội ký Hiệp định trong khi BV muốn ký gấp.

Giáo sư Bragham nhận xét

“Những người ở trong nam dù CS hay không CS (tức VC và VNCH) không hiểu sao BV vội vã ký Hiệp định trong chính sách của họ về miền nam
(Many southerners, communists and non-commmunists alike, simply could not understand Lao Dong’s haste to reach an agreement on its policies towards the south”)
No Peace No Honor trang 176-177

Và Larry Berman giải thích thêm

Điều này có ý nghĩa về hậu quả tháng 12 (tức trận bom) khi Hà nội chịu thêm trận Linerbacker II chỉ vì MTGP đã áp lực (BV) để đòi thêm nhượng bộ (từ phía Mỹ). Nhiều người miền Bắc oán hận muôn đời các đồng chí CS anh em ở miền nam, vì CS miền Nam mà miền Bắc phải bị ăn trận đòn chí tử.”
(This would have significant consequences in December, when Hanoi endured the next wave of Linerbacker bombings because the NFL had exerted such pressure for new concessions in Paris . Many Northerners never forgave their Southern commmunits brothers for making them endure such punishment)
Sách đã dẫn trang 176-177

Giữa VNCH và Mỹ có sự chia rẽ, MTGP (VC) cũng không đồng ý với BV, họ đòi BV phải bỏ những nhượng bộ tháng 10/1972 vì nếu không loại bỏ Thiệu thì MTGP sẽ chẳng được tí gì, bao nhiêu hy sinh chỉ là công dã tràng. Chính vì MTGP yêu cầu BV phải đòi hỏi Mỹ nhượng bộ thêm (như loại bỏ Thiệu) mà hòa đàm tan vỡ dồn Nixon vào chân tường để rồi đưa tới trận đòn ác liệt như trên.

Kissinger A Biography trang 470, tác giả Walter Isaacson nhận xét xin tóm lược như sau: BV căm giận trận bom tháng 12 có lẽ vì họ đòi hỏi quá, lý do chính Hà nội bị trận đòn vì Kissinger và Nixon tin rằng cần phải có chút nhượng bộ cho Sài Gòn đỡ mất mặt. TT Thiệu đã thách đố, lên án Kissinger và ngang bướng. Sự thiệt hại thể diện của Mỹ và tiếng tăm của Kissinger rất lớn, ông ta cho đây là thất bại lớn nhất trong đời ngoại giao cùa mình.

Đa số các nhà chính trị, quân sự, các ký giả, các nhà học giả nghiên cứu chiến tranh VN đã nhận định trận oanh tạc cuối tháng 12/1972 không mang lại kết quả mong muốn có nghĩa là Hiệp định ký ngày 27/1/1973 không đòi hỏi được gì thêm so với bản Dự thảo trước đó 3 tháng (tháng 10/1972).

Walter Isaacson cho rằng Hà nội bị ném bom để thay đổi một hiệp ước mà Mỹ đã chấp nhận. Sự thay đổi mà nhiều người phải thiệt mạng nhỏ đến nỗi Nixon, Kissinger có thể nghĩ nó thế nào.

Sau này Kissinger nói.
Thật ra tôi không dám chắc rằng Nixon có thực sự hiểu những thay đổi ấy như thế nào không.
(In fact, I’m not sure that Nixon ever really understood what those change were)
Kissinger A Biography trang 470.

Riêng về điểm này, người ta thường chê Kissinger lươn lẹo, chính ông ta đã nhiều lần đề nghị Nixon oanh tạc BV để tạo thế mạnh tại bàn hội nghị, nay lại đổ trách nhiệm cho Tổng thống.

Trong Vietnam, A History trang 669, Stanley Karnow cho biết.

“Nixon nói chúng ta đã thực hiện hòa bình trong danh dự, nhưng Hiệp định Paris ký ngày 27/1/1973 không khác sơ thảo Hiệp định tháng 10 (1972) là mấy. Cuộc oanh tạc của Nixon là thừa- ít nhất như một khí cụ ngoại giao. Tuy nhiên mục đích của ông không phải là ngoại giao, ông cố trấn an ông Thiệu và cảnh cáo CS là sẽ sẵn sàng tái oanh tạc BV nếu Hiệp định bị vi phạm”

Marvin Kalb, Bernard Kalb trong cuốn Kissinger trang 412 cũng nói về khuyết điểm của việc ký kết, Hiệp định ký kết 23/1/1973 (Kissinger ký tắt với Thọ ngày 23) xem ra không hơn gì bản Dự thảo hai bên định ký ngày 26/10/1972 trước đó đúng ba tháng mặc dù đã oanh tạc BV ồ ạt tháng 12. Điều này có nghĩa là trận oanh tạc Linerbacker II dữ dội nhưng không đòi BV nhượng bộ thêm tại bàn hội nghị mà chỉ để nâng cao tinh thần của Sài Gòn và hủy hoại tiềm lực chiến tranh của Hà Nội.

Theo Walter Isaacson (Kissinger A Biography, trang 483) Negroponte, phụ tá Kissinger nói

“Chúng ta oanh tạc BV để buộc họ chấp nhận nhượng bộ của ta” (We bombed the North Vietnamese into accepting our concessions).

Negroponte và Tướng Haig tưởng rằng trận Linerbacker II để ký một Hiệp định thuận lợi như đòi BV phải rút khỏi miền nam mà chẳng đòi được gì cả.
Nhưng mục đích của trận oanh tạc không phải chỉ để đòi thêm những khoản tốt hơn nhưng để đưa BV trở lại bàn hội nghị

“Lần này ông (Nixon) chỉ có một mục đích đưa Hà Nội trở lại bàn hội nghị”
(This time, he had only one goal: to bring Hanoi back to the negotiating table, No Peace No Honor trang 215)

Thật vậy, như đã nói ở trên, phái đoàn Hà Nội phá vỡ hòa đàm, không chịu trở lại Hội nghị mà ngồi chờ Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh nên Nixon phải nhanh tay xử dụng tối đa sức mạnh để khuất phục kẻ địch. Ngoài ra như Nixon đã nói trong No More Vietnams, việc đòi BV rút quân không thể thực hiện được vì đối với CS thà không ký còn hơn. Vả lại trước áp lực của Quốc hội Nixon phải ký gấp không thể chần chờ thêm được nữa.

Nhận xét

Nhiều giới chức quân sự, chính trị, nhà nghiên cứu… sau này tiếc Mỹ đã không làm mạnh những năm trước như từ 1967, 69….Họ cho rằng nếu đã oanh tạc CSBVdữ dội như trận Linerbacker II thì họ đã chịu chấp nhận từ bỏ mộng xâm lăng miền nam VN.
Tướng Haig, phụ tá Kissinger nói.

“Tôi xin quả quyết, tin chắc một cách tuyệt đối rằng nếu chúng ta làm mạnh từ 1969 như đã làm cuối 1972 thì cuộc chiến đã được giải quyết từ lâu và ta đã lấy được tù binh, đạt được mục đích …. Đúng ra ta phải quyết định dứt khoát hơn trong việc xử dụng sức mạnh để giải quyết tận gốc vấn đề .. . Tôi nghĩ năm 1969, khi tân Tổng thống nhậm chức (tức Nixon), ông phải oanh tạc Hà Nội ngay, động viên lực lượng của ta trong nước, cảnh báo Sô Viết… và làm tất cả những việc đáng lý phải làm từ thời chính phủ Johnson, như thế chắc chắn cuộc chiến sẽ không kéo dài thêm ba năm, chắc đã có thỏa ước ký kết và quân xâm lược BV phải rút hết khỏi miền nam VN”
No Peace No Honor trang 57

Theo Larry Berman cuộn băng của tòa Bạch Ốc tháng 6/1971 mới được bạch hóa cho thấy niềm tiếc nuối của Nixon.

