|

Các vị tổng thống Hoa Kỳ

TT Obama. Ảnh www.asiantribune.com

TT Obama. Ảnh www.asiantribune.com

Thưa các bạn độc giả.

Hôm nay nước Mỹ được nghỉ vì là ngày lễ tưởng nhớ các vị tổng thống. Tôi tìm trên Mạng tin tức về ngày quốc lễ chợt thấy bài báo cũ của chính Giao Chỉ viết nhiều năm trước. Bèn đọc lại thấy vẫn Ok, sau khi sửa lại vài chữ, xin gửi tặng các bạn.

Tình tự dân tộc ở đâu?

Tổng thống Hoa Kỳ có phải là tổng thống của chúng ta hay không? Chúng ta đây là người Việt mang quốc tịch Hoa Kỳ. Trên pháp lý thì đúng đấy, nhưng trên thực tế thì dân ta có vẻ lạnh lùng hờ hững lắm. Như vậy có vẻ bất công với đất nước mà chúng ta đã hưởng phúc lợi khá nhiều.

Vẫn còn nhớ khởi đi từ cuối thập niên 70, anh em gặp nhau trên con đường xuôi ngược tìm nơi định cư. Tay bắt mặt mừng, hỏi rằng bây giờ bạn làm gì ở đâu. Câu trả lời nhẹ nhàng lý thú: trước làm hãng Ford, mới đây thì lãnh lương Carter. Check Carter lãnh đủ 4 năm, rồi qua làm việc với tổng thống Reagan. Cho đến bây giờ có nhiều bạn cao niên chúng tôi lãnh tiền già của vị tổng thống mới mà vẫn quen mồm gọi là anh Obama. Hết sức là tự do dân chủ.

Dân ta ở Mỹ đã 10, 20 hay thậm chí 40 năm. Đã đứng lên nghe đọc lời thề vào quốc tịch. Vui vẻ giơ tay thề bỏ hết những giây mơ rễ má với quê hương cũ, sẽ một lòng cầm súng chiến đấu cho Tổ Quốc mới, nhưng thật sự tấm lòng không hề rung động với Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ.

“Lòng quê gởi áng mây tần xa xa”

Người thì làm ăn cật lực để gởi tiền về quê. Mua đất, cất nhà. Người thì đi về như đi chợ. Người thì đốt lửa, thổi gió đấu tranh về quê hương. Hết năm này qua năm khác. Bao nhiêu là đám cưới, bao nhiêu lần khai sinh, bao nhiêu đám ma. Ở trên miền đất đầy cơ hội đã hơn một phần ba thế kỷ mà sao vẫn mang tâm trạng lưu đầy, mãi mãi làm người lưu vong trong hoàn cảnh tạm dung.

Bài học lịch sử và tình tự dành cho Tổ Quốc mới, khi thi xong nhập tịch là buông xuôi hết. Như vậy, phải chăng chúng ta đối xử với nước Mỹ dường như không phải đạo.

Kể từ năm 75 cho đến nay là năm hai không mười sáu. Chẳng mấy chốc mà qua nửa thế kỷ lưu vong. Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải dành cho cái đất nước tử tế này một chút tình dân tộc mới.

Xin vui lòng đọc bài giải bầy này với mối chân tình.

Xin đọc lại bài học quốc tịch bằng tấm lòng thành.

Các vị tổng thống Hoa Kỳ

Ghi dấu lịch sử đầu tiên dành cho vị tổng thống thứ nhất George Washington. Ông là vị khai quốc công thần, là cha già dân tộc, là quốc phụ của Hoa Kỳ. Vị tướng chỉ huy cuộc chiến tranh cách mạng chống Anh quốc. Thành lập Hiệp chủng Quốc và lên làm tổng thống 2 nhiệm kỳ. Ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1796. Vì vậy nước Mỹ có ngày President’s Day cũng gọi là Washington’s Birthday. Sau đó người ta cũng ghép chung vào ngày lịch sử này để kỷ niệm thêm ngày sinh nhật của vị tổng thống thứ 16 là Abraham Lincoln. Ông sinh ngày 12 tháng 2-1809. Cho đến nay ngày President trở thành ngày quốc lễ và nước Mỹ chọn ngày Thứ hai của tháng Hai, nằm giữa sinh nhật của hai vị tổng thống vĩ đại. Một người lãnh đạo kháng chiến thành lập quốc gia. Một người chiến thắng cuộc nội chiến, thống nhất đất nước.

