|

Bé như một cái tăm

“Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam, cả những người phê phán quyết liệt nhất, cấp tiến nhất, cũng vẫn là những người nằm trong hệ thống, chỉ tìm cách thay đổi, hoàn thiện, bổ khuyết cho hệ thống đó. Chưa ai nghĩ đến sự thay đổi mang tính đoạn tuyệt.”
Phạm Xuân Nguyên

Đầu năm 2013, nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên hân hoan báo một tin vui:

“… một tác phẩm văn chương đầy nhân cảm của nhà văn Lê Tất Điều, sau 47 năm lại tái ngộ độc giả Việt Nam … Sau 47 năm, Đêm dài một đời của Lê Tất Điều trở lại giản dị và vẫn mới mẻ trong bối cảnh đời sống văn chương đang thiếu những tác phẩm đẹp, lay động thực sự dành cho tuổi mới lớn, trong đời sống mà sự vô cảm đang có sức lây lan mãnh liệt.”

Nowy obraz

Cuối năm trước, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cũng đã cho biết một tin vui tương tự:

“Dẫu ra đi trong hoàn cảnh nào, dẫu ở những phương trời nào, đất nước quê hương vẫn là nơi người đi muốn trở về, sau rốt. Võ Phiến được in lại trong nước, dù đang phải dưới bút danh Tràng Thiên, là một tin vui cho tác giả, cho độc giả, là một ích lợi cho văn hóa, văn học nước nhà. Rồi đây những cái có ích như vậy, những cái thực sự là giá trị văn chương, học thuật của cả một đội ngũ những người cầm bút, rộng ra là những người sáng tạo văn học nghệ thuật, của một nửa nước phía Nam thời 1954-1975 chắc sẽ được xuất hiện trở lại nhiều hơn. Văn học còn dè dặt, nhưng âm nhạc thì đã tưng bừng hơn, với sự trở về nước của những giọng ca từng nổi tiếng, quen thuộc, như Chế Linh mới đây, và Khánh Ly tới đây. “Thì Tổ Quốc chật hẹp gì cho trăm con cùng nương náu /Chúng ta không chung một đoạn đường nhưng chung một tương lai” (Chế Lan Viên).

Và đó là một phúc lớn.”
Phúc thật chứ không phải bỡn!

Không mấy khi những người cầm viết trong nước đề cập đến tác phẩm của đồng nghiệp (“những người sáng tạo văn học nghệ thuật, của một nửa nước phía Nam thời 1954-1975”) đang sống ở hải ngoại, với những lời lẽ ôn tồn và tử tế như thế. Sự bao dung và nhân ái này, dù hiếm hoi và có hơi muộn màng chăng nữa, vẫn là điều nên rất đáng lấy làm trân trọng.

Tuy nhiên, khi bàn đến chuyện “tương lai” và “phúc đức” (để nói cho hết lẽ) tưởng cũng nên nhắc qua về “thảm hoạ” đã xẩy ra trong “quá khứ” cho những tác phẩm, cũng như tác giả, ở miền Nam – gần 40 năm trước:

-“Trước hết là bản thông cáo của Ủy ban Tuyên huấn Thành ủy truyền đi lải nhải suốt cả tuần lễ liền trên đài phát thanh. Nhà nước cấm tàng trữ tất cả mọi loại sách ấn hành dưới chế độ cũ. Nhiều địa điểm được chỉ định để mọi người đem giao nạp sách. Hàng ngày lái xe đạp đi ngang qua cầu Trương-Minh-Giảng, Ba Sinh thấy thiên hạ ùn ùn chở những chiếc xe ba gác chất đầy sách cũ đổ vào sân trường Đại học Vạn Hạnh. Chàng có cảm giác như bị ngộp thở trong một cơn biến động hết sức kinh hoàng.

Nhìn những cuốn sách chồng chất tả tơi trên những chiếc xe nặng nề leo dốc, nhìn những trang sách bị xé rách rã rời bay tung tóe, rơi rải rác trên đường phố, bị những bánh xe vô tình cán qua nhem nhuốc, nhầu nát, Ba Sinh thấy tâm hồn của mình cũng tan nát, tơi tả như thế…” (Nhật Tiến. “Trận Đánh Cuối Cùng Của Một Kẻ Sĩ.” Tiếng Kèn. Westminster: Văn Nghệ, 1982).

