|

Cô gái Huế thời tiền chiến

 

Huế đâu chỉ có sông Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền mà còn có Thôn Vỹ. Thôn này có bóng dáng một cô gái Huế thời tiền chiến: Cô Hoàng Thị Kim Cúc (1913-1989), người tình trong mộng của thi sĩ Hàn Mạc Tử. Cô còn là “Chị Cả” của tất cả anh chị em gia đình Phật tử ba miền đất nước và Cô còn để lại một di sản văn hóa cho thế hệ mai sau: hai bộ sách nổi tiếng  Những Món Ăn Nấu Lối Huế  & Cách Nấu Chay.

Bài thơ Ở Đây Thôn Vỹ Dạ, được Hàn Mạc Tử viết từ năm 1939, đã đưa địa danh Vỹ Dạ và mối tình đầu của một thi sĩ tài hoa nhưng mệnh yểu vào văn học sử. Đó là một kỷ niệm của một mối tình trong trắng, thanh cao và bất diệt giữa hai tâm hồn khác tôn giáo. Cô Hoàng Thị Kim Cúc, người đẹp trong cuộc, đã xác nhận như vậy. Tuy thế, vẫn có nhiều nhà văn, nhà thơ tên tuồi trong hơn nửa thế kỷ qua đã viết về chuyện tình Hàn Mạc Tử + Kim Cúc không trung thực, “có khuynh hướng liêu trai hóa”. Vì vậy, gần đây mới có cuốn Lá Trúc Che Ngang Chuyện Tình Của Cô Tôi ra đời ở Huế.

pic_1

Tác gỉả Hoàng Thị Quỳnh Hoa, cựu Giáo sư Anh Văn trường Nữ Trung Học Gia Long ở Sài Gòn trước 1975, hiện định cư ở Maryland , năm 2013 đã cho xuất bản cuốn sách dày 198 trang nhân 100 năm sinh nhật của cô mình, để phản bác các sai trái. Sách còn cho thấy chân dung của cô Kim Cúc. Tác gỉả Quỳnh Hoa đã mất 10 năm tra cứu tài liệu sách báo; đã về Huế nhiều lần để tham khảo thư từ mà cô mình để lại. Cô Kim Cúc bị hôn mê sau một tai nạn giao thông ở Saigon và qua đời ở Thôn Vỹ. Đám tang của cô ở Huế, ngày 15 tháng 2 năm 1989, được xem như một trong vài đám tang lớn nhất từ trước tới nay.

Vì là người trong gia đình mà cũng theo ý nguyện của người quá cố muốn đưa ra những sự thật, tác gỉả Quỳnh Hoa, trong phần III và phụ lục của tập sách, ngoài việc cho in thủ bút của Hàn Mạc Tử; thủ bút của cô KC và những vần thơ, bài hát của anh chị em trong Gia Đình Phật tử viết về cô; còn có cho in nguyên văn các bài văn xuôi và thơ của cô Kim Cúc cùng bài viết của các tác giả đã – như lời của nhà thơ Chế Lan Viên – “viết thêm quá nhiều, viết bớt quá nhiều, viết bậy…” về chuyện tình của nhà thơ. Đặc biệt có thủ bút của Hàn Mạc Tử trong hai bài Ở Đây Thôn Vỹ Dạ và Sao Vàng Sao.

Hầu như người Huế nào cũng có nghe nói đến tên Kim Cúc, vì cô “công, dung, ngôn hạnh gom đầy đủ” . Cái dáng người thấp nhỏ, lúc nào cũng ân cần, vui vẻ một cách chừng mực nhưng không kém phần nghiêm trang và dịu dàng là hình ảnh quen thuộc của cô giáo dạy bộ môn nữ công gia chánh cho nhiều thế hệ nữ sinh trường Đồng Khánh. Và chiếc áo lam luôn theo người “Chị Cả” có pháp danh Tâm Chánh từ năm 1948 cũng đã để lại bao kỹ niệm kính thương cho anh chị em trong Gia Đình Phật Tử. Cô Hoàng thị Kim Cúc được mô tả như là điển hình cho một cô gái Huế trí thức thời bấy giờ: mẫu mực, dịu hiền và đạo hạnh.