Haldeman nói: Cuộc chiến này thất đức hơn hết thẩy những cuộc chiến mà chúng ta đã tham dự vì một lý do là ta đã không muốn tận dụng tiềm lực để chiến thắng.
Nixon đáp: . . ..Khoảng tháng 11 năm nay (1971), tôi sẽ chơi canh bạc táo bạo. Chừng nào ta còn không lực – ta sẽ không bận tâm tới chuyện ngưng ném bom, ta sẽ ném bom đê điều, nhà máy điện (BV), ta sẽ ném bom Hải phòng, (ông đập bàn nói) ta sẽ san bằng cái đất nước khốn nạn đó (tức BV).

Kissinger: Thưa Tổng Thống, tôi nghĩ người dân Mỹ hiểu thế.
Nixon: . . ..Ủng hộ việc ấy, ta sẽ coi họ là ai. Vấn đề là ta sẽ không khóc than, và ta sẽ không thua cuộc.. Đó là…
Kissinger: Thưa Tổng thống, tôi nhiệt liệt ủng hộ kế hoạch ấy, tôi nghĩ ta phải làm thế”.
No Peace No Honor trang 58.

Nixon thường chỉ trích Johnson không chịu làm mạnh những năm giữa thập niên 60, ngay chính ông, nhậm chức 1969 mặc dầu cứng rắn hơn trước nhiều nhưng cũng không dám làm mạnh như oanh tạc BV ồ ạt từ 1969, 1970.. để giải quyết tận gốc cuộc chiến tranh sa lầy. Trước hết người ta sợ vấp phải sự phản kháng quyết liệt của người dân trong nước cũng như sợ Tây phương lên án và nhất là Xô Viết, Trung Cộng có thể can thiệp mạnh hơn đưa tới những hậu quả khôn lường.

Trong Kissinger A Biography trang 470, tác giả Walter Isaacson cho rằng quyết định ném bom tháng 12/1972 mục tiêu thành phố BV là một hành động ám ảnh nước Mỹ và Kissinger cho tới ngày nay.

“Sự thiệt hại cho uy tín của Hoa Kỳ và tiếng tăm của Kissinger phải nói là rất lớn”

Thực ra Lê Đức Thọ đã cố tình phá vỡ hòa đàm, bỏ họp từ ngày 13/12/1972 và không hẹn ngày trở lại, đó không phải chỉ là sự thách đố, sỉ nhục Kissinger, Nixon mà cho cả Hoa Kỳ. Trận oanh tạc này chẳng qua là để cứu vãn danh dự cho người Mỹ, đã lôi cổ BV trở lại bàn hội nghị thay vì phải đầu hàng CS một cách hèn hạ nhất. Nhờ Nixon nhanh tay sử dụng sức mạnh của B-52 mà Hà nội phải trở lại bàn hội nghị nếu không có thể thảm kịch sẽ sẩy ra: Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh, rút quân, cắt viện trợ VNCH để đổi 580 tù binh Mỹ. Hà nội đã chịu thua trong canh bạc táo bạo này, trận oanh tạc long trời lở đất đã cứu được Đông Dương sụp đổ ít ra là trong lúc này.
Ngoài ra TT Nixon có nói.

“Trận ném bom đã đạt mục đích quân sự, chúng ta đã đánh phá tan nát bộ máy chiến tranh của Bắc Việt”
No More Vietnams, trang 158.

Bắc Việt bị suy yếu nhiều, nhưng VNCH chỉ tồn tại thêm được hơn hai năm vì hậu quả của vụ Watergate và vì bị Quốc hội phản chiến cắt hết viện trợ, Nixon và Kissinger chỉ có thể làm được đến thế trong khả năng hữu hạn của hai người.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

(trích trong Nixon và Kissinger Bán Đứng Đồng Minh, xuất bản 2012)

—————————————————-
Tài Liệu Tham Khảo

Richard Nixon: No More Vietnams , Arbor House, New York 1985
Marvin Kalb and Bernard Kalb: Kissinger; Little, Brown and company 1974
Walter Isaacson: Kissinger A Biography Simon & Schuster 1992.
Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam -The Free press 2001
Henry Kissinger: Years of Renewal- Simon & Schuster 1999
Robert Dallek: Partners In Power, Nixon and Kissinger – Harper Collins publishers 2007
Rebecca Larsen: Richard Nixon, Rise and Fall of a President, Franklin Watts 1991.
Elizabeth Drew: Richard M. Nixon, Times Books 2007.
Jonathan Aitken: Nixon a Life, Regnery Publishing, inc 1993
The Word Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985
Stanley Karnow: Vietnam , A History, A Penguin Books 1991
Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
* * *
Wikipedia: Operation Linebacker II
The Hauenstein Center for Presidential: Nixon and the Christmas bombing.
AirSpacemag.com, Military Aviation: The Christmas bombing.
Commondreams.org: The Christmas bombings, by James Carrell.
Namvets.com: Vietnamese remember Christmas from hell.
U.S Centenial of flight commission: Linebacker II bombing raid.
History.com, History made every day: Nixon announces start of Christmas bombing of North Vietnam .
Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war

Tags:

38 Phản hồi cho “Trận oanh tạc Linerbacker II cuối năm 1972”

  1. Dâm Tiên says:

    – TRUTH ABOUT BOMBING OVER NORTH VN,- U.S. PILOTS were forbidden to bomb Soviet-made SAM missile sites under construction, but they could risk their lives flying into launched missiles after the sites were operational. They could not destroy communist aircraft on the ground but they could attack them when they were armed and in the air. Truck depots 200 yards away from a main road were forbidden targets, but they could be attacked when they were on a main road. Pilots flying over ships on there way to Vietnam’ s harbors could not fire upon these ships even though they knew they were laden with war materials for use against American forces, etc. ( Bud Landry).

    Sự thật về phi vụ không tập tại miến bắc VN : Phi công HK không được ném bom trên những dàn hỏa tiễn Soviet đang thiết lập, trừ trường hợp các hỏa tiễn đang được phóng lên truy kích họ. Phi công HK không được triệt phá phi cơ CS dưới đất, nhưng được quyền tấn công phi cơ võ trang địch lên nghênh chiến. Phi công HK không được bắn phá những quân xa chở chiến cụ địch nắm cách lộ chánh 200 yards, nhưng được đánh phá chúng khi nằm trên trục lộ chánh. Phi công HK không được đánh phá các tàu thuyền hướng đến các hải cảng VN, dù biết rằng các tàu thuyền đó chuyên chở những chiến cụ nhằm chống đánh lực lượng Hoa Kỳ, vv. ( Ký giả (?) Bud Landry.

    ( Tài liệu ghi tặng tác giả. Đây mới là tài liệu sống động liên quan tới mục đích…đích thực của HK tại VN. Mục đích chiến tranh của HK tại VN là gì? Dâm Tiên sẽ xin hầu chuyện tác giả sau) Kính, DÂM

  2. Phó Thương Dân says:

    Các ông ơi bom đạn pháo hỏa tiển của Liên Sô của Mỹ vì đâu mà dội lên đầu người dân vô tội? tại vì anh em Nam Bắc kẻ dại chợ người khôn nhà rốt cục chỉ có màu đỏ da vàng chết thảm , các ông chưa nếm mùi Bom 52 của Mỹ , Hỏa tiển 22 ly và cành nông 130 ly của Liên Sô? nếu thoát chết chắc không màn chuyện ai thắng ai bại . Ấy thế mà có người khai thác chuyện “thắng – bại” luận anh hùng . Anh Bộ Đội hùng dũng vào Sàigòn cướp của còn khoe “giải phóng” làm dân Sàigòn dở khóc dở cười, “anh hùng giải phóng miền Nam ” xong là vài năm sau giải phóng Miên cộng luôn cho thêm anh hùng , ô lala , đàn anh Hán tộc bạt tai đá đích người “anh hùng” Bắc Việt QĐND , sau cú đòn này “anh hùng” thành anh hèn , vậy mà Huy Đức còn khựa chuyện “Bên Thắng Cuộc” rêu rao khắp nơi không biết người anh hùng có hổ thẹn hay không? Thôi đi ông Huy Đức, xem bài Mừng Lễ Giáng Sinh bằng vòng hoa B52 sẽ thấy tội nghiệp dân tộc Việt Nam . Bây giờ các anh hùng thấm mệt vì đếm tiền và vàng đang cuốn gói đánh bài tẩu mã, ôi thôi ” anh hùng thắng trận” năm xưa bây giờ mập mạp bề thế nặng cân bầu bỉnh sợ chạy không xa . . . chạy đi đâu cũng có kẻ thua trận đón rước “niềm nỡ.” Mời các ông xem :

    Thư của ông LÊ-QUANG-LIỄN gửi ông HUY-ĐỨC tác giả cuốn “Bên Thắng Cuộc”
    2012/12/15 Lien Le

    Thưa tác giả Huy Đức,

    Được nghe,đọc nhiều quảng cáo trên internet về tác phẩm Bên Thắng Cuộc của ông . Cho nên tôi cũng tò mò tìm đọc cho biết.

