|

Thủ đoạn mập mờ

cong-ham-ban-nuoc-1958-cua-Pham-van-Dong-sm

Một bạn đọc, ký tên Dang Nguyen , đã góp ý kiến về bức công hàm Phạm Văn Ðồng 1958 như sau: “Ðiểm khác biệt cần làm rõ là chế độ chính trị ở hai miền Nam-Bắc và cả hai đều được quốc tế công nhận là hai nước. Vì thế, nó không như lập luận của tác giả (Ngô Nhân Dụng) rằng ông Phạm Văn Ðồng nhân danh nước Việt nam – có lãnh thổ từ ải Nam Quan đến Cà Mau. Sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị là hai khái niệm riêng biệt – trong thời điểm lịch sử của Việt Nam.” Một độc giả khác, ký tên Tran, nhận xét: “Bức công hàm của Phạm Văn Ðồng làm người đọc cảm thấy không rõ ràng, mập mờ khó hiểu, nhất là không đề cập gì tới Hoàng Sa và Trường Sa…”

Trong bài trước, ký giả không bàn đến dư luận hay ý kiến của thế giới đối với bức công hàm Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa trên ý nghĩa bức công hàm đó trong tương quan giữa hai đảng cộng sản, và giữa hai quốc gia do họ đang cai trị vào thời điểm họ trao đổi văn thư này.

Về điểm thứ nhất, vào năm 1958, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tự coi họ làm làm chủ cả hai miền Nam, Bắc (hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng theo quan niệm này). Trong việc giao thiệp giữa hai bên, Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) chấp nhận quan điểm này của Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Trung Cộng chỉ lập bang giao với miền Bắc. Họ không công nhận chính quyền miền Nam, dù trong thời gian Hội Nghị Genève 1954, Chu Ân Lai đã tỏ ra muốn bắt cá hai tay, chính phủ Ngô Ðình Diệm từ chối.

Vì vậy, khi Phạm Văn Ðồng viết cho Chu Ân Lai, ông ta nhân danh toàn thể nước Việt Nam, không riêng miền Bắc. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam muốn “nói lại,” rằng ông Ðồng không thể đem tặng Trung Cộng những quần đảo mà ông ta không có quyền quản lý, lý luận này không thể đứng vững vì mâu thuẫn với điều Việt Cộng chủ trương năm 1958.

Chúng tôi đồng ý với vị độc giả ký tên Tran, là văn thư của Phạm Văn Ðồng có vẻ mập mờ, tính chất mập mờ này chắc là do cố ý. Ðúng là bức công hàm không nhắc đến tên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa). Tuy nhiên, bản văn đã viết rằng: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Nói như vậy tức là tán thành cả văn bản lẫn ý nghĩa tổng quát trong bản tuyên bố của Trung Cộng. Mà trong bản tuyên bố đó, Bắc Kinh nêu rõ ràng tên các quần đảo trên như thuộc quyền của họ. Tán thành bản tuyên bố tức là đồng ý họ làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, không thể nào chối bỏ hay giải thích đã hiểu lầm được.

Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Bắc Kinh đoạn mang số một nói rõ ràng là các hòn đảo và chu vi quanh các đảo Ðài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa, đều thuộc Trung Quốc.

Văn thư của Phạm Văn Ðồng viết mập mờ, không nói gì đến những tên Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng nội dung cả bức thư viết rõ ràng là chính quyền Cộng Sản Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên các quần đảo này. Phạm Văn Ðồng còn viết rằng chính phủ ông ta “tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Bây giờ, những người thừa kế Phạm Văn Ðồng tìm cách giải thích bằng cách dẫn chứng riêng một đoạn “tôn trọng hải phận 12 hải lý,” để nói rằng bức thư trên chỉ nói về chủ quyền 12 hải lý do Bắc Kinh nêu ra thôi, chứ không đồng ý Hoàng Sa hay Trường Sa thuộc Trung Quốc. Nhưng nói như vậy chỉ là cắt lấy một đoạn nói về một vấn đề kỹ thuật (hải phận 12 dặm biển chứ không phải 14, 15 hoặc 120 dặm). Trung Cộng sẽ nhắc Việt Cộng không nên “đoạn chương thủ nghĩa,” chỉ cắt một câu mà bỏ quên những câu quan trọng hơn trong văn thư của Phạm Văn Ðồng. Họ sẽ vạch ra ông Ðồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958;” mà nội dung đầy đủ như đã nêu trên. Không những thế, ông Ðồng nói sẽ ra lệnh cấp dưới “tôn trọng quyết định ấy,” “trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”