Những bài Phật pháp đã mở rộng tâm trí tôi; đã vạch cho tôi một con đường ngay chính đáng; đã un đúc cho tôi một tâm hồn Phật tử. Tôi không còn buồn khổ nữa vì tôi không còn sống hẹp hòi, ích kỳ, tối tăm. Tôi đã biết đem lòng thiện của một Phật tử cố gắng giúp ích, làm cho những người chung quanh được an vui sung sướng. Đó là ý nguyện của cư sĩ Kim Cúc. Những dòng này cô viết trong bài văn xuôi Một Năm Qua vào năm 1949. Thỉnh thoảng cô có làm thơ ký bút hiệu Hoàng Hoa, Hoàng Hoa thôn nữ, và H.H. Nhưng thật ra, văn giới nhắc nhiều đến tên Hoàng Thị Kim Cúc là vì bài thơ dưới đây:

Ở ĐÂY THÔN VỸ DẠ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

 

Đấy là bài Hàn Mạc Tử gửi tặng Hoàng thị Kim Cúc năm 1939, được xem là bài nổi nhất trong mấy trăm bài thơ của thi sĩ. Ông tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22/9/1912 trong một gia đình công giáo. Ông rất sùng đạo. Ông đã góp phần lớn trong việc chuyển hướng từ thơ Đường sang thơ mới. Ông qua đời khi chưa tới 30 tuổi ở Qui Nhơn ngày 11/11/1940 vì bệnh phung. Ông có nhiều bút hiệu nhưng ông thích bút hiệu Hàn Mạc Tử,  có nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải. Ông có nhiều mối tình. Hình bóng ghi đậm nhất là với Hoàng thị Kim Cúc, một cô gái đất Thần Kinh. Bài thơ Thôn Vỹ về sau được xếp vào tập thơ Đau Thương, sau này còn có tên Thơ Điên. Ông có nhiều bài thơ được phổ nhạc. Chín thành phố ở Việt Nam có đường mang tên Hàn Mạc Tử.

Câu mở đầu Sao anh không về chơi thôn Vỹ và hai câu: Lá trúc che ngang mặt chữ điền; áo em trắng quá nhìn không ra đã tạo ra nhiều huyền thoại về mối tình thứ nhất của thi sĩ. Ba câu đó chỉ là cảm hứng của thi nhân viết ra. Câu đầu có vẻ như một câu hỏi nhưng đã gói ghém một ước mơ. Bài thơ đã là đề tài cho nhiều sáng tác của nhiều nhà văn, nhà thơ sau này. Họ đã thêu dệt, vẻ vời thành tiểu thuyết, tuồng cải lương, kịch ảnh vô tuyến truyền hình với nhiều tình tiết không tưởng, ly kỳ và phi lý đã khiến cho cô Kim Cúc “phiền lòng hết sức.” Trong thư gửi Chế Lan Viên ngày 10/9/1987 cô yêu cầu là đừng có ai nhắc đến cô “qua lời các người khác.”

Tác gỉả quyển sách cho biết không có việc Cô Kim Cúc gửi tặng Hàn Mạc Tử ảnh của mình chụp ở Thôn Vỹ. Phiến ảnh chỉ là một bức phong cảnh. Chính cô Kim Cúc cũng đã nói rõ “trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang, với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống mặt nước, với lời thăm hỏi sức khỏe Tử viết sau tấm ảnh mà không ký tên.” Môt người bạn của nhà thơ báo tin cho Cô biết là Hàn Mạc Tử đau nặng và xin Cô gửi thư thăm hỏi. Vài tháng sau, người bạn gởi về cho Cô bài thơ “Ở Đây Thôn Vỹ Giạ”; với mấy dòng thăm hỏi trong đó có hai câu: mong ơn trên xuống lộc cho túc hạ thật đầy đủ. Và mong rằng một mùa xuân nào được gặp lại túc hạ mới phỉ tình cho.