    Trong ChươngII, tiểu mục Ngụy Quân trang 52, tình cờ tôi đọc những điều người vợ cũ của tôi (theo sách là gia đình “Cách mạng”) và được Phan Xuân Huy(1) phỏng vấn (?), viết về chuyến đi thăm tôi ở trại tù tháng 9 năm 1975 và được đăng tải trên báo Tia Sáng năm 1975. Tôi rất ngạc nhiên và ghê tởm, sau gần 40 năm mới hay, về những điều mà nhà báo PXHuy đã viết ra và gán ghép cho kẻ vắng mặt vì những lý lẽ sau đây:

    ***trại tù như một trại Hè
    ***ca tụng về cuộc sống lành mạnh ở Trại tù
    ***..” đã bị tên tướng ngụy Bùi Thế Lân bỏ kẹt tại cửa Thuận An và đã cùng toàn bộ binh lính trong Tiểu đoàn 7 đầu hàng quân đội giải phóng…”

    Thật ra toàn bộ anh em TQLC đã bị bắt, nếu anh em chúng tôi ra hàng thì đã được hưởng qui chế đãi ngộ hàng binh như Phạm Văn Đính và một số đồng bọn thuộc Trung Đoàn 56. Vả lại, đơn vị chúng tôi lúc đó thuộc quyền của Bộ Tư Lịnh Tiền Phương Quân Đoàn I.Ở đây, vị Tư lịnhTQLC không có trách nhiệm nào hết. Người chịu trách nhiệm là Trung Tướng Lâm Quang Thi mới đúng nghĩa hơn.Khi viết toàn bộ ra hàng là điều cố tình hạ nhục anh em chúng tôi khi thất thế!!

    Nếu ông Huy Đức biết rõ thêm về tôi là người tù cuối cùng của Lữ Đoàn 147 TQLC ra khỏi trại tù ngày 12 tháng 2 năm 1988 sau gần 13 năm tù ngục với 4 năm 7 tháng 24 ngày bị “kiên giam” còng tay,chân,bị đánh gảy xương sườn vì những chống đối tập thể trong Trại tù Bình Điền, Thừa Thiên.Thì phần trích dẫn từ bài viết của tên nhà báo PXHuy là thiếu trách nhiệm.

    Tôi biết PXHuy(1) là thành phần đối lập cơ hội với chế độ VNCH trước năm 1975 mà tôi tận trung phục vụ. Có lẽ trong những ngày tháng đầu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975,Phan Xuân Huy – cũng như một số người nhẹ dạ – vì muốn tìm chỗ đứng an toàn trong lòng chế độ mới bằng những bài viết,những câu nói, với những nhận thức “sâu sắc của mình” về cái hay ,cái đẹp của chế độ XHCN. Một nhà báo chân chính phải viết cho sự thật,vì lương tâm thì đừng bao giờ gán, chụp cho những người vắng mặt những gì vì lợi ích cho bản thân,phe nhóm. Tôi gửi đến tác giả Huy Đức những nhận xét của tôi về phần trích dẫn trong sách và mong được hoàn chỉnh sự chính xác cũng như trách nhiệm của người viết.

    Trân trọng,

    Lê Quang Liễn
    _______

    LỜI XIN LỖI CỦA TÁC GIẢ HUY ĐỨC trên Facebook:

    Sách Bên Thắng Cuộc shared a link via Vu Thi Phuong Anh.

    Ước chi tôi có thể gặp được ông Lê Quang Liễn trước khi viết cuốn sách này. Như tôi đã nói trong cuốn sách, phần lớn những bài báo viết về tù cải tạo hồi tháng 9-1975 đều là sản phẩm tuyên truyền. Việc Bên Thắng Cuộc trích đăng những bài viết mà báo chí lúc đó viết về quân đội Việt Nam Cộng hoà là để cho thấy họ không chỉ bị giam cầm mà còn bị tra tấn bởi cả công luận. Ông Lê Quang Liễn đúng là hiểu lầm, nhưng nhờ thế tôi mới có thể tìm thấy nhân vật của mình. Xin lỗi và xin cám ơn ông. Hy vọng việc xuất bản sách sẽ giúp tác giả gặp them những nhân chứng như ông Liễn để phỏng vấn thêm và để bổ sung tư liệu cho lần xuất bản tới.

  3. Nguyen Trong Dan says:

    Trung cộng nếu muốn tràn 500 TRIEU quân trợ chiến , đương nhiên Bắc Việt , bổn phận là một tên taY sai cho cộng sản Quốc tế , lấY cái quYền gì mà dám từ chối bề trên.

    Vậy thì sự thực ra sao?

    BẮC KINH KHÔNG MUỐN THAM CHIẾN TRỰC TIẾP TẠI VIỆT NAM VÌ BỊ TỔN QUÁ NẶNG TẠI TRIỀU TIÊN ( BÀI HỌC TRIỀU TIÊN )

    Mao Trạch Đông đã khẳng định ,

    “…Càng đánh Hoa KỲ , đã không thể thắng mà còn càng lúc càng kiệt quệ và phụ thuộc càng nhiều vào Viện trợ Liên Xô , các đồng chí muốn điều đó xảy ra không? Tham chiến trực tiếp vào Bắc Việt là một sự ngu xuẩn cần né tránh ” ( The Private life of Chairmain Mao , Zishui Li )

  4. Lính Già Bộ Đội says:

    Trả Lời Người Buôn Mộng,

    Bởi vì Anh là người buôn mộng
    Bán cho Dân giấc mộng bình thường
    Những người Dân lam lũ hiền lương
    Sống Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ.

    Nhưng chúng nó lũ người bán mạng
    Bao triệu người mua mộng nhầm đường
    Bởi vì chúng một lũ gian thương
    Bán biên cương, núi sông biển đảo

    Chúng tự xưng “anh hùng giải phóng”
    Buôn mạng người sanh Bắc tử Nam
    Dân nghèo đói không gì mua mộng
    Đổi máu xương nhầm kẻ gian tham

    Tàn ác với Dân, hèn với giặc
    Bọn buôn người, tham nhũng bất lương
    Có ngày Dân đòi lại máu xương!
    Mua giấc mộng Tự Do Dân Chủ

  5. Người Buôn Mộng says:

    Chuyện xảy ra đã 40 năm rồi, đúng hay sai cũng đâu có thay đổi được hậu quả?

    Nixon đã qui tiên; Kissinger cũng đang gần đất, xa trời. Người Mỹ có mấy ai còn nhớ hay muốn nói đến chuyện chiến tranh VN?

    Người thua trận có tốn bao nhiêu hơi sức khơi quật lại quá khứ có lẽ chỉ khiến cho mày tên cầm đầu ở Bắc Bộ Phủ mỉm cười, khoái trá mà thôi.

    Đề nghị ai có giỏi/thích viết, xin hãy trình bày làm sao có thể chấm dứt chế độ CS ở VN cho dân Việt được nhờ …

    • Trần Kiên says:

      Muốn chấm dứt chế độ CS ở VN? Dễ thôi mà, mấy người ở hải ngoại muốn hả, vậy về VN mà đánh nhau với họ, còn mấy người trong nước ai ghét chính quyền họ cũng tỏ thái độ, chống đối, nếu họ mạnh, họ đông thì chính quyền thua, lèo tèo vài thằng bất mãn thì chứng tỏ người bất mãn chống đối chính quyền ít. Còn mấy người hải ngoại ghét, thù chính quyền VN mà lại kích động dân trong nước hả, khó đấy vì họ biết tỏng cái bản chất của mấy chú bán nước phá hoại rồi, vừa hèn vừa ngu sao mà nói người khác nghe được!