Nếu hỏi rằng, ngoài hai vị kể trên trong tất cả các vị tổng thống Hoa Kỳ hơn 200 năm qua thì còn có tổng thống nào xếp hạng cao trong lịch sử. Hoa Kỳ có ngay câu trả lời.

Các tổng thống vĩ đại của nước Mỹ

Câu trả lời không phải bằng văn bản mà bằng cả 1 công viên quốc gia. Không phải là vườn cảnh, tượng đài mà bằng núi đá. Tại tiểu bang South Dakota có hình tượng khắc trên đá. Các hình tượng vĩ đại của 4 ông tổng thống vĩ đại. Trái núi chiếm diện tích 1,300 mẫu tây, với tượng đài cao 60 bộ nằm trên khu đất cao 5,700 feet trên mặt biển. Từ trái qua phải là hình tổng thống Washington, Jefferson, Roosevelt, và Lincoln.

Tổng thống Jefferson là người nhậm chức thứ ba, nhưng là cha đẻ của bản Tuyên ngôn độc lập. Ông đã viết ra những câu bất hủ trong các bản văn lịch sử để làm khuôn vàng thước ngọc cho đời đời. Đó là câu: “Con người sinh ra bình đẳng và ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc.”

Vị sau cùng là tổng thống Roosevelt, người đã lãnh đạo nước Mỹ khi nhân loại bước vào thế kỷ 19. Tượng đài khắc trên núi Rushmore là công trình thực hiện cha truyền con nối của gia đình điêu khắc gia Borglum. Ngày nay có hai triệu du khách đến thăm hàng năm.

Tinh hoa của dân chủ

Với hơn 200 năm lập quốc, nền dân chủ của Hoa Kỳ không một lần nào thay đổi người lãnh đạo mà có rối loạn binh đao. Hoàn toàn không có đảo chính, cách mạng, binh biến. Ngay cả những lúc chiến tranh sóng gió hay lúc các vị tổng thống bị truất phế, từ chức thì việc thay đổi cũng tuần tự theo luật lệ hoàn tất rất nhẹ nhàng và an toàn tuyệt đối.

Theo hiến định, khi vị tổng thống tại chức qua đời hay từ chức thì ông phó lên thay. Nếu không có phó tổng thống hay vì lý do gì, ông phó không lên thay thì người thứ ba là chủ tịch hạ viện và kế tiếp là bộ trưởng ngoại giao. Trong thể chế dân chủ, quyền hạn do các chính trị gia nắm giữ nên vai trò bộ trưởng quốc phòng và tham mưu trưởng liên quân thuộc phe quân sự không nằm trong danh sách được giao quyền lãnh đạo đất nước.

Trong hoàn cảnh thuộc về đợt di dân Việt Nam đến Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ thứ 20, nếu chúng ta tìm hiểu về cuộc đời của tất cả các vị tổng thống Hoa Kỳ sẽ tìm thấy rất nhiều chi tiết lý thú. Tuy nhiên, nói đến mối giao tình Việt Mỹ phải kể lại câu chuyện sử liệu từ thời tổng thống thứ 18 của Hiệp Chủng Quốc là ông Grant vào năm 1869.

Việt sử ghi lại rằng vào năm 1870, ông Bùi Viện gốc làng Trình Phố, tỉnh Thái Bình dưới triều Tự Đức được cử đi sứ qua Hồng Kông rồi nhân dịp này theo tàu viễn dương qua Hoa kỳ vào triều đại Tổng thống Ulysses Grant. Tổng thống Mỹ tiếp kiến hứa hẹn viện trợ cho Việt Nam canh tân. Ông Bùi Viện về nước trình lên kết quả và lại trở lại Mỹ quốc lần thứ hai. Tuy nhiên, kỳ này Hoa Kỳ lại đổi ý nên việc viện trợ không thành.