Trong sách có trích lời Cô Kim Cúc kể lại chuyện xưa “Tử có tới gặp tôi 2 lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về. Lần thứ hai, Tử mạnh dạn trong dáng điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ  Bâng khuâng  với mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ. Tôi bàng hoàng rồi cũng rụt rè từ chối, không nhận sách, không nhận thư… Gần cuối năm 1936, khi Tử về dự hội chợ Huế, mang theo một xấp  Gái quê  vừa in xong, có gặp tôi cùng đi với anh em tôi trong hội chợ. Tử đưa tặng anh em tôi mỗi người một tập, có đề chữ tặng, không tặng tôi mà chỉ yên lặng nhìn! Mấy hôm sau, Ngâm cho biết: Tử có về nhà tôi ở Vỹ Dạ mà lại đứng ngoài ngõ nhìn vô, rồi từ đó chúng tôi không gặp nhau lại, không thư từ, thăm viếng, hứa hẹn, mỗi người một ngả,”

Giáo sư Quynh Hoa đã bác bỏ sự dàn dựng của nhà thơ Quách Tấn về chuyện gia đình của cô Kim Cúc chê gia thế Hán Mạc Tử là không xứng mặt đồng sàng khiến Hàn Mạc Tử phải “đi Saigon để lập chí”. Sự thật, giữa Hàn và Kim Cúc chưa hề có lời chê khen, chưa hề có thái độ thân sơ, khinh trọng. Giáo sư Quỳnh Hoa cũng cho rằng một tác gỉa khác, Kiêm Đạt, đã phóng đại khi ông viết cô Hoàng thị Kim Cúc đã có “những ngày yêu thương vô cùng cuồng nhiệt” với thi sĩ. Thư đề ngày 11/5/1988 gởi người anh cả ở Mỹ, Cô cho biết, sau khi thi sĩ qua đời năm 1940, Cô mới hay nỗi lòng của nhà thơ qua người bạn thân của thi sĩ: Hoàng Tùng Ngâm. Ngâm cũng là người em thúc bá của Cô.

Hoàng Tùng Ngâm còn giao cho Cô tất cả thơ văn của Hàn Mạc Tử có nói đến Cô. Cô “hết sức cảm kích và ngậm ngùi.” Theo sách của tác gỉả Quỳnh Hoa thì “Chỉ khi Hàn Mạc Tử không còn nữa, Cô mới cảm thấy đau lòng và ân hận là đã quá lạnh lùng với chàng; không những ân hận mà còn thấy mình có tội với người quá cố.” Nhân ngày húy nhật của thi sĩ năm 1942, Cô đã viết một bài văn xuôi, “để kính viếng vong hồn một người tài hoa bạc phận, có một tâm hồn tha thiết yêu đương, một lòng mê say cao quí và một cuộc đời vô cùng đau khổ.” Trước đó, năm 1941, Cô cũng có bài thơ cảm tác Ở Đây Thôn Vỹ Dạ:

Bao năm Hoa sống nơi thôn Vỹ
Thầm giữ trong lòng một ý thơ
Vẫn biết cách xa ngoài vạn dặm.
Tình anh lưu luyến cảnh quê mơ!

Một mình một cõi với nước mây
Với cả đau thương với hận này
Anh khéo lột hết tài nghệ sĩ
Lẫy lừng danh tiếng kể từ đây.

Hồn anh lẫn khuất tận mô xa,
Hoa biết cùng ai thổ lộ ra
Tuy sống giữa đời phức tạp ấy
Ai biết tình ai vẫn đậm đà !