Viết những chữ “trong mọi quan hệ … trên mặt bể” này là ký một “văn tự bán nước.” Bây giờ, Trung Cộng ngang nhiên đem giàn khoan HD-981vào hải phận nước ta, họ nói chỉ là thể hiện câu văn “tôn trọng quyết định ấy … trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Tóm lại, Việt Cộng không thể nào “cãi chày, cãi cối với Trung Cộng về bức công hàm năm 1958 được, dù Phạm Văn Ðồng đã cố ý viết một cách mập mờ.

Mập mờ là một thủ đoạn chính trị, đã được các đảng cộng sản sử dụng triệt để, nhất là khi nói với dân. Một câu nói mập mờ được ghi vào lịch sử là câu viết trong lời kêu gọi các cựu sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa đi trình diện “học tập cải tạo;” trong đó mập mờ nói rằng họ hãy đem theo đồ dùng cá nhân và lương thực “đủ trong 30 ngày.” Nghe vậy, ai cũng tưởng thời gian “cải tạo” chỉ kéo dài 30 ngày là dài nhất. Mấy trăm ngàn người đã bị mắc lừa vì câu nói mập mờ này. Nhưng trong nghề nói mập mờ thì Việt Cộng chỉ là học trò của Trung Cộng.

Trong điều kiện nào thì thủ đoạn nói mập mờ sẽ thành công? Khi kẻ nói mập mờ cũng là kẻ nắm dao đằng chuôi. Một câu mập mờ, nước đôi hay nước ba, có thể giải thích bằng nhiều lối khác nhau. Khi đó, anh nào đeo khẩu súng to hoặc nắm còng số 8 trong tay, anh ấy sẽ bắt anh yếu phải chấp nhận nghe theo lối giải thích của mình.

Năm 1975, 76, các tù binh “cải tạo” đã vào trong hàng rào kẽm gai rồi thì không thể đòi hỏi Việt Cộng hiểu câu “đủ trong 30 ngày” theo lối mình, hiểu rằng chỉ đi tù 30 ngày. Năm 2014 bây giờ Việt Cộng cũng không thể bắt Trung Cộng hiểu bức thư của Phạm Văn Ðồng không nói đến tên Hoàng Sa, Trường Sa tức là không dâng cùng Hoảng Sa, Trường Sa cho Bắc Kinh. Họ quên rằng trong các thủ đoạn lưu manh thì Trung Cộng vẫn chỉ là thày của Việt Cộng. Học được thói nói năng mập mờ, đem áp dụng để đánh lừa dân chúng trong nước mình thì dễ. Nhưng không thể đánh lừa cả tên “đồng chí anh em” đã dạy trò gian trá đó cho mình; trong khi nó viện trợ cho từng cây kim, từng hạt gạo, và súng, đạn, mìn, bẫy, để theo đuổi cuộc chiến tranh “chống Mỹ tới người Việt cuối cùng!”

Trong việc bang giao, khi nào thì người ta hay dùng thủ đoạn nói mập mờ? Thường người ta nói với nhau những điều không rõ ràng khi cả hai bên đều bị kẹt, không ai muốn nhường ai nhưng không ai muốn quyết liệt nói thẳng. Người lãnh đạo nhiều nước vẫn hay nói mập mờ để đánh lừa người nước khác. Chúng ta vẫn còn nhớ đặc sứ của ông Richard Nixon khi dụ chính phủ miền Nam tham dự hội nghị Paris đã hứa hẹn những gì với ông Nguyễn Văn Thiệu. Trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa thời đó, ai cũng biết bên nào mạnh hơn, có khả năng để nói mập mờ, sau thành tráo trở. Ngày nay, ông Karzai, tổng thống Afghanistan chọn một cách đối xử khác đối với chính phủ Mỹ. Ông đòi hỏi các thỏa thuận phải viết theo ý của mình, viết rõ ràng, không thể hiểu lầm được. Ðịa vị của ông Karzai, đối với chính phủ Mỹ, cũng không mạnh hơn bao nhiêu so với ông Nguyễn Văn Thiệu thời 1970, hoặc ông Phạm Văn Ðồng đối với Trung Cộng vào năm 1958.
Nhưng tại sao Karzai dám tỏ thái độ cứng rắn như vậy? Bởi vì ông ta không sợ, và tin rằng việc ông làm mang lại lợi ích cho dân ông. Tại sao chính phủ Mỹ phải chiều theo ý ông Karzai và người lên kế nhiệm ông?