  6. Lão Ngoan Đồng says:

    Thưa tác giả và bà con,

    Xin cám ơn tác giả Trọng Đạt đã dầy công nghiên cứu và sắp đặt lại diễn tiến lịch sử thật mạch lạc, để giải mã cho nguyên nhân và hậu quả cuộc ném bom không tiền khoáng hậu của không lực Mỹ trên bầu trời Bắc Việt trong lúc cuộc chiến sắp tàn.

    Nhân đâ tôi cũng xin trình bày cái nhìn riêng rất tổng quan về tình hình miền Nam thời đó như sau:

    1/
    Ai cũng rõ Mỹ hất cẳng Pháp để trực tiếp can thiệp vào Đông Dương nói chung và VN nói riêng, với mục đích “BE BỜ TỪ XA”, để ngăn chặn làn sóng đỏ lan rộng ra khắp thế giới. Chính vì thế từ đầu thập niên 50 các American thinktank đã nghiên cứu và nặn ra cái gọi là THUYẾT DOMINO !

    Dĩ nhiên cả Tàu cộng lẫn Liên Xô và Bắc Việt đều thấu rõ điều này, xuyên qua kinh nghiệm nội chiến ở bán đảo Triều Tiên hồi nửa đầu thập niên 50 như ai cũng rõ. Mỹ can thiệp mạnh đuổi Cộng quân Bắc Hàn áp sát biên giới Tàu là Bắc Kinh cho ngay một triệu lính tình nguyện (chí nguyện quân) sang cứu và quyết sống mái một phen với quân Liên Hiệp Quốc.
    Nói tóm tắt, Bắc Hàn và Bắc Việt phải là vùng TRÁI ĐỘN, nhằm bảo vệ Tàu lục địa.

    2/
    Biết được thóp của Mỹ nên Bắc Việt đã không ngần ngại ra quyết định xâm lăng miền Nam bằng vũ lực vào Đại hội Ba đảng CS hồi năm 1960. Và sau đó dốc hết toàn lực vào chiến trường miền Nam, khiến Mỹ cũng vội vã leo thang chiến tranh, gậy ra sự kiện Bắc Bộ để có cớ chính đảng can thiệp vào chiến trường miền Nam, bất kể những chống đối từ chính quyền dân cử Ngô Đình Diệm.
    Việc sát hại anh em ông Diệm cho thấy rõ dã tâm của Mỹ, quyết can thiệp mạnh ở VN vào thời Kennedy.

    Nhân đây cũng nói luôn Kennedy là vị tổng thống trẻ tuổi của Mỹ hăng máu nhất trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Chắc hẳn ai ai cũng còn nhớ Kennedy ủng hộ phía lưu vong Cuba qua cái gọi là Vụ Đổ bộ ở Vịnh con Heo, khi Kennedy mới lên cầm quyền; rồi sau này những căng thẳng ở vùng biển quanh Cuba suýt đưa đến Thế chiến Ba, (do LX dự tính đặt hoả tiễn mang đầu đạn nguyên tử chĩa vào Mỹ. Thực ra ta cũng nên tìm hiểu tại sao Cút-Xếp vốn chủ trương sống chung hoà bình với tư bổn trong Đại hội đảng CS LX lần thứ 20 vào năm 1956 lại trở mặt làm găng với Mỹ ? Có phải do Mỹ đã tìm mọi cách bao vây LX qua cái gọi là tổ chức NATO chăng ? Cũng nên biết thêm là, ở Cuba Mỹ đã có căn cứ quân sự Guatanamo và dân tư bản Mỹ vốn coi Cuba trước đây như một vệ tinh của họ. Hiện nay Mỹ vẫn tìm cách bao vây Liên bang Nga bằng sự rù quến các chư hầu LX cũ cho đặt hàng rào điện tử và tên lửa mang tên là Chiến Tranh Vì Sao / Star War để chống lại tên lửa từ Trục Ác như Iran chẳng hạn !)

    wikipedia
    Sự kiện Vịnh Con Lợn (còn có tên La Batalla de Girón, hoặc Playa Girón ở Cuba), là một nỗ lực bất thành của lực lượng những người Cuba lưu vong do CIA huấn luyện để xâm chiếm miền nam Cuba với sự hỗ trợ của quân đội chính phủ Hoa Kỳ, nhằm lật độ chính phủ của Fidel Castro ở Cuba.
    Kế hoạch được tiến hành vào tháng 4 năm 1961, chưa đầy ba tháng kể từ khi John F. Kennedy lên nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ. Quân đội Cuba, được sự huấn luyện và trang bị từ các quốc gia thuộc Khối phía Đông, đã đánh bại đội quân lưu vong trong vòng ba ngày. Quan hệ Cuba – Hoa Kỳ đã xấu còn tiếp tục tồi tệ hơn sau đó với Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962.
    Sự kiện này được đặt tên theo Vịnh Con Lợn, một cách dịch từ tiếng Tây Ban Nha Bahía de Cochinos. Cuộc đổ bộ chính trong sự kiện xâm lược này diễn ra tại bờ biển Playa Girón, nằm ở cửa vịnh.

    wikipedia:
    Khủng hoảng tên lửa Cuba (tiếng Anh: Cuban Missile Crisis hay còn được biết với tên gọi Khủng hoảng tháng 10 tại Cuba) là một cuộc đối đầu giữa Liên Xô, Cuba với Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 1962 trong thời Chiến tranh lạnh. Tháng 9 năm 1962, chính phủ Cuba và Liên Xô bắt đầu bí mật xây dựng các căn cứ trên đất Cuba để khai triển một số tên lửa đạn đạo hạt nhân tầm trung có khả năng đánh trúng đa số các mục tiêu trên Hoa Kỳ lục địa. Hành động này xảy ra sau sự kiện Hoa Kỳ triển khai tên lửa Thor IRBM trên đất Vương quốc Anh vào năm 1958 và tên lửa Jupiter IRBM trên đất Ý và Thổ Nhĩ Kỳ năm 1961; tổng cộng có hơn 100 tên lửa do Hoa Kỳ chế tạo có khả năng đánh trúng Matxcova bằng đầu đạn hạt nhân. Ngày 14 tháng 10 năm 1962, phi cơ do thám U-2 của Hoa Kỳ chụp được những bằng chứng không ảnh cho thấy các căn cứ tên lửa của Liên Xô đang được xây dựng tại Cuba.

    Cuộc khủng hoảng này có cấp bậc ngang tầm với cuộc phong tỏa Berlin vì đây là một trong các vụ đối đầu chính của Chiến tranh lạnh và thường được xem là khoảnh khắc mà Chiến tranh lạnh tiến gần nhất để biến thành một cuộc xung đột hạt nhân. Hoa Kỳ đã xem xét đến việc tấn công Cuba bằng không lực và hải lực và tiến hành “cách ly” Cuba bằng quân sự. Hoa Kỳ thông báo rằng họ sẽ không cho phép vũ khí tấn công được gởi đến Cuba và đòi hỏi rằng Liên Xô phải tháo bỏ các căn cứ tên lửa đang được xây hay đã xây dựng xong tại Cuba và dẹp bỏ hết tất cả các loại vũ khí tấn công. Chính phủ của Tổng thống Kennedy hy vọng mỏng manh rằng Điện Kremlin sẽ đồng ý với những đòi hỏi của họ và chờ đợi một cuộc đối đầu quân sự. Về phía Liên Xô, Nikita Khrushchev viết một lá thư gửi cho Kennedy trong đó nói rằng việc Kennedy ra lệnh phong tỏa “giao thông trong vùng biển và không phận quốc tế là một hành động gây hấn đưa con người vào vực thẳm của một cuộc chiến tranh bằng tên lửa hạt nhân toàn cầu.” Fidel Castro khuyến khích Khrushchev mở một cuộc tấn công hạt nhân đánh-trước phủ đầu chống Hoa Kỳ.
    [hết trích]