Dù sao thì đây cũng là một ghi dấu về những ngày bang giao Việt Mỹ đầu tiên. Nhưng suốt một trăm năm từ thời kỳ1850 đến 1950 miền Đông Nam Á vẫn trong vòng ảnh hưởng của Pháp nên Việt Nam không có cơ hội liên hệ với Hoa Kỳ. Cho đến năm 1975, cựu đại sứ Bùi Diễm, thuộc giòng họ Bùi Viện, đại diện Việt Nam Cộng Hòa lại thất bại trong lần xin viện trợ cuối cùng.

Tổng thống Hoa Kỳ và chiến tranh Việt Nam

Cho đến thời kỳ 1954 của tổng thống thứ 34 là ông Eisenhower, Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò trong lịch sử Hiệp Chủng Quốc.

Vào cuối thập niên 50, trong chuyến đi Mỹ, chúng ta thấy hình ảnh ông Eisenhower đón chào tổng thống Ngô Đình Diệm và ca ngợi vị nguyên thủ Việt Nam là vĩ nhân của Đông Nam Á. Và chẳng bao lâu sau đó, vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ là ông Kennedy đã gián tiếp trách nhiệm về cuộc đảo chánh và việc hạ sát anh em ông Diệm năm 1963 tại Sài Gòn. Ông Kennedy tuy giải tỏa được một chế độ cản đường nhưng cũng rất ân hận về cái chết của ông Diệm. Cả hai ông Ngô Đình Diệm và Kennedy đều là Thiên Chúa Giáo.

Nhưng niềm ân hận cũng không lâu, chỉ sau một thời gian ngắn đến lượt ông Kennedy bị ám sát chết tại Dallas, Texas.

Cái chết của cả hai vị tổng thống đều vẫn còn nhiều bí ẩn cho đến ngày nay. Ông Johnson lên thay trong vai trò tổng thống thứ 36 với gánh nặng chiến tranh Việt Nam. Ông là người quyết tâm nhưng vẫn không thành công và để cho ông Nixon lên thay với chiêu bài Việt Nam hóa chiến tranh, rút quân về bằng mọi giá.

Năm 1974, Nixon, vị tổng thống thứ 37 vì Watergate phải từ chức. Ông Gerald Ford thứ 38 lên thay, thể theo lòng dân và quốc hội, quay lưng cuộc chiến tranh Việt Nam. Từ nay đối với Hoa Kỳ, Việt Nam chỉ còn là vấn đề nhân đạo.

Với 5 vị tổng thống can dự vào chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford, người Mỹ gọi đây là The War of the Presidents. Ý nói là cuộc chiến riêng tư của các vị tổng thống, không can dự gì vào nước Mỹ và dân Mỹ. Làn sóng chống chiến tranh của dân Mỹ dâng cao với các cuộc xuống đường hàng triệu người. Bây giờ sống tại đây chúng ta mới có thể hiểu được là lòng dân của Mỹ quốc thực sự ảnh hưởng đến chính quyền ra sao. Không cần đúng hay sai, không cần giữ lời cam kết. Đối với dân chúng Hoa Kỳ, lòng kiên nhẫn và sự chịu đựng, hy sinh rất giới hạn. Đánh không xong thì rút, sống chết mặc bay. Từ các quan niệm đó, định mệnh đưa chúng ta đến Hoa Kỳ.

Tổng thống Hoa Kỳ và dân tỵ nạn Việt Nam

Sau ông Ford, dân tỵ nạn lần lượt sống với 5 vị tổng thống của thời hậu chiến. Bắt đầu từ ông Carter, tổng thống thứ 39, ông già hiền lành đạo đức chính là vị ân nhân đầu tiên mở cửa nước Mỹ cho thuyền nhân từ các trại tỵ nạn vào Hoa Kỳ.