H.H. thôn nữ

Cô Hoàng thị Kim Cúc được mọi người kính nể như một hành giả tu tại gia. Tuy một thân một mình và lương tiền không bao nhiêu nhưng Cô đã có gần một tá con nuôi. Cô nuôi con của bà con nghèo, nuôi em, nuôi cháu, nuôi trẻ mồ côi, giúp đỡ những ai đến với Cô. Trong phần “Lời Nói Đầu” của cuốn sách Cách Nấu Chay, cô Kim Cúc tâm sự rằng xuất bản được cuốn này là Cô đã hoàn thành được một công tác Phật sự. Lòng chị như bể rộng bao la. Tình chị tròn đức hạnh vị tha. Lời ca trong bài hát Hướng về chị Cả của Hầng Vang đã nói lên niềm thâm`cảm tri âm cuả Gia đình Phật tử đối với Cô Hoàng Thị Kim Cúc: nửa thế kỷ màu áo lam không phai; suốt cuộc đòi trí giới hạnh trường trai.

Người con gái Việt Nam thuở đầu thế kỷ 20 thường không được học nhiếu. Cô Hoàng Thị Kim Cúc thì may mắn hơn. Trừ thời gian học chữ nghĩa ở trường, Cô lúc rảnh tập làm đủ thứ. Ngoài việc học với ông nội chữ nho, nhiều tay thợ rành nghề được mời về nhà chỉ bày cho cô may vá, làm bánh, nấu đồ ăn Tây, làm hoa.

Một thầy đàn tranh cũng được mời về nhà dạy cho cô. Tuy mới học có nửa tháng mà mà cô đã thuộc đủ bảy bài: Kim tiền, Lưu thủy, Hành Vân, Tứ Đại Cảnh, Cổ Bàn, Nam Ai, Nam Bình. Tiếng đàn của cô đã khiến nhà thơ si tình Hàn Mạc Tử phải điên cuồng rình trước thềm nhà để nghe.

Đêm nay ta lại phải điên cuồng
Quên cả hổ ngươi cả thẹn thuồng
Đứng mãi trước thềm nghe ngóng mãi
Tiếng đàn the thé ở bên trong

Theo tác giả cuốn Lá Trúc Che Ngang khi được hỏi Cô có “cảm” thi sĩ Hàn Mạc Tử không thì Cô chỉ tủm tỉm cười mà không nói năng chi. Cô rất trân trọng mối chân tình của thi sĩ. Đoạn kết của quyển sách còn cho biết nhánh cây cỏ mà một người quen nhặt trên mộ của Hàn ở Gành Ráng đem về tặng đụơc Cô cất rất kỹ. Ngoài ra, Cô còn dựa theo lời tâm tình trong thơ gởi cho bạn của Hàn Mạc Tử mà phóng tác một bài tự truyện với nhan đề Thi sĩ Hàn Mạc Tử với người gái quê. Cô đã ghi lại hầu như nguyên văn nhiều câu chữ của Hàn Mạc Tử trong bài này. Qua đó, người ta thấy Hàn Mạc Tử đã viết: quyết quăng mình đi trên đường gió bụi, rượt nà theo những nguyện vọng cao xa, phải chăng là do sức mạnh của ái tình?

Tuy là một người có tâm hồn ủy mị, nhưng vì thuộc con nhà nề nếp, trọng thanh danh gia đình hơn tất cả mọi sự, và lại sống trong một xã hội thời trước 1945 – một người con gái con nhà khuê các không được tự do chọn bạn, không được nói chuyện với người khác phái ở ngoài đường – nên Cô Hoàng Thị Kim Cúc đã có vẻ rụt rè, phong kín, bí mật, hờ hững khi gặp Hàn Mạc Tử. Điều này càng khiến cho nhà thơ bao giờ cũng kính cẩn, giữ gìn đứng xa mà chiêm ngưỡng, mà tôn thờ cô thiếu nũ. Dù vậy,trong thư gủi bạn,Hàn Mạc Tử vẫn: quyết lòng đeo đuổi, âm thầm theo dõi bóng cô ta. Cô gái đó có khuôn mặt chữ điền; mái tóc quăn; mũi cao, thẳng như đầm; dáng người thấp nhỏ và đôi mắt đen nháy.