    Ngô Thế Vinh trong tác phẩm đoạt giải thưởng tổng thống đầu thập niên 70 là VÒNG ĐAI XANH (được dịch ra tiếng Anh The Green Belt và cho xuất bản ở Mỹ hồi đầu thập niên 21) tiết lộ cho hay chính phủ Mỹ thời Kennedy đã khai sinh ra đám lính biệt kịch MŨ NỒI XANH (The Green Beret) trực thuộc CIA, để chuyên môn quấy phá ở hậu tuyến địch là CS, nhằm tạo một vòng đai xanh bao vây phe CS hay thân CS (như ở vùng Châu Mỹ La Tinh chẳng hạn)

    3/
    Lyndon Baines Johnson, thường được gọi tắt là LBJ, là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 36, giữ chức từ năm 1963 đến 1969, sau khi Kennedy bị ám sát chết vào giữa nhiệm kỳ (1963). LGJ tiếp tục chính sách cứng rắn với khối Cộng của Kennedy, nên bị sa lầy ở Việt Nam bởi trò chơi “chiến tranh nhân dân” sở trường của phe Cộng.

    wikipedia
    Ông đã gia tăng nỗ lực chiến tranh liên tục từ 1964 đến 1968. Số lượng tử vong của binh sĩ Hoa Kỳ cũng tăng lên. Trong hai tuần tháng 5 năm 1968, số lượng đó là 1.800 với tổng cộng thương vong là 18.000. Viện dẫn thuyết Domino ông nói: “Nếu chúng ta cho phép Việt Nam thất thủ, ngày mai chúng ta sẽ chiến đấu ở Hawaii, tuần tới ở San Francisco.”[cần dẫn nguồn]

    Johnson sợ rằng quá nhiều tập trung vào Việt Nam sẽ làm ông mất chú ý các chính sách Xã hội Lớn (Great Society) của ông. Nhưng sau chiến dịch tấn công Tết tháng 1 năm 1968, nhiệm kì Tổng thống của ông đã bị chiếm hết bởi Chiến tranh Việt Nam hơn lúc nào hết. Vì có nhiều binh sĩ Hoa Kỳ tử trận, sự phổ thông của Johnson xuống dốc. Sinh viên đại học và những người khác tổ chức phản đối, đốt thẻ quân dịch và hô lên những khẩu hiệu như là, “Hey, hey, LBJ, bao nhiêu đứa trẻ đã bị ông giết trong ngày hôm nay?” Vào năm cuối của nhiệm kì, Johnson không thể đi đến bất cứ một nơi nào mà không bị phản đối.

    Sau đó trong một bài diễn văn cuối tháng 3, ông chấn động cả nước khi tuyên bố sẽ không tái tranh cử: “Tôi sẽ không tìm cách, và sẽ không chấp nhận sự đề cử của Đảng tôi cho nhiệm kì Tổng thống kế tiếp”, chỉ vài ngày sau khi trưng cầu dân ý cho thấy chỉ có 29% dân Mỹ ủng hộ chiến tranh.
    [hết trích]

    wikipedia: Richard Nixon / Vietnam war
    When Nixon took office, about 300 American soldiers were dying each week in Vietnam, and the war was broadly unpopular in the United States, with violent protests against the war ongoing. The Johnson administration had agreed to suspend bombing in exchange for negotiations without preconditions, but this agreement never fully took force. According to Walter Isaacson, soon after taking office, Nixon had concluded that the Vietnam War could not be won and he was determined to end the war quickly.

    4/
    Phe chủ chiến thuộc đảng Dân chủ thất bại, dĩ nhiên được thay ngay bằng phe chủ hòa đảng Cộng hòa là Nixon. (Chả khác gì mấy thập niên sau tổng thống Bush con bị thay thế bởi tổng thống Obama vậy).
    Nixon tìm cách rút chân khỏi bãi lầy Đông Dương, cho nên mới có cuộc đi đêm giữa bộ tứ mà một bên là Nixon-Kissinger và bên kia là Mao-Chu !

    Cũng xin nhắc lại luôn là Mỹ dưới thời Nixon đạt được nhiều thành tích vang dội trên trường quốc tế, từ thể dục thể thao cho đến khoa học không gian (mà từ xưa đến lúc đó luôn luôn đi sau Liên Xô một bước)

    Nixon là một chính trị gia rất khôn ngoan và lão luyện. Ông từng làm phó tổng thống thời Eisenhower và từng qua thăm VN vào thập niên 50; nhưng đành thất bại chua cay khi tranh cử với anh chàng thượng nghĩ sĩ con nhà giàu và điển trai, thuộc dạng playboy, không mấy thành tích là JF Kennedy.

    Internet:
    Tất cả 6 lần đổ bộ lên mặt trăng của Mỹ đều diễn ra trong thời gian cầm quyền của tổng thống Richard Nixon. Sau đó không có bất kỳ vị tổng thống nào tuyên bố đưa được phi hành gia lên mặt trăng, dù trình độ khoa học kỹ thuật phát triển rất nhanh trong suốt 40 năm qua.

    wikipedia
    Mark Andrew Spitz (born February 10, 1950) is an American former swimmer, Olympic champion, and former world record-holder. He won seven gold medals at the 1972 Summer Olympics, an achievement only surpassed by Michael Phelps who won eight golds at the 2008 Olympics. Spitz set new world records in all seven events in which he competed, a record that still stands. Since the year 1900, no other swimmer has ever gained so great a percentage of all the medals awarded for Olympic events held in a single Games.

    Between 1968 and 1972, Spitz won nine Olympic golds plus a silver and a bronze, five Pan American golds, 31 US Amateur Athletic Union titles, and eight US National Collegiate Athletic Association titles. During those years, he set 35 world records, but 2 were in trials and unofficial. He was the most successful athlete at the 1972 Summer Olympics. He was named World Swimmer of the Year in 1969, 1971, and 1972 by Swimming World magazine. He was the third athlete to win nine Olympic gold medals

    Nixon lên nắm quyền vào năm 1969 là thời kỳ đen tối cho VNCH, bởi quân CS đã chiếm thế thượng phong về quân sự. Điển hình nhất là Tổng Công kích tết Mậu Thân 1968, tuy CS thất bại về quân sự nhưng thắng lớn về mặt chính trị và trên trường ngoại giao quốc tế qua phòng trào phản chiến ngày một lan rộng ở Mỹ và Âu châu ! Cũng như CS đem chiến tranh vào thành phố, gây hoang mang cho nhiều thị dân, khiến phong trào phản chiến và trốn linh ngày một tăng gia ở miền Nam.
    Nixon cố vùng vẫy qua giải pháp quân sự, bằng sự chuẩn y bí mật cho ném bom vào các vị trí quân Cộng sản Bắc Việt ở Kampuchia vào tháng 3 năm 1969 (bí danh Operation Menu) để cố lùa CS vào bàn hội nghị.
    Tháng 7 cùng năm Nixon thăm viếng miền Nam, hội kiến với giới quân sự Mỹ và tổng thống Thiệu, để rồi ban hành chính sách “Việt Nam hoá chiến tranh” (Vietnamization) ! Tuy nhiên Nixon vẫn chấp thuận cho phía VNCH hành quân sang Lào và Miên để tiểu trừ Cộng quân, nhằm tạo thế mạnh nơi bản thảm xanh hòa đàm sau này !

    Dựa vào những tranh chấp quyết liệt, nhất là ở biên giới chung hai anh lớn trong khối CS là Nga-Hoa, Mỹ đã tìm cách ly gián hai anh này để thủ lợi ! Chính vì thế mà Nixon không ngần ngại bán đứng cả Taiwan lẫn VNCH, nhằm đánh đổi lây Tàu cộng ở Liên Hiệp Quốc.