Vì chính quyền Mỹ phải hành sử theo cung cách một chế độ tự do dân chủ, với lối sống dựa trên tính chất minh bạch, công khai. Sau thời ông Nixon, Quốc Hội Mỹ đã làm nhiều thứ luật hạn chế quyền quyết định của các vị tổng thống; trong đó có những quyền thương thuyết và thỏa hiệp trong vòng bí mật. Ở các nước khác, dù họ không làm ra những đạo luật bắt người cầm quyền phải làm mọi việc công khai, nhưng dư luận dân chúng, báo chí, các nhà chính trị đối lập, cũng có giá trị ngăn cản hoặc ràng buộc như những đạo luật.

Cũng vậy, chính quyền các nước dân chủ tự do rất khó dùng lối nói mập mờ đối với người dân của họ. Chúng ta có thể thông cảm rằng con người hay tránh không nói thẳng, không nói rõ ràng, nếu không bị bắt buộc. Vì người ta muốn tránh không quả quyết nói về bổn phận, trách nhiệm của mình đối với người khác cho rõ ràng; vì làm thế là bị ràng buộc. Các nhà chính trị trên thế giới đều thực hành câu tục ngữ của người Việt: “Làm trai cứ nước hai mà nói.”

Cho nên, trong chế độ tự do dân chủ các đại biểu của người dân phải làm ra những luật lệ bắt buộc bên hành pháp phải nói rõ ràng, chính sách của nhà nước thì không được mập mờ. Người ta tự nhiên làm như vậy vì những người nắm quyền, hành pháp cũng như lập pháp đều chịu trách nhiệm trước dân, do dân cử ra bằng lá phiếu tự do.

Ngược lại, thủ đoạn nói mập mờ chuyên được đem áp dụng trong các chế độ độc tài chuyên chế. Kẻ cầm quyền nói nước đôi, nước ba, rồi đến lúc cần đem giải thích theo một ý nghĩa phù hợp với quyền lợi của phe đảng họ nhất. Bọn lãnh tụ độc tài chuyên chế quen thói đánh lừa dân như thế mãi cũng được; vì họ có còng số tám. Nhưng khi tính đem áp dụng mưu mẹo lừa bịp đó với những kẻ mạnh hơn mình thì cuối cùng chỉ thiệt. Thiệt hại cho riêng họ không nói làm gì, họ còn gây tai hại cho cả nước Việt Nam nữa!

Theo Người Việt

14 Phản hồi cho “Thủ đoạn mập mờ”

  1. NON NGÀN says:

    SỰ SÁNG SUỐT CỦA ÔNG PHẠM VĂN ĐỒNG !