Chính “Đôi măt đen nháy đầy thi vị”của Cô, mà nhà thơ chợt thấy ở chợ phiên do Toà Sứ thành phố Qui Nhơn tổ chức năm 1932 khi ông 20 tuồi và người đẹp 19 tuồi, đã tạo nên sự nghiệp văn chương của Hàn Mạc Tử. Và cái dáng vẻ nết na, thùy mị, đoan trang của Cô đã un đúc Hàn Mạc Tử có một tâm hồn thi sĩ. Trong thư gửi người bạn, thi sĩ còn thú nhận Kim Cúc “là người mà tôi thường gửi linh hồn một bên dầu cách xa ngàn vạn dặm”. Quyển sách Lá Trúc Che Ngang Chuyện Tình Của Cô Tôi của Giáo Sư Hoàng Thị Quỳnh Hoa là một đóng góp lớn để không còn ai có thể viết bậy nữa.

Saint Paul, 2/2015

© Phan Thanh Tâm

© Đàn Chim Việt

6 Phản hồi cho “Cô gái Huế thời tiền chiến”

  1. phó thường dân nam bô says:

    Xin tác giả bài viết đính chính lại về bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ . Bài thơ này do thi sĩ HÀN MẶC TỬ – CHỮ Ă – sáng tác chứ không phải HÀN MẠC TỬ – CHỮ A – như tác giả đã nhầm lẩn viết. Thành kính.

  2. N.K.D. Thơ says:

    Đọc phản hồi của VN và bài thơ trích mới thấy HMT tại sao dùng 2 chử “the thé” khi đên trong sân nhà người yêu ,rụt rè không dám gỏ của và giận mình giân luôn tiếng đàn ,dù du dương trầm bổng réo rắc lọt vào tai chàng thi sĩ si tình đang đưng ngoài sân nhà nàng mong được thấy ,được can đảm được cơ hội tỏ tình vói nàng cũng làm chfng thấy khó chịu như téng the thé của một tình yêu đã bị từ chối…
    Đọc lại toàn bai cũng không có gì gắn bó sâu đậm giữa cô “tiểu thư “kín cổng cao tường ” với chàng thi sĩ “vốn dĩ nòi tình ” vói trai tim đầy lãng mạn…yêu mà không dám nói . Tình yêu ấp ủ trong tim ,mơ mộng ,nhưng rụt rè không dám tỏ.Tinh yêu đơn phương.Nếu có lần chàng lấy hết can đảm đẻ tỏ tình thì lại bị từ chối ,trao thơ,tặng sách nàng không nhận chớ nói gì tăng hình? Cô (hay bà,hay cụ) phũ nhận. Như vậy phải chăng đó được coi là mối tình của chàng và nàng ? Không .Chĩ là mối tình mà chàng ấp ủ và đau khổ bị từ chối nên nghe tiếng đàn ,dù hay ,dù nhẹ nhàng xong chĩ là lời từ chối ,như tiếng the thé xé nát con tim chàng mà thôi !
    Về Thương Thương thì đã góp ý sai vì Thương Thương lúc đó ,cháu Bich Khê chĩ mới 13 tuổi đang học tiểu học( cô HTC lúc đó 19 tuổi)Tất cả thư thơ cho HMT đều do B.K viết và cô cháu chép lại.gởi đi.Cho nên mới có bài thơ “trong mộng gặp Thương Thương” đè tăng ThươngThương.(chưa gặp mặt) (trước 75 nghe nói bà dạy văn ở Đồng Khánh).
    Ngoài ra HMT còn nhiều mối tình vói nhiều nguời đẹp khác ,yêu thơ và tinh nguyện đến vói thí sĩ dù bênh phong cùi đã bắt đầu xuất hiện hay đã nặng ,HMT đa trốn ,cách ly vói thế giới người lành mạnh và dã từ chối người đẹp mến mộ đến Qui nhơn thăm nhà thơ ! và sau này bị bắt vào Trai cùi do các sơ TCG điều hành (Gành Ráng /QN có mộ HNT,có nhiều người mến mộ tới thăm)
    Do đó ngoài HTC ,Thương Thương còn có Mộng Cầm ở Phan thiết mà bài “lầu Ông hoàng ” nhắc kỹ niệm hai người sánh vai đi chơi ở Lầu Ong Hoàng..”
    Tóm lại “Cuộc đời của ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông – có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như HOÀNG CÚC, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.” (trích T/s HMT).
    Vậy HC ,qua bài viết trên ,có găn bó gì hơn Mai đình ,Mông Cầm hay Thương Thương .Nếu nói bài thơ “đây thôn Vỹ Dạ” là làm tăng HC ,thì tác giã cũng tặng thơ cho Thương Thương, cho Mộng cầm..(lầu Ông .Hoàng)
    Cho nên viết cuốn sách trên gán cho HMT và HC một mối tình mà thật ra chĩ là không có gì,nhất là “nàng” HC đã từ chối lời tỏ tình ,đã từ chối nhận thơ nhận sách ,và lúc cuối đời mới đính chánh là Không Có Gì Với HMT và cho là TTM hay những người viết về HMT đã “bịa đặt” đã lãng mạn hóa về cô và HMT…
    Vậy người chết đã muốn được ra đi trong lòng không vướng bận tình yêu hay nói đúng hơn, phủ nhận tình yêu đẻ linh hồn được thanh thoát ,thánh thiện hơn của một người con Phật thuần thành, thì sao cứ phải viết ra những điều mà nếu cần,chĩ một bài đính chánh ngắn ngủi là đủ?????
    (nkdt)