    Nixon chỉ bị hạ bệ bởi bê bối nhỏ trong vụ án bẩn thỉu Watergate ! Nhưng nhìn chung uy tín của Nixon lên cao qua vụ rút chân khỏi Đông Dương và câu được con cá to là Tàu cộng.

    wikipedia:

    Vụ Watergate là một vụ bê bối chính trị trên chính trường Mỹ, từ năm 1972 đến năm 1974, dẫn đến việc Tổng thống Richard Nixon phải từ chức.

    Vụ việc xảy ra vào thời điểm Chiến tranh Việt Nam, khi chính quyền Nixon đã lạm dụng quyền lực để ngăn cản phong trào phản chiến và lực lượng chính trị đối lập là Đảng Dân chủ.

    Có thể tóm tắt vụ việc như sau. Sau khi bắt năm “tên trộm” đột nhập văn phòng của Đảng Dân chủ tại Khách sạn Watergate (Washington D.C.) vào ngày 17 tháng 6 năm 1972, Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) lần ra manh mối của chiến dịch do thám này: chính các nhân vật thân cận của Tổng thống Nixon, cùng với ủy ban vận động bầu cử của ông đã tổ chức vụ đột nhập này nhắm vào đối thủ chính trị là Đảng Dân chủ. Tuy nhiên, các kết quả điều tra của FBI đã bị ỉm đi dưới những âm mưu che đậy của Nhà Trắng cho tới khi hai nhà báo Bob Woodward và Carl Bernstein của tờ Washington Post công bố trên mặt báo. Quốc hội Mỹ bèn lập ủy ban điều tra. Trước nguy cơ bị quốc hội phế truất, ngày 9 tháng 8 năm 1974, Tổng thống Nixon tuyên bố từ chức.

    Nhân vật giấu tên cung cấp thông tin có mật danh “Deep Throat” đã được công bố danh tính vào tháng 5 năm 2005, đó là một cựu nhân viên FBI, ông W. Mark Felt.
    [hết trích]

    Nên biết là vụ Watergate chỉ mới bắt đầu từ giữa năm 1972 và bị ỉm đi, cho nên thanh danh của Nixon vẫn còn nguyên vẹn và coi như ông là người không đối thủ trên chính trường Mỹ lúc đó.

    (còn tiếp)

    • Thích Nói Thẳng says:

      Hoan hô LNĐ. lâu lắm mới thấy chú mình “tái xuất phản hồi”.

      Chúc khoẻ và phản hồi khoẻ.
      Giáng Sinh 2012

      • LÃO NGOAN ĐỒNG says:

        Xin kính bái Lâm đại gia,

        Ông bạn Trọng Đạt vốn khó tính (và khó chịu nữa). Ổng viết bài chủ cho Đàn Vẹt và lại gửi riêng thêm cho mình, để kêu gọi mình góp mặt với ông bằng đôi câu còm. Lâu nay ổng lai rai đăng bài mà mình cứ lờ tịt, nên kỳ này “còm truy lãnh” trọn bộ cho ổng đọc mà dẫy tê tê lên với anh em mình :-) !

        Như đã bình loạn phần đầu, bọn CS nắm rõ cái thóp của Mỹ qua thuyết Domino chủ yếu là BE BỜ TỪ XA, chứ kô dành chiến thắng ở VN nhằm thống nhất hai miền Nam Bắc, bởi Mỹ kô muốn xảy ra kịch bản (scenario) như hồi nửa đầu thập niên 50 tại bán đảo Triều Tiên. Bắc Việt cũng như Bắc Hàn phải là vùng trái độn cho Tàu lục địa, nhằm làm dãn to cái cái vòng đai bao vây Tàu của Mỹ.

        Xâm lăng Bắc Việt là trực tiếp đẩy CS Bắc Việt thêm nữa vào vòng kiểm toả của Tàu cộng, đó là điều Mỹ không muốn. Chưa kể với trò chơi chiến tranh nhân dân mà CS đã nhuần nhuyễn, thì Mỹ chiếm được đất rồi liệu có giữ được không hay lại điêu đứng vì nó. Cứ xem như Vixi chiếm được đất Miên và dân số Miên còn khoảng vài triệu mà Vixi còn điêu đứng với tàn quân Khmer Đỏ núp ở bên Xiêm lâu lâu nhào qua đánh lén !

        Mỹ leo thang chiến tranh bởi chính quân CS Bắc Việt đẩy mạnh chiến tranh như tôi đã review là sau hơn 5 năm củng cố ở ngoài Bắc, bắt đầu từ năm 1960 Hà Nội hạ quyết tâm xâm lăng miền Nam bằng vũ lực qua Nghị quyết của Đại hội đảng CSVN lần thứ ba ở Hà Nội. Từ đó mở ra những cuộc xâm nhập người và vũ khí vào Nam mà phần lớn qua con đường mòn (phải nói là hệ thống đường mòn = trailsystem) Hồ Chí Minh và một phần không đáng kể qua con đường ven biển từ Bắc vào Nam (như ở cảng Vũng Rô hay vùng cửa sông Cửu Long ở miền Nam )!

        Cũng nói thêm là chính phía Mỹ thời Kennedy rồi thời Johnson những tưởng với vũ khí hiện đại và số lượng to lớn, quân đội tinh nhuệ … Mỹ sẽ giải quyết chiến trường Đông Dương dễ dàng hơn Pháp nhiều (cũng chả khác gì Bush con tưởng bở khi chiến thắng Taliban dễ dàng ở Afghanistan và Saddan Hussein ở Iraq; chứ ko sa lầy như Liên Xô dạo nào. Ai dè bài học VN phía Mỹ vẫn chưa học thuộc; cho nên sau này chính giới Mỹ đã chần chừ lưỡng lự ở Lybia, nhất là khi kinh tế Mỹ xuống dốc không phanh, khiến Obama lại càng thận trọng hơn lúc nào hết, để kô tuột mất cái ghế tonton Mỹ nhiệm kỳ hai gần kề)

        Chính vì đánh giá quá thấp đối phương, nên Mỹ mới sa lầy và gây ra MẶC CẢM VIỆT NAM (The Vietnam Syndrome) là chia rẽ xã hội Mỹ làm hai phe chủ chiến và chủ hòa trong nhiều thập niên, kể cả khi họ đã rút lui an toàn khỏi chiến trường VN. Sự chia rẽ này có thể so sánh với sự chia rẽ của dân Mỹ thời nội chiến hai miền Nam Bắc, bởi nó sâu sắc và kéo dài rất lâu nhân dân Mỹ mới làm hoà với nhau.
        Vâng chính những người lính Mỹ viễn chính là các đứa con yêu dấu của tổ quốc, nhưng khi hồi hương lại bị ghẻ lạnh, bị coi như những tên sát nhân tham gia chém giết đàn bà con trẻ cùng các thường dân vô tội khác (như trong vụ Sơn Mỹ chẳng hạn); cũng như tệ nạn veteran Mỹ vốn đa phần là các thanh niên trẻ ở khắp nước Mỹ lại thường chơi thuốc cần sa khi còn phục vụ chiến trường, rồi khi về chính quốc vẫn tiếp tục xử dụng nó (bởi lúc đó đang có phong trào hippies, nối tiếp với phong trào Beatnik), tạo nên hình ảnh xấu cũng như gánh nặng cho xã hội Mỹ thời đó !

        Khi có hoà đàm Paris ta thấy ngay là phía Mỹ đang ở thế hạ phong, bởi họ THUA CUỘC NƠI HẬU PHƯƠNG MẶC DÙ CÓ ĐẠT ĐƯỢC MỘT SỐ THẮNG LỢI QUÂN SƯ NƠI CHIẾN TRƯỜNG ! Vâng PHÒNG TRÀO PHẢN CHIẾN ngày một lớn mạnh và lan rộng ra khắp thế giới, khiến hình ảnh người lính Mỹ tham chiến ở VN giống như những tên lính mắc bệnh cuồng sát, với hệ quả là bó tay bó chân chẳng những cho giới quân sự cao cấp, mà cả phía hành pháp Mỹ nữa !