Khi đoàn biểu tình Việt Nam thắp nến đi trước Bạch Cung để than khóc cho thuyền nhân thì ông Carter đã mở cửa ban công ngó xuống vẫy tay chào. Nước mắt dân tỵ nạn Việt Nam di tản đợt đầu, nhỏ giọt xuống đại lộ Constitution đã làm động lòng ông tổng thống chuyên cất nhà Homeless. Lệnh tổng thống ban ra từ đây các tàu chiến của hạm đội số Bảy bắt đầu xua đuổi hải tặc và vớt người di tản. Các phái đoàn Mỹ lên đường đến phỏng vấn tại trại tỵ nạn Đông Nam Á. Rồi tiếp đến ông thứ 40 là Reagan suốt 8 năm đưa ra các đạo luật tỵ nạn, khởi sự các buổi thảo luận thả tù, để sau này ông Bush số 41 tiếp tục mở rộng tấm lòng nhân đạo.

Bước qua thập niên 90, triều đại Bill Clinton, tổng thống thứ 42 là thời kỳ của hòa giải và hàn gắn. Clinton mở đường hiệp thương, giải tỏa cấm vận, đưa tay dắt đường cho Hà Nội trở về với thế giới tự do. Sau cùng ông Clinton chấm dứt nhiệm kỳ bằng một chuyến công du cuối cùng dưới hình thức qua Việt Nam để trình diễn một màn Workshop dân chủ đi từ Hà Nội đến Sài Gòn.

Qua đến ông Bush, vị tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ đã đem bài học Việt Nam ra để đánh trận Trung Đông, nhưng đã gặp nhiều cay đắng. Bây giờ đến lượt tổng thống Obama, với hoàn cảnh thế giới điên đảo, nợ nần chồng chất, ông có quá nhiều mối bận tâm. Hồ sơ Việt Nam và hồ sơ di dân tỵ nạn sẽ còn lâu mới đem ra thảo luận.

Xem như vậy, lịch sử cận đại của Hoa Kỳ từ 1954 đến nay có 11 vị tổng thống. Năm vị tham dự vào cuộc chiến Việt Nam. Ba triệu lính lần lượt tham chiến. 58 ngàn người chết. Mỗi vị tổng thống khi nhắc đến Việt Nam đều mang một kỷ niệm cay đắng khôn nguôi.

Kể từ 1975 đến nay, 5 vị tổng thống liên quan đến dân Việt Nam hậu chiến, qua các lãnh vực di dân tỵ nạn và nhân đạo. Cả 5 người đã mang một quan niệm mới mẻ về hai chữ Việt Nam. Đã bớt phần đau thương cay đắng. Trong những năm gần đây, sự thành công của người Việt tại Hoa Kỳ trong tất cả các lãnh vực đã đem đến cho các ứng cử viên tổng thống một ý niệm mới mẻ tốt đẹp của chúng ta tại quê hương mới. Riêng tổng thống Obama, trong bài diễn văn nhậm chức đã nhắc đến Việt Nam qua trận Khe Sanh.

Bây giờ sẽ đến lượt con cháu chúng ta sẽ làm quen với vị tổng thống da mầu đầu tiên thứ 44 với niềm tự hào của một thế hệ di dân gốc Việt góp phần xây dựng đầy hưng phấn trong tương lai. Mặc dù ngày đó có thể còn rất xa, nhưng bây giờ xin vui lòng nhận chấp nhận tổng thống của chúng ta. Trong niềm tin mới, chúng ta cùng ghi dấu ngày lễ tổng thống 2016. Dù rằng nghĩa trang Việt Nam tại Los Gatos có treo đôi câu đối: “Trăm năm xác tục gửi quê người, Vạn dặm hồn thiêng về cố quốc.” Tôi cũng xin nhắc lại hai bài học trăm năm của các di dân đến trước chúng ta. Một văn hào Nga đã nói rằng: “Nơi nào tôi sống có tự do, nơi đó chính là quê hương.” Một chính khách Ba Lan tỵ nạn lại nói rằng: “Muốn đấu tranh hữu hiệu cho quê hương cũ, hãy làm một công dân tốt trên quê hương mới.”