  3. VN says:

    TÌNH THU

    Đêm qua ả Chức với chàng Ngâu
    Nhắc chuyện yêu đương ở dưới cầu
    Kể lể một năm tình vắng vẻ
    Sao em buồn bã suốt canh thâu?

    Đêm ấy trăng thu vui vẻ lại
    Người ta cười nói đến nhân duyên
    Sao ta không dám nhìn nhau rõ
    Gặp gỡ bên đường cũng thản nhiên

    Đêm trước ta ngồi dưới bãi, trông
    con trăng mắc cở sau cành thông
    Buồn buồn ta muốn về, trăng hỏi:
    Thu đến lòng em có lạnh không?

    Đêm nay ta lại PHÁT cuồng điên
    Quên cả hổ ngươi cả thẹn thuồng
    Đứng RŨ trước thềm nghe ngóng mãi
    Tiếng đàn the thé ở bên song (trong?)

    Và được tin em sắp bỏ đi
    Chẳng thèm trở lại với tình si
    Ta lau nước mắt, mắt khô ráo
    Ta lẫy tình nương, ruả biệt ly.

    Sở dĩ phải viết lại cả bài để độc giả biết rằng 4 câu thơ mà Phan Thanh Tâm trích ra nó xuất xứ từ đâu, bài nào, tập thơ nào ( Tình Thu trong tập Gái Quê). Vừa để nói về sự thiếu nghiêm chỉnh khi trích dẫn (trích sai, làm giảm giá trị bài thơ), và nhân tiện đưa ra một giải đoán là tại sao thi sĩ lại dùng chữ “the thé” với tiếng đàn?