-“Đám trẻ xộc vào nhà người ta khuân ra ngoài lề đường từng đống sách báo. Nổi lửa đốt khói lên ngút trời. Một ông lớn tuổi đầu hói mang kính cận dầy cộm chạy ra la giằng lại cuốn sách đóng bìa da to vĩ đại:

- Các cháu ơi cho bác xin, đây là quyển Bách Khoa Từ điển tiếng Tây.
Không phải văn hóa đồi trụy.

Chú nhóc miệng còn hôi sữa giằng lại cuốn sách, ném luôn vào thùng phuy đang bốc lửa:

- Đốt hết, đốt hết, sách là đốt. Lệnh trên như vậy.

Ông già ôm mặt khóc bên lề đường. Tôi quay mặt nhìn đi chỗ khác, tôi biết ông cụ. Giáo sư đại học luật, Vũ Đăng Dung. Tiến sĩ luật công pháp quốc tế. Ông cụ ở đường bên cạnh nhà tôi, đường Đinh Công Tráng, con đường nổi tiếng bán bánh xèo. . . . “ ( Nguyễn Thụy Long. Viết Trên Gác Bút. Westminster: Văn Nghệ, 1999)

- “Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc. Tại các cửa hàng kinh doanh, sách báo bị thu gom để thiêu hủy, coi như đốt cháy cả cơ nghiệp lẫn con người những cá nhân có liên quan…” (Nguyễn Ngọc Chính – Buồn Vui Thời Điêu Linh: Đốt Sách).

Gần bốn mươi năm sau – sau khi sau khi hàng ngàn tác phẩm, và hàng trăm tác giả của cả một nền văn học bị vu khống, xuyên tạc, đánh phá, quét sạch, tố cáo, truy lùng và thiêu hủy – đã có vài tác phẩm (con số chưa chắc đã đếm đủ 10 đầu ngón tay) của những tác giả lưu vong được phép in lại ở VN. Và điều này đã được nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, Chủ Tịch Hội Nhà Văn Hà Nội, mô tả “là một tin vui cho tác giả” và “cho độc giả.”

Tôi thực lòng cũng có lấy làm vui nhưng không thoáng khỏi ray rứt – khi chợt nghĩ đến những mảnh đời tan nát của những người còn ở lại, hay kẹt lại. Hãy nghe Trúc Phương nói qua về thân phận của chính ông:

“Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rài đây mai đó,’bèo dạt hoa trôi’… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no…Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được…đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả.Tôi nghĩ ra được một cách..là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ…

Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng…thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta..thế là mình lấy 1 đồng về….như là tiền thế chân…Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…

Mà nói anh thương…khổ lắm….Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi ,tôi đành phải trải chiếu gần chỗ ‘thằng cha đi tiểu vỉa hè’, thế rồi cũng phải nằm thôi.Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát…mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn …Tôi nghĩ mà thôi , còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…”

Ảnh từ video clip

Ảnh từ video clip

(Xem video clip)

Chất liệu, rõ ràng, đã có (và có quá dư) nhưng cơ hội để Trúc Phương viết bài sau này (tiếc thay) không bao giờ đến – theo như tường thuật của nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam:

“Vào một buổi sáng năm 1996, Trúc Phương không bao giờ thức dậy nữa. Ông đã vĩnh viễn ra đi. Tất cả gia tài để lại chỉ là một đôi dép nhựa dưới chân.”
Lê Xuyên, ngó bộ, đỡ bầm dập hơn chút xíu:

“Sau biến cố 75, Lê Xuyên cũng bị liệt vào hàng ngũ ‘biệt kích văn hóa’ và bị cộng sản nhốt tù 7 năm. Được tha ra khỏi tù, ông làm đủ mọi nghề không tên để kiếm sống, và công việc cuối cùng ông làm được nhiều năm, cho tới lúc chết là ngồi bán thuốc lá lẻ bên lề đường Nguyễn Kim, Chợ Lớn…

Từ khi ra khỏi tù, Lê Xuyên sống không hộ khẩu, không được cấp bất cứ một thứ giấy tờ hộ thân gì, khi chết phải nhờ những người sống lâu năm trong xóm làm chứng mới xin được giấy khai tử để mang thiêu.

Như thế, nói Lê Xuyên hưởng thọ 77 tuổi là một cách nói theo thói quen, văn chương chữ nghĩa. Chứ sự thực, có thể coi như Lê Xuyên đã không còn nữa kể từ sau ngày 30 tháng 4, 1975…” (Nguyễn Đình Toàn. Bông Hồng Tạ Ơn, 2nd ed. Westminster: T &T, 2012. Vol.2).