© Giao Chỉ

© Đàn Chim Việt

10 Phản hồi cho “Các vị tổng thống Hoa Kỳ”

  1. tom le says:

    “… Tổng thống Hoa Kỳ có phải là tổng thống của chúng ta hay không?”

    ( Chúng ta đây là người Việt mang quốc tịch Hoa Kỳ.)

    Yes, Hoa Ky là quốc gia của tôi và TT hoaKy là TT của tôi .

  2. nguyen ha says:

    Bài viết hay. Xin góp ý thêm : Ông Bùi Viên đi sứ sang Hồng koong và sau đó đi Mỹ ,Nhưng khi gặp TT Mỹ Grant,Ông không mang theo Quốc Thư,nên chỉ được tiếp với tính cách xả giao. TT Grant hứa lần sau có Quốc thư ,sẽ bàn chính thức. Ông Bùi Viện về nước,lần sau qua lại thì TT Grant hết nhiệm kỳ. TT mới lên không húa hẹn gì cả.

  3. phamminh says:

    Trích: Một văn hào Nga đã nói rằng: “Nơi nào tôi sống có tự do, nơi đó chính là quê hương.”

    Quê hương là nơi một người được sinh ra và lớn lên với không biết bao nhiêu kỷ niệm dù vui hay buồn, hạnh phúc hay đau khổ, có tự do hay không tự do thì đó vẫn là quê hương. Anh chấp nhận hay từ bỏ là tùy anh nhưng phát biểu như thế tôi đánh giá anh là người không có ý niệm, nhận thức đúng về hai chữ quê hương. Phê (phán) nặng hơn một chút: anh là người mất gốc. Thế mà cũng là một văn hào thì cũng lạ.

    Quê hương thứ nhất của tôi không có tự do nên tôi phải đi tìm một nước khác để sống và tôi xem đây là quê hương thứ hai . Tất nhiên tôi phải có trách nhiệm và nghĩa vụ như tất cả mọi công dân khác đối với đất nước này.

    Tôi không chấp nhận/từ bỏ chế độ (không tự do) chứ tôi không từ bỏ quê hương tôi.

    Không biết ông văn hào này nay còn sống không, cải nhau chơi cho quên đời tị nạn.

    PM

    • Nguyễn Văn says:

      “Nơi nào tôi sống tự do, nơi đó chính là quê hương.”

      Nói chính trị nhiều cũng nhàm chán, đổi đề tài nói chuyện khác cho “quên đời tỵ nạn”.
      Chào bạn Phamminh,
      Đồng ý với nhận định của bạn và xin góp ý “mổ xẻ” thêm tí tí cho cuối tuần vui vui. Tuy lạc đề tài, nhưng biết đâu con cháu người Việt tỵ nạn sẽ là tổng thống Hoa Kỳ?

      Tôi không biết câu trích có chính xác không nhưng chữ nghĩa Việt Nam viết không chính xác thì dễ hiểu lầm và hiểu sai. Câu nói trên hàm ý nếu mất (chính xác hơn là không có) tự do là không có, hoặc không còn là, hoặc không phải là, hoặc chỉ là quê hương giả tạo? Chữ “chính là quê hương” có ý nhấn mạnh không tự do thì không phải là quê hương. Bạn Phamminh cho là mất gốc, nhưng nặng hơn, tôi cho là không có “gốc”. Tôi cố gắng không nghĩ ông văn hào chối bỏ quê hương mà có lẽ để khẳng định chối bỏ chủ nghĩa và chế độ cộng sản. Nhưng dù là ý gì thì cũng khó chấp nhận câu nói như vậy. Nói như vậy cũng chẳng khác gì con người cộng sản, hoặc nhẹ nhàng hơn, là con người ích kỷ chỉ biết quyền lợi cá nhân.