    Có lẽ ô/bà Phan Thanh Tâm chú trọng nói về “con người thật” hơn là nói đến “nàng thơ” cuả thi sĩ, nên ngay từ đầu đề cuả bài viết đã muốn gửi đến độc giả “chân dung” cuả một cô gái Huế(thời tiền chiến) từ chuyện gia thế, công việc đến lãnh vực tôn giáo…và phải chăng vì thế mà xem nhẹ chuyện đáng được bàn đến hơn: “người thơ ” !. Nếu không sao chỉ với một khổ thơ đã bị trích sai be bét,? Nếu không đã chẳng có đoạn văn gán ghép thô kệch về “tài” đàn cuả HTKC và chi tiết Hàn Mặc Tử vì quá say mê tiếng đàn mà “phải” cuồng điên tìm đến nhà “rình mò” nghe cho được dù phải chuốc cả thẹn thuồng lẫn hổ ngươi?
    Nhưng chẳng lẽ một thi sĩ lại không tìm được một chữ nào thích hợp hơn là dùng chữ THE THÉ để ca ngợi tiếng đàn cuả người mình yêu? (bét ra thì cũng dùng chữ lảnh lót hoặc thánh thót chứ!)

    Theo thiển ý, bài thơ Tình Thu là một diễn biến cuả mối tình như độc giả đã biết từ mấy chục bài viết. Từ chuyện nhút nhát không dám mạnh dạn ngỏ ý , và cũng bởi nàng thơ quá kín đáo, gia pháp nghiêm và giáo dục thời đó còn ảnh hưởng Nho Giáo. Rồi đến một ngày với một ‘quyết tâm” do “cuồng yêu” thúc đẩy, thi sĩ quyết đến nhà nàng để giãi bày mối tình thầm kín, nhưng tiếc thay, lại không thắng được tính rụt rè nên đành đứng rũ ra trước thềm và …thi nhân thay vì tự trách lại đi đổ tội cho ‘tiếng đàn”(phá đám) cho nên mới có hai chữ…the thé, thay vì dìu dặt, lảnh lót…ở bên song! (mà tiếng đàn tranh, đàn nguyệt hay tì bà đâu có cung bậc nào the thé như Trumpet, hay Clarinet mà nhà thơ lại ‘ghét bỏ” đến như vậy? ).
    Khổ thơ cuối cùng diễn tả một thực tế là gia đình bà HTKC từ giã Quy Nhơn để trở lại Huế, thay vì thông cảm tình cảnh cuả “Tình Cúc” ( Thu cũng là Cúc, muà thu hoa cúc nở) phải theo gia đình về xứ thì thi sĩ lại kết án, rồi giận lẫy người mình thầm thương, trộm nhớ. Cuối cùng nguyền rủa “biệt ly”!

  4. h.t.n.anh says:

    “Tiếng đàn the thé ở bên trong”
    Thê thé là tiếng nói vói âm thanh cao,chát chúa lên ,xé tan mà nhĩ ,lùn bùng lổ tai,nghe rất khó chịu
    như tiếng bà vọ đanh đá ,tức chông đánh con ,the thé noi cạnh nói khóe…
    Tiếng đàn mà nghe the thé từ ngoài cữa, hay trong sân vọng ra trong nhà thì tiếng đàn của quĩ .Tiếng đàn ma trong liêu trai chí di hớp ồn các chàng nho sinh cũng nhẹ nhàng du dương ,êm ả chó đâu có rít lên ,the thé điếc tạ ,khó chịu như vâyy .Do đó có lẻ tác giã “tam sao thất bổn” vì có lẻ mô HMT lại dùng chữ “the thé” đẻ tã một tiếng đàn nhè nhẹ ,khe khẻ ,sè sẹ,nho nhỏ …nghe như xa ,như gần làm anh chàng si tình đưng dưới trăng trong sân nhà nàng mà ngẩn ngơ,,,
    Câu chuyện HMT mà kẻ góp ý này đọc được và cũng nghe kể ,là Bich Khe,thí sĩ ,bạn thân với HMT ,cũng là người Huế,thấy bạn buồn thảm vì thất tình nên đã giới thiêu cô cháu gái cho HMT mực dầu năm đó cô cháu gái mơi 12 /13 tuổi. Mối tình qua thư từ giữa 2 người ở 2 nơi rất thấm thiết.Người ta nói thật ra những bức thư đó do bích kê viết và ký tên cô cháu gái,:Thương Thương..Thương Thương trước 75 còn sống,là giáo sư trường Đồng Khánh Huế.Bai thơ:
    Đêm qua trong ộng gặp Thương Thương,
    Má đỏ au lên dẹp lạt thường,
    Bàn tay nềm mại nên thơ quá
    Tà áo lung linh dày tựa sương
    Phải chăng Thương Thương (Bích Khe đặt tên khi chơi “bạn bốn hương ” vói HMT) là người cô của tác giã cuốn sách mà tác giã giới thiêu ở trên ?
    Và nếu chĩ là mối tình câm “dùng cảm nhưng rụt rè” tỏ tình và bị coi như từ chối thì thôi.Còn gì đẻ nói đẻ “đem tâm tình viết lich sữ?” hay chí là đính chánh “HTC và HMT không có mối tình dẹp lãng mạng như những Quách Tấn ,Tràn thanh Mại viết? Một câu đính chánh khi đã ở trong mồ.,lâu vậy ư? dài vậy ư (gần 200 trang sách).
    Đọc bài chủ,không thấy “mối tinh ở mô?” hay không có chi mô hay kín đáo quá chăng ? Chĩ là anh chàng si tình đưng ngoài ủa nghe đờn the thé và khi tỏ tình bị từ chối ,tặng sách thơ người dẹp không nhận,lần sau găp lại ,”tặng cho ai,không tăng cho em”.Vì phải chăng :”Em không lấy là tình ta đã mất/tình đã mất không lấy lại bao giờ ! (XD)”
    (htna)

  5. Lại Mạnh Cường says:

    Tiếng đàn THE THÉ ở bên trong !???

    Tiếng đàn như thế là hay là lôi cuốn sao nhỉ !!!?

  6. NGÀN THƠ says:

    MỐI TÌNH ĐƠN PHƯƠNG

    Em mười chín tuổi anh đôi mươi
    Gặp gỡ vài lần đời vẫn vui
    Anh đến thăm nơi thôn Vĩ Dạ
    Mê em lá trúc mặt chữ điền

    Anh Hàn Mạc Tử hồn thi sĩ
    Em gái dịu hiền rất nết na
    Tên em anh biết là Kim Cúc
    Hoàng Thị tình anh phải thiết tha

    Gặp em vài bận rồi xa mãi
    Tình quả đơn phương quá ngậm ngùi
    Anh tự hỏi lòng em có nhớ
    Từ thôn Vĩ Dạ lúc xa rồi

    Anh viết lời thơ gửi bạn tình
    Đây thôn Vĩ Dạ kiểu đơn phương
    Tình trong cô độc đời anh chết
    Anh chỉ mơ hoài bao sắc hương

    Một lần như thế rồi biền biệt
    Anh vẫn thương em mãi tiếng đàn
    Nhớ mãi dáng em người xứ Huế
    Tình anh vô vọng với thời gian

    Em có biết anh vẫn hận lòng
    Cuộc đời định mệnh kiếp long đong
    Ngặt nghèo bệnh lạ trời hành hạ
    Anh mãi hận lòng trong cô đơn

    Mối tình bất hạnh chỉ đơn phương
    Thật ngậm ngùi thay nỗi vấn vương
    Lá trúc che ngang từ dạo ấy
    Chữ điền ngang mặt của người thương

    Ôi tình đơn phương tình đơn phương
    Với anh vẫn đẹp đẽ lạ thường
    Anh quyết phải đi em có biết
    Gửi em ở lại vạn tình thương

    Sau này em trở lại nâu sồng
    Hay áo lam chiều ý trắng trong
    Tất cả hồn dâng lên cõi Phật
    Và tình anh cứ mãi thong dong

    THƠ NGÀN
    (12/02/15)

Phản hồi