Võ Phiến lại có cách nói khác, nặng nề và chính xác hơn, ông gọi những những người cầm viết còn ở lại quê nhà là những “tài năng bị chôn sống.” Ôi thôi, tưởng gì chớ bị chôn sống thì chết chắc. Mà nói nào ngay thì dù không bị chôn (e) cũng … chắc chết thôi, hay chỉ sống ngắc ngư, hoặc sống rất lờ vờ – như nhận xét của giáo sư Nguyễn Văn Lục về một người bạn đồng nghiệp cũ:

“… sau 1975 … có mấy mấy nhà văn, nhà báo trong Nam được cầm bút lại như Lý Chánh Trung. Con số đếm chưa hết một bàn tay… Trước 75, ông viết như thể một người nhập cuộc, kẻ lên đường, kẻ làm chứng, người trí thức dấn thân. Ông viết với một tấm lòng nhiệt huyết. Sau 1975, ông viết như một kẻ đứng bên lề, xem đá banh và vỗ tay.”

Mà đâu cần phải đợi đến 1975 mới có cảnh tang thương, dâu bể:

“Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường”.
(Hồi Ký của một người Hà Nội- Nguyễn Văn Luận)

Cứ nhìn những khuôn mặt nhầu nát của Văn Cao, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Nguyễn Mạnh Tường… thì người ta biết ngay họ đã sống dở (và chết dở) ra sao – từ sau 1954.

Tôi có quá lời không, hay có cố chấp quá không khi cứ nhắc lại những chuyện đã cũ, và những người đã khuất. Không đâu. Đây là chuyện mới tinh, mới xẩy ra năm ngoái – theo tường thật của phóng viên Đỗ Hiếu, từ RFA:

“Nhân dịp Lễ Vu Lan, rằm tháng 7 âm lịch, chùa Liên Trì tại Saigon tổ chức phát quà từ thiện cho một số thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, cựu tù nhân chính trị, tôn giáo, thân nhân các nhà dân chủ, vào sáng hôm qua.
Theo thông tin do các nhà dân chủ từ Việt Nam chuyển ra thì một số nhân vật bất đồng chính kiến, thân nhân các tù nhân chính trị còn bị giam cầm, dân oan bị công an bám sát mấy hôm nay, nhà cửa bị canh chừng, nhiều người đến chùa Liên Trì tham dự lễ Vu Lan, khi ra về đã bị công an bắt.”

Nowy obraz

“Thì Tổ Quốc chật hẹp gì cho trăm con cùng nương náu /Chúng ta không chung một đoạn đường nhưng chung một tương lai” (Chế Lan Viên).

Tổ quốc (tất nhiên) không “chật hẹp gì cho trăm con cùng nương náu” nhưng chúng ta làm sao có được “tương lai” khi quê hương đất nước vẫn bị kìm chặt bởi những kẻ cầm quyền quyền mà tầm nhìn thì chỉ thấp như con kiến, và lòng dạ thì bé xíu không hơn một cái cây tăm – như thế?

© T.N.T

© Đàn Chim Việt

8 Phản hồi cho “Bé như một cái tăm”

  1. Ông già Cali says:

    Nhìn những người thương binh này thật là thảm, nếu có ai phỏng vấn để biết được họ nghĩ gì, họ muốn gì thì hay lắm.

    Không biết họ còn tự hào với những ngày xưa vùng vẫy, tự do không?
    Không biết họ có biết rằng mạng của họ ngang hàng với mạng của những ‘người thắng cuộc’, của những ‘lãnh đạo’ gian ác cộng sản không?

  2. Huong Nguyen says:

    Với ông Chế Lan Viên: “… Thì Tổ Quốc chật hẹp gì cho trăm con cùng nương náu /Chúng ta không chung một đoạn đường nhưng chung một tương lai” (Chế Lan Viên). Tổ quốc nào ông Chế Lan Viên đang nói? – Tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa? Và tương lai nào Ông Chế Lan Viên muốn nói – tương lai Việt-Nam Xã Hội Chủ Nghĩa? Không chúng tôi không chung nhà với ông trong quá khứ và cũng không chung đoạn đường nào với ông trong tương lai!

    Với ông Tưởng Năng Tiến: “… Không mấy khi những người cầm viết trong nước đề cập đến tác phẩm của đồng nghiệp (“những người sáng tạo văn học nghệ thuật, của một nửa nước phía Nam thời 1954-1975”) đang sống ở hải ngoại, với những lời lẽ ôn tồn và tử tế như thế. Sự bao dung và nhân ái này, dù hiếm hoi và có hơi muộn màng chăng nữa, vẫn là điều nên rất đáng lấy làm trân trọng…” Có cái gì để các nhà văn hải ngoại cần trân trọng sự bao dung và nhân ái của chủ tịch hội nhà văn CSVN?
    Chử viết nghiêng và trong ngoặc kép là chử trích dẫn. Nhưng chử thường là chứ của tác giả. Tôi có đọc lộn hay không?