      Người Việt tỵ nạn cộng sản ngày nay có cuộc sống đầy đủ về tinh thần và vật chất, có thể nói là trên nhung dưới lụa trong xã hội tự do và dân chủ bậc nhất thế giới mà có mấy ai đã chối bỏ quê hương?! Chúc bạn cuối tuần vui vẻ.

      nv

      • phamminh says:

        Bạn nghĩ sao về lời nói này:

        “Kẻ nghèo nhất không phải là kẻ không tiền bạc, của cải mà là kẻ không có được một mãnh đất quê hương để sống.”

        Nghe cũng thấm đời tị nạn lắm chứ?

        Dường như của Erich Maria Remarque trong Bản Du Ca Cuối Cùng Của Những Người Không Còn Đất Sống. Đọc từ trước 1975 nên không chắc nhớ đúng xuất xứ.

        Thân

        PM

      • Nguyễn Văn says:

        Tôi nhớ có một mẫu truyện như vầy, cũng không nhớ xuất xứ.
        Có một người sống tỵ nạn ở Mỹ, cứ mỗi buổi chiều rảnh sau một ngày làm việc ông ta hay ra trước cửa nhà ngồi trầm ngâm suy tư nhìn xa xăm và lấy tay bới tìm như tìm kiếm một vật gì đã mất. Hầu như ngày nào ông cũng làm thế và hàng xóm thấy lạ để ý. Một hôm có một người hàng xóm đến hỏi sao ông có tự do, có công việc tốt và nhà cao xe đẹp mà trông ông lúc nào cũng buồn và ngày nào cũng thấy ông lấy tay bới tìm vật gì vậy? Lẳng lặng nhìn người hàng xóm ông trả lời chậm rãi: “Tôi đi tìm một hạt cát.” Người hàng xóm ngạc nhiên lắm. Tưởng ông tìm cái gì quý báu nhưng ông chỉ tìm hạt cát mà cát cả đống trước mặt mà ông ta cứ tìm, chẳng lẽ ông ta điên?

        Như bạn Phamminh trich dẫn: “Kẻ nghèo nhất không phải là kẻ không tiền bạc, của cải mà là kẻ không có được một mảnh đất quê hương để sống.” Ông tỵ nạn đi tìm hạt cát nhưng là hạt cát quê hương.

        nv

  4. Bút Thép VN says:

    Tổng thống thứ nhất George Washington là vị khai quốc công thần được nhân dân Mỹ tôn là cha già dân tộc, là quốc phụ của Hoa Kỳ.

    Tổng thống Ngô Đình Diệm người có công dẹp loạn sứ quân và khai sinh nền Cộng Hoà, trong triều đại 9 năm của ông người dân miền Nam sống thanh bình no ấm, nhưng sau cùng bị Mỹ bật đèn xanh đảo chánh với các tội danh độc tài gia đình trị, kỳ thị và đàn áp Phật giáo.

    Hồ Chí Minh đem CNCS về dày xéo quê hương, giết người vô tội vạ thì được tôn là ‘cha già dân tộc’, là vĩ nhân thế giới.

  5. Bút Thép VN says:

    Xin nhận nơi này làm quê hương nhưng sao lòng vẫn quyến luyến nhớ thương quê hương VN yêu dấu, mặc dù đã gần 40 năm xa xứ!

    Cuộc đời nhiều lúc đắng cay lên voi xuống ngựa, khen đó rồi chê đó, ca ngợi đó rồi bị giết đó!

    Vào cuối thập niên 50 Tổng thống Eisenhower đón chào tổng thống Ngô Đình Diệm và ca ngợi vị nguyên thủ Việt Nam là vĩ nhân của Đông Nam Á, nhưng vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ là ông Kennedy đã gián tiếp trách nhiệm về cuộc đảo chánh và việc hạ sát anh em ông Diệm năm 1963 tại Sài Gòn, và rồi chỉ sau một thời gian ngắn đến lượt ông Kennedy bị ám sát chết tại Dallas, Texas.

    Đúng là: Trạng chết vua cũng bằng hà, dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trọn!

    Còn câu này thì tôi không hiểu tác giả muốn nói gì ?