        Người Mỹ vốn thực dụng và là một xứ cực kỳ tự do dân chủ, cho nên dân thể hiện sự kô bằng lòng bằng các cuộc biểu tình và lá phiếu trong các kỳ bầu cử các chức vụ dân cử trong quốc hội và hành chánh như tổng thống liên bang, thống đốc tiểu bang …. Một khi Phong trào Dân sự Bất phục tùng chính phủ lan rộng là chính quyền bao gồm quốc hội lưỡng viện và phía hành pháp phải cấp tốc tìm phương giải quyết nhằm xoa dịu lòng dân. Cho nên có người chê là chính sách của Mỹ kô nhất quán, mà thay đổi luôn soành soạch trong từng vị tổng thống hay từng nhiệm kỳ một ! Thưa đó chính là điểm ưu việt hơn là khuyết điểm. Chính cái tính FLEXIBILITY đó làm cho guồng máy chính quyền Mỹ trở nên linh hoạt, năng động hơn, thích hợp với tình thế nhanh hơn.

        Ta thử tưởng tượng nếu chính phủ Mỹ cố đấm ăn sôi như Vixi ở Miên, rồi cuối cùng cũng phải rút trong đau thương và tủi nhục, bởi số lính và viên chức Mỹ tử trận hay mất tích trong khi thi hành công vụ (MIA) sẽ gia tăng gấp bội theo đà ác liệt của cuộc chiến ! Sự phân hoá ở Mỹ sẽ trầm trọng hơn nhiều lần …

        Chính những sự cứng nhắc trong các chế độ và quốc gia độc tài ngự trị đã dẫn đến cái đáng tởm là DUY Ý CHÍ, cho nên sau cùng dẫn đến những phá sản thê thảm. Chẳng hạn như ta thấy Đức ở thời quốc xã Hitler; Nhật ở thời quân phiệt; rồi trong thế giới CS, mà rõ nét nhất ở Nga và Tàu lục địa, biết bao nhiêu triệu triệu sinh linh đã hy sinh cho cái gọi là KHÔNG TƯỞNG ! Vâng những chủ thuyết không tưởng (non-imaginary) như thuyết chủng tộc tối ưu ở Đức, thuyết Đại Đông Á của quân phiệt Nhật, chủ thuyết CS ….

        Trận oanh tạc Linerbacker II chỉ là màn nắn gân nhau mà thôi. CS Bắc Việt biết là phía Mỹ phải xuống thang quân sự để mưu cầu hoà đàm, chả khác gì thực dân Pháp sau khi thua trận ở Điện Biên Phủ, cần phải nhường miền Bắc cho Việt Minh để giữ lại nửa dưới vĩ tuyến 17.
        Hà Nội muốn cố đòi được nhiều chừng nào hay chừng đó, bởi ai cũng rõ ở “thế da beo” thì trước sau gì CS cũng tìm cách nuốt trọn miền Nam ! Lúc trước hai miền phân ranh rõ ràng bằng vĩ tuyến 17 mà CS còn tìm cách cho người xâm nhập và chối bay biến không có quân CS Bắc Việt hiện diện trong Nam và lại dựng lên chính phủ bù nhìn qua cái gọi là Mặt trận Phỏng giái lẫn lực lượng vũ trang nhân dân bla bla bla, thì với thế da beo nằm xen kẻ nhau làm sao ai mà kiểm soát cho nổi chứ. Chưa kể lính Mỹ rút hết khỏi miền Nam, tha hồ cho bọn CS tác yêu tác quái !
        Chính quyền Nixon một mặt muốn giữ thể diện, cho dù ở thế yếu, mặt khác phải ve vuốt tonton Thiệu hãy ngoan ngoãn ngồi họp và ký kết, để cho Mỹ rút lui trong danh dự khỏi VN.

        Nói chung các chuyên gia đã than thở: Hiệp định hòa bình Paris 1973 là bản án tử hình cho VNCH !
        Và đại thắng mùa xuân 1975 của CS chỉ là phát súng ân huệ (coup de grâce) cho người tử tù VNCH !

        VN cả hai miền Nam Bắc chỉ là các con cờ trên bàn cờ thế giới mà thôi !
        Xin kết luận theo nhà thơ Nguyễn Duy trong bài thơ ngắn sáu câu ĐÁ ƠI, khi ông đến thăm đền Angkor :
        TRONG MỌI CUỘC CHIẾN TRANH / PHE NÀO THẮNG NHÂN DÂN ĐỀU BẠI !

        Chiến cuộc đã tàn từ gần bốn thập niên qua, hai kẻ thù lớn là CS và Mỹ đã bắt tay làm hoà, nhưng người Việt vô tình hay hữu ý ở hai phía vẫn còn thù hận nhau đến muôn đời !
        Bọn cầm quyền vẫn tiếp tục phủ nhận sạch trơn đối thủ của chúng và coi đám bại trận là những kẻ phản quốc, mặc dù hàng năm muối mắt ngửa tay nhận tiền tỷ từ cái đám “khúc ruột ngàn dặm”, một bộ phận không thể thiếu được của tổ quốc xã nghĩa (bởi yêu nước là yêu tổ quốc, mà tổ quốc ở đây là tổ quốc xã nghĩa). Đó là đầu mối của mọi thù oán không sao tháo gỡ được.
        Chính vì thế mà tôi cổ võ dân chủ đa nguyên đã xem bọn CS là một hòn đá tảng ngăn chặn đoàn kết dân tộc, nhất là tiến trình dân chủ hóa VN.

        Kết, PHẢI THỦ TIÊU CS BẰNG MỌI GIÁ, KỂ CẢ BẠO LỰC CÁCH MẠNG !

        Lão Ngoan Đồng

  7. Cù Lần nước says:

    Thưa, sao mà tin vô được những tài liệu ” bạch hóa ” cho được.

    Những mưu bí ẩn, thì khi đã qua, cho qua luôn. Mà nếu lại tô hô
    phang ra, thì cũng có ẩn ý, không chạy tội thì cũng lại đánh lừa!

    Kế hoạch Mật nằm trong tủ sắt kín, hoặc mang xuống tuyền đài, thì
    làm sao mà bà con…nhẹ dạ mà tin được?

    Đã thưa, hãy nhìn vô thực tế, đừng xem những gì tài liệu …giết!

  8. Dâm Tiên says:

    Có những thực tế hiển nhiên, không cần dẫn chứng qua
    tài liệu.

    Tài liệu bên này bên kia, thường phổ biến nhằm đánh lạc
    hướng căn bản vấn đề, hay nhằm chạy tội.

    Tác giả cặm cụi khai thác những nguồn tin SAI, nên nội
    dung bài viết cần…một dấu hỏi.

    • trannam says:

      Nguồn tin nào sai hay là tất cả nguồn tin đều sai chú có thể cho cháu biết được không?

      • Cú lần lửa says:

        SAI hả ? Thì thằng Cộng phỉ nó nói nó
        ” phỏng giái ” miền Nam đó, Nhưng là
        nó đanh cướp miền Nam.

        Sai hà ? Thăng Mỹ nó bỏ rơi miền Nam,
        mà nó xiên xẹo rằng: VNCH thua là do
        lổi lầm VNCH!

        Cón mún biết nhiều SAI nữa hay thôi?
        ( Thế mà copie conforme, đem vô sách)

  9. Trần Kiên says:

    Bài này cũng chẳng ra gì nhưng là cái tát vào mặt Tô Hải, người đã chà đập lên sự thật quá trơ trẽn!

    • Lamson72 says:

      Chổ nào mà tát Tô Hải dzậy? Chỉ cho coi với. Nhạc sĩ Tô Hải không biết nhiều về nguyên nhân đưa đến trận không kích dữ dội Linebacker II. Cũng không biết nhiều về những thiệt hại. Chỉ làm khán giả và cũng tường thuật với tư cách khán giả. Thấy sao nói dzậy thì có gì mà tát hả. Chỉ những anh láo lếu muốn biến cuộc thảm bại nhục nhả Linebacker II thành “chiến thắng Điện Biên Phủ Trên Không” mới bị tát tới tấp chứ. Đúng không?