  3. noileo says:

    Những hành động như trên cuả bọn cộng sản VNDCCH vong bản ngoại lai tay sai tàu cộng, “bên thắng cuộc”, dành cho dân chúng miền nam, đốt sách của miền nam, hành hạ văn nghệ sĩ miền nam, mới là một phần trong vô vàn tội ác của bọn cộng sản VNDCCH, vậy mà trước những tội ác tầy trời của bọn cộng sản VNDCCH & HCM, của bọn trí thức cộng sản chân chính tim đỏ thẻ đỏ & bọn trí thức kiki & trí thức đảng lãnh đạo & trí thức 19-5 bọn chuyên nghề làm chứng gian vu cáo dân chúng miền nam, mà bà Vũ thị Phương Anh chỉ đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản CHXHCNVN, thối thân của bọn giặc cộng sản Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vong bản ngoạinlai tay sai tàu cộng, cất lên một tiéng xin lỗi thôi, mà ông Vũ Ánh cũng cho đòi hỏi ấy là quá đáng, Vũ Ánh nói rằng, đã là người thua cuộc thì không đuọc quyền đòi người thắng cuộc xin lỗi, như là đội banh thua trận đấu thì không đuọc đoig đội banh thắng phải xin lỗi !
    Thật không hiểu cái đầu ông Vũ Ánh có bị gì không?

    Không hiểu cái đầu ông Vũ Ánh có bị gì không, mà ông nỡ so sánh những gì, biết bao khổ đau mà người dân miền nam , mà người dân toàn quốc VN phải chịu đựng vì những hành động tội ác của bọn cộng sản VNDCCH & HCM, chỉ như là một trận thua của một đội bóng,

    Không hiểu cái đầu ông Vũ Ánh có bị gì không, mà ông Vũ Ánh có thể đánh giá cuộc bọn cộng sản VNDCCH chiếm đóng trấn lột đày đọa miền nam như là phần thưởng dành cho một đội bóng thắng cuộc mà miền nam, đội thua cuộc, theo ông Vũ ánh, không đuọc quyền đòi hỏi “đội thắng cuộc” xin lỗi!

  4. Trung Kiên says:

    Đọc bài viết mà lòng tê tái!

    Lại thêm một chứng tích của “Bên Thắng Cuộc” đây nè… tác giả Huy Đức ơi!

    Trích bài chủ:…”“Thì Tổ Quốc chật hẹp gì cho trăm con cùng nương náu /Chúng ta không chung một đoạn đường nhưng chung một tương lai” (Chế Lan Viên)

    Vâng!

    TỔ QUỐC có chật hẹp gì cho trăm con cùng nương náu.
    Nhưng “Bên Thắng Cuộc” quá xấu bụng nên những đứa con (thua cuộc) phải lầm than!

    Cám ơn tác giả Tưởng Năng Tiến và ĐCV.Info

  5. Phan BA says:

    khi quê hương đất nước vẫn bị kìm chặt bởi những kẻ cầm quyền quyền mà tầm nhìn thì chỉ thấp như con kiến, và lòng dạ thì bé xíu không hơn một cái cây tăm – như thế?

    Bác TNT cũng biết loại người ít học, hung ác trong một xã hội văn minh thì chỉ làm xã hội đen, trộm cướp; nhưng trong một nước kém phát triển, và dưới sự đỡ đầu của đám Hán cực kỳ thâm độc thì những người này trở thành ‘lãnh đạo’, lãnh tụ; để hại dân tộc, giòng giống của họ.

    Tôi khinh cái đám gian ác đã đành, nhưng cái đám văn nô, loại tay sai cho việt cộng, tôi càng khinh bỉ gấp trăm lần.

    Loại này không phải loại kém hơn người, thì cũng là loại dạt, phải sống chung vối cộng, dùng môi miệng, ăn nói xảo trá để kiếm miéng ăn.

    Cả giặc ít học, lẫn giặc xu nịnh, đều rất sợ sự thật, rất sợ người tài giỏi, người trí thức. Cấm sách vở, cấm báo chí, cấm nhạc, cấm radio, cấm internet, cấm bán thuốc tây, cấm bán sữa, cấm báng vàng miếng, cấm đổi đô la!!! chết rồi, càng ngày càng giống thời ‘GIẢI PHÓNG’!!!!.. Thật là lũ vô loại.