    Ông Kennedy tuy giải tỏa được một chế độ cản đường nhưng cũng rất ân hận về cái chết của ông Diệm. Cả hai ông Ngô Đình Diệm và Kennedy đều là Thiên Chúa Giáo.

    Chế độ cản đường?
    Cản đường gì và tại sao phải ân hận?

  6. Trần Vinh says:

    Người tỵ nạn VN được đề nghị làm thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Hoa kỳ
    16/2/2016

    New York Times nêu tên bà Jacqueline Nguyễn trong số sáu người có khả năng được bổ nhiệm thành Thẩm phán Tòa Thượng thẩm, sau khi ông Antonin Gregory Scalia, vị thẩm phán kỳ cựu, qua đời.

    Năm nay 51 tuổi, bà Jacqueline Nguyễn “sang Hoa Kỳ năm 10 tuổi cùng gia đình, sau khi chính quyền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975″, tờ báo Mỹ viết.

    “Hiện đã là thẩm phán Toà Phúc thẩm Hoa Kỳ, bà được Tổng thống Obama bổ nhiệm vào tháng 5/2012,” trang báo cho hay.

    Các báo tiếng Việt cho biết bà tên là Nguyễn Thị Hồng Ngọc, sinh năm 1965 tại Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam.

    Một trang web của người Việt tại Hoa Kỳ viết rằng cha bà, cựu thiếu tá Quân lực Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Bình đưa gia đình sang tị nạn tại Hoa Kỳ năm 1975, ban đầu ở Trại Pendleton, sau đó định cư ở Los Angeles.

    Các trang báo cũng nói khi mới sang Hoa Kỳ cô bé Jacqueline “đi phụ bán bánh với mẹ để kiếm sống”

    Thẩm phán liên bang

    Tốt nghiệp Occidental College và trường Luật UCLA, bà đã từng hành nghề luật, chủ yếu trong các vụ kiện tụng dân sự, và sau đó giữ các chức vụ trong bộ máy tư pháp ở California, theo New York Times.

    T̀háng 5/2012, với số phiếu 91-3, bà được phê chuẩn trở thành thẩm phán Tòa Phúc thẩm Liên Bang Hoa Kỳ Khu Vực 9 (Ninth Circuit U.S. Court of Appeals).

    Ngoài bà Jacqueline Nguyễn, năm nhân vật được tờ New York Times nêu lên là các “ứng viên tiềm năng” lên thay vị trí củ̃a ông Antonin Scalia là các ông Merrick B. Garland, (63 tuổi), Padmanabhan Srikanth Srinivasan (48 tuổi, sinh tại Ấn Độ), Cory Booker (46 tuổi, thượng nghị sỹ New Jersey), các bà Kamala D. Harris (51 tuổi, người gốc Á – Phi), Patricia Ann Millet (52 tuổi).

    Cùng thời gian, một tờ báo khác ở Hoa Kỳ nêu ra tên bảy ứng viên tiềm năng vào chức tân thẩm phán Toà Thượng Thẩm.

    Họ là Jane Kelly, Sri Srinivasan, Amy Klobuchar, Merrick Garland, Paul Watford, Pam Karlan và Jacqueline Nguyễn.

    Trang Vox.com viết rằng nếu được bổ nhiệm, bà Nguyễn sẽ là người Mỹ gốc Đông Á đầu tiên nắm chức vụ này.

    Tuy nhiên, trang web này cũng cho rằng hiện khó biết bà Jacqueline Nguyễn sẽ là một thẩm phán Tòa Thượng thẩm ra sao vì bà “như một trang giấy trắng’ (blank slate), hàm ý không có thành tích biểu quyết rõ rệt.

    Trái lại, người vừa tạ thế năm 79 tuổi, thẩm phán Antonin Scalia, có quan điểm bảo thủ, nổi tiếng với các quyết định làm biến đổi lịch sử ngành tư pháp và chính trị Mỹ.

  7. Chắc “nà” cháu ngoại Ba Ếch?

Phản hồi