      • Người Việt Nam says:

        Tô Hải đáng “ăn cái tát” vì “Tớ là khán giả…”, đáng lẽ ra ở cái tuổi 82 gần đất xa trời dù có bất mãn với đảng cộng sản vì bị “hất ra lề đường”, căm thù đồng đội, đồng chí như thế nào nữa cũng không thể vô cảm, vô văn hoá, vô lương tâm, tàn nhẫn đến vô liêm sỉ khi thấy hàng ngàn đồng bào ruột thịt của mình bị bom B52 của Mỹ giết hại mà lại viết “tớ là khán giả …” như xem ca vũ nhạc.

        Thời trai trẻ theo cộng sản viết những lời ca ngợi đảng bác, xúi thanh niên vào Nam đánh Mỹ, sau năm 1975 không tranh được chức vụ trong Hội Nhạc sĩ trở thành kẻ đảo ngũ, nói xấu chính cái đảng mà Tô Hải đã từng làm đơn xin tra nhập và nguyện suốt đời trung với đảng hiếu với bác Hồ….

        Bài viết “Tớ là khán giả…” không những đáng bị ăn tát mà tất cản nhân dân Việt Nam những người có lương tri trên toàn thế giới đều phỉ nhổ vì khi thấy hàng ngàn người bị bom Mỹ giết hại mà là “nhơn nhơn cái mặt l… tuyên bố hùng hồn Tớ Là Khán Giả…”

        Đúng là già sá9 chết, 1 chân đã đặt xuống lỗ mà còn ngu. Chắc chắn mả của Tô Hải sẽ bị đào bới và đập phá vì đã coi sinh mạng hàng ngàn đồng loại của ngưoi như 1 trò tiêu khiển.

        Hiểu chưa tên Lam Sơn 72 bại trận chạy chối chết Đường 9 Nam Lào 1972.

      • Hanoi72 says:

        Thôi ông ơi, đừng có mà hát nhảm nữa, thua thắng gì, thua thắng thì chẳng ai nói khác được, nói thì phải là những người tham chiến lúc đó nói ấy, chứ giờ mấy người tào lao cứ xiên sẹo vớ vẩn làm gì, cả cái lão già sắp chết rồi mà còn đổ đốn, tử tế thì người đời tôn trọng, còn láo lếu thì con cháu nó rủa cho nhục đấy.
        Còn ông hả, ông thì còn lạ gì cuộc chiến, ông biết thừa cuộc chiến nó khốc liệt, nó dã man thế nào khi bom rơi đạn nổ, thế nên đừng có mà kích động vớ vẩn, nhé!

      • HẢI says:

        Hai ông ” Người VN” ! , ” Hà nôi 72 ” đến tát ngay cái thằng VÔ LẠI nằm ở Ba Đình chứ tát gì ông Tô Hải, người biết nói lên sự thật về cái “mùa thu đểu” cướp chính quyền của tên Hồ Tặc ! Các ông muốn tát ? nhưng độc giả ĐCV và nhân dân VN có muốn tát hay không thì hãy đọc những tình cảm của họ dành cho ông Tô Hải.
        Cứ đi mà tát và đạp vào cái mặt thằng BÁN NƯỚC HCM cho phải lẽ !

  10. Thích Nói Thẳng says:

    Hầu hết bạn đọc ĐCV ở lứa tuổi >60, 70 thậm chí ở tuổi gần 90 những tỷ phú thời gian định cư ở hải ngoại, (các con cháu tôi không bao giờ đọc các trang mạng Saigonbao.com, vì chúng quá bận kiếm sống nuôi gia đình) vì thế bất cứ tác giả nào viết nên viết trung thực nhất (nếu có thể) về các sự kiện lịch sử, không nên chỉ “yêu nên tốt, ghét nên xấu” mà bẻ cong ngòi bút. Bởi vì độc giả toàn “các cụ bô lão” dầy dạn kinh nghiệm sống và bậc trí thức cả, nhưng trước khi chết giải sầu bằng cách “mang chuyện muôn năm trở lại bàn”, bà chuyện “gái hóa (góa) lo chuyện triều đình” mà thôi.

    Tôi rất thích những bài viết của Trọng Đạt, một người có “tâm và tầm” của một cây bút cự phách. Riêng bài này, tại sao Mỹ không ném bom dữ dội (dùng B52) miền Bắc cũng như năm 1956 TT Dwight D Eisenhower tuyên bố sẽ ném bom nguyên tử xuống Hà-nội nếu như Hà-nội vi phạm hiệp định Genève (1954) mà tôi đã từng tham gia ký tên chống Mỹ, Trọng Đạt lý giải chưa thoả đáng.

    Bởi cuộc chiến tranh Việt nam giai đoạn ấy là cuộc chiến tranh đại diện cho 2 phe Cộng Sản và Tư Bản, trong cuộc chạy đua Ai thắng Ai. Chiến tranh lạnh có thể chuyển sang Thế chiến thứ 3 bất cứ lúc nào nếu như bất cứ cái đầu tổng thhống Mỹ hay Xô-Trung mất bình tĩnh. Hiểm hoạ thế chiến thứ 3 do vụ tên lửa Cuba năm 1962 còn sờ sờ đó.

    Theo như nguồn tin (không chính thức nghe hơi nồi chỏ), khi tổng thống Lyndon B Johnson đổ 500 ngàn quân vào miền Nam, Mao Trạch Đông thông báo cho Hố Chí Minh nếu chính phủ VNDCCH đồng ý, Trung Cộng sẽ đổ 5 triệu quân vào Việt nam (10 lính Trung quốc chọi 1 lính Mỹ) để thử sức mạnh của “Con Hổ giấy” (thời ấy Mao gọi Mỹ là con Hổ giấy). Bắc Việt đã từ chối. Bài học chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) sau khi Trung quốc “giúp Triều chống Mỹ”, đất nước Triều Tiên và Hàn Quốc tan hoang khi hai con mãnh thú tranh hùng trên đất nước mình. Rất may Bắc Việt đã từ chối, nếu không 5 triệu quân Trung cộng ồ ạt đổ vào miền Nam cộng thêm 1 triệu lính Bắc Việt đánh nhau với 1 triệu 200 ngàn quân VNCH và 500 ngàn lính Mỹ với vũ khí hiện đại trang bị ngập đến tận răng. Miền Nam Việt nam sau chiến tranh sẽ là gì? Biết đâu Lyndon Johnson nổi cơn khùng ném bom nguyên tử Bắc Việt, đất nước Việt nam, dân tộc Việt nam sẽ ra sao sau khi cuộc chiến chấm dứt?

    Năm 1958, khi Eisnhower ủng hộ Tưởng Giới Thạch, đe dọa ném bom Trung quốc, Mao đã ra lệnh bắn phá quần đào Mã Tổ (Matsu Islands) mấy tháng của Đài-loan khiêu khích, nắn gân và thử xem Mỹ có dám ném bom nguyên tử xuống Trung quốc hay không. Mao đã từng tuyên bố, bom nguyên tử của Mỹ giết hại 30 triệu người Trung quốc, Trung Hoa có 600 dân (con số năm 1958) người Trung quốc vẫn còn chứ không bị xóa sổ. Tổng thống Mỹ khùng thì cứ thử ném bom nguyên tử xuống Trung quốc vô cớ thì hậu quả sẽ khó lường (trích trong The Private life of Chairman Mao by Li Zhisui do Lâm Hoàng Mạnh và Nguyễn Học dịch đăng trên Sáng Tạo).

    Có thể còn rất nhiều tài liệu bí mật mà cả Mỹ cũng như Bắc Việt chưa minh bạch hoá cho nên “phó thường dân” vẫn còn thiếu sót khi nhìn lại cuộc chiến tranh Bắc-Nam của lịch sử Việt nam thế kỷ XX.

    Hy vọng một ngày nào đó, thế hệ con cháu chúng ta sẽ viết lại đầy đủ, chính xác lịch sử đau thương của cuộc nội chiến nồi da xáo thịt của dân tộc Việt nam thế kỷ thứ XX.

Phản hồi