  6. doctin says:

    Bọn đế quốc Tàu và bè lũ Hán ngụy Hà nội nhúng tay vào tội ác hủy diệt văn hóa Việt tộc :

    Sử gia Trần gia Phụng : Quân Minh đô hộ nước ta từ năm 1407, và thi hành chính sách thuộc địa khai thác. Sau khi sáp nhập Đại Việt và Trung Quốc, quân Minh tiến hành kể hoạch đồng hóa. Quân Minh tịch thu hoặc tiêu hủy tất cả các loại sách vở của nước Nam, kể cả các bia đá ghi lại sự nghiệp của tiền nhân. Quân Minh chở về Trung Quốc hầu như toàn bộ sách vở Đại Việt đã có từ thời Hồ Quý Ly trở về trước.

    Năm 1975, sau khi vừa cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), Cộng sản Việt Nam (CSVN) tập trung và đốt hết sách vở miền Nam nhằm tiêu diệt văn hóa miền Nam, truyền bá văn hóa Mác-xít, không khác gì nhà Minh đã tiêu diệt văn hóa Đại Việt, truyền bá văn hóa Trung Quốc.

    Trong cuộc CCRĐ ( Cải Cách Ruộng Đất) năm 1955, tại Thanh Hóa, đội CCRĐ đã đập phá tấm bia đá từ thế kỷ 15 ghi công đức của Lê Lợi tức Lê Thái Tổ. (Nguyễn Minh Cần, “Xin đừng quên! Nửa thế kỷ trước”, điện báo Ánh Dương, ngày 3-2-2006.) Đội CCRĐ còn đốt nhà thờ tộc họ Nguyễn của đại thi hào Nguyễn Du ở Nghệ An, tiêu hủy tất cả những di cảo của đại thi hào nầy. (Nguyễn Minh Cần, báo đã dẫn.). Cũng tại Nghệ An, anh hùng dân tộc Phan Bội Châu bị đội CCRĐ đem ra đấu tố và ảnh của Phan Bội Châu bị quăng vào chuồng trâu. (Lời kể của cháu nội Phan Bội Châu trên báo Kiến thức ngày nay, số 50, Tp.HCM ngày 15-12-1990, và thư của Lê Nhân gởi Phan Văn Khải, trên báo Đàn Chim Việt ngày 5-12-2005.) Hành động nầy không khác gì nhà Minh vào thế kỷ 15, đập phá bia đá của Đại Việt, đốt hoặc tịch thu sách vở của Đại Việt đem về Trung Quốc.

    • Dân Nghệ says:

      Năm 1960 tôi được nghe ông nội tôi nói nhỏ trong gia đình có lẽ là Hồ chí Minh sợ tên tuổi của mình bị lút kém trước tên tuổi của các đại thi hào, đại nhân sĩ nên đã lợi dụng cuộc Cải Cách Ruộng Đất để triệt hạ, đốt nhà thờ của Thi hào Nguyễn Du, làm nhục anh hùng dân tộc Phan Bội Châu. Sau nầy tôi còn được nghe Hồ chí Minh kêu Hưng Đạo Đại Vương là bác bác tôi tôi, cho đến giờ nầy tôi vẫn còn ghê tởm thằng giặc Hồ đó.

      • doctin says:

        “…Sau nầy tôi còn được nghe Hồ chí Minh kêu Hưng Đạo Đại Vương là bác bác tôi tôi, cho đến giờ nầy tôi vẫn còn ghê tởm thằng giặc Hồ đó “. Dân Nghệ says:.

        Đồng ý với bác Dân Nghệ . Nhiều người cũng phê bình nó là thằng hỗn xược dám xấc láo vởi tiền nhân . Nó là đứa sinh sau , là phường Việt gian bán nước, phá nước . Đức Hưng Đạo Đại Vương là bậc tiền nhân , có công nghiệp giữ nước vĩ đại, hiển hách .

        Tội ác của tên đại Việt gian Hồ chí Minh đối với nhà đại cách mạng Phan Bội Châu : Hồ Chí Minh bán đứng cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp khiến cho cụ Phan bị Pháp bắt vào ngày 1 tháng 7 năm 1925 khi cụ Phan từ Hàng Châu đến Thượng Hải, để lấy một vạn đồng tiền thưởng và cũng để từ đó những người hoạt động cách mạng ở Trung Hoa thiếu người lãnh đạo, phải ngã về phe theo Hồ Chí Minh .

Phản hồi