    Ông cựu Thủ tướng VNDCCH là PVĐ trao Công hàm cho phía TQ năm 1958. Đến nay 2014, TQ đã mang giàn khoan HD 981 vào cắm trong thềm lục địa VN gọi là lãnh thổ của họ. VN hiện giờ vẫn gọi là lãnh thổ đó của mình. Sự sáng suốt hay không sáng suốt của ông Đồng lúc đó là ở chỗ này. Ông đã để lại một bài toán khó nuốt cho tới nay và cho mai sau đối với toàn thể đất nước mình.
    Trong tuyên bố của TQ khi ấy, họ đã nói rõ Tây Sa, Nam Sa là của TQ. Trong CH của ông PVD long trọng thống nhất với tuyên bố của TQ, nhưng không hề nói gì đến hai đảo Hoàng Sa, Trường Sa của VN. Đương nhiên ai cũng biết Tây Sa và Nam Sa hay Hoàng Sa và Trường Sa chỉ là một, chỉ có tiếng TQ hay người TQ và tiếng VN hay người VN là dùng tên gọi khác nhau theo ngôn ngữ của riêng mình.
    Như vậy ông PVĐ có mặc nhiên chấp nhận hay không mặc nhiên chấp nhận chủ quyền của hai thực thể đảo này là của TQ hay của VN quả thật là điều mơ hồ, lắc léo, kiểu mánh lới theo trò động não để ma mánh đối phương mà không ngờ ngày nay cũng lại làm khó cho đất nước mình.
    Đấy sự “sáng suốt” hay thiếu sáng suốt của ông Đồng và cả bộ sậu của ông ta khi đó chính là như thế.
    Đương nhiên trong thực tế lịch sử khách quan, Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn của VN khi TQ tuyên bố lãnh hải của mình, đó là điều không bất kỳ ai có thể phủ nhận được, kể cả trong thâm tâm TQ, vì VN đã chiếm hữu liên tục các đảo này về mặt danh nghĩa pháp lý và thực tế cho tới khi TQ đơn phương tuyên bố rồi tiến hành đánh chiếm.
    Sự “sáng suốt” của ông Đồng chính vì lý tưởng CNCS mà ông theo đuổi trong suốt cuộc đời mình, nên không muốn làm mất lòng TQ và phải chìu theo ý họ. Ông cần họ giúp mình đánh thắng VNCH lúc đó. Đó là lý do lời tuyên bố cập rập của ông chỉ đưa ra có 10 ngày sau khi ra đời bản tuyên bố đơn phương của TQ.
    Nhưng sự không sáng suốt của ông Đồng, nếu đặt ông vào vị trí của người yêu nước, chiến đấu vì đất nước. Bởi bút sa gà chết, nhất ngôn bột xuất tứ mã nan tri. Đối với một nước có bản chất lịch sử bá quyền như TQ, mà ông Đồng đã hớ hênh như thế, chứng tỏ ông đã đặt ý thức hệ lên trên cả tổ quốc, chứng tỏ ông chỉ là người nông cạn, nhất thời, không phải là người ái quốc chân chính, thiết tha và thận trọng.
    Nhưng bây giờ thì mọi sự đã rồi, lời Công Hàm đã có rồi, không rút lại được nữa, ít ra là phương diện ông Đồng. Cái khó là ông đã đặt đất nước vào tình trạng khó xử ngày nay. Sự xử lý ngày nay muốn được dứt dạt thì phải có người khác thay mặt đất nước đưa ra Công hàm mới gửi lại TQ để hủy bỏ CH xưa của ông Phạm Văn Đồng. Tiếc rằng cho tới nay vẫn chưa có ai đủ bản lĩnh đối đầu với TQ để làm như vậy. Điều đó nếu không phải vì lý do nào khác, đều cho thấy nhiệt tâm yêu nước thực chất cũng chẳng hơn gì cái đó của ông PVĐ ngày xưa cả.
    Ôi thôi thì nếu có một số người đặt quyền lợi chủ nghĩa, đặt ý nghĩa của ý thức hệ chính trị lên trên quyền lợi thực tế của dân tộc, đất nước thì cũng không thể nào mà cấm được họ.
    Vấn đề chỉ là nếu lý tưởng CS mác xít là chân lý khách quan, khoa học, thì vì mục đích của nó mà đánh đổi cả dân tộc và đất nước cũng chẳng nói làm gì. Nhưng thực tế thì hoàn toàn không phải như vậy. Bởi nếu nó đúng trong thực tế, hiện thực, thì nó đã được thực hiện từ tám hoánh đời nào rồi. Nhưng hiện trạng thế giới ngày nay cho thấy hoàn toàn không phải như thế, nó chỉ thuần túy là ảo tưởng về mặt thực hành.
    Còn về mặt lý thuyết, học thuyết Mác chỉ là ảo tưởng lý luận, chỉ là thứ lý luận giả phi lô-gích
    Xá thực, chỉ kiểu lập luận trừu tượng, tư biện thuần túy chơi chữ, đánh lừa nhận thức, đánh lừa lý trí thông thường, mà không có chút căn cơ nào là xác đáng hay vững chắc hoặc đúng đắn, khách quan cả.
    Như vậy kết luận, ảo tưởng của ông Đồng chỉ là ảo tưởng ý thức hệ, ảo tưởng chủ nghĩa. Ông không phải ngây thơ để không biết Hoàng Sa, Trường Sa là của VN, không phải ngây thơ để không biết lời tuyên bố của TQ chỉ mang tính đơn phương, không phải ngây thơ để không đi guốc được trong bụng bản tính nước TQ từ khởi thủy đến nay. Không ngây thơ mà lại giả đò ngây thơ, chính sự “sáng suốt” của ông Đồng là như thế đó, sự ngây thơ cụ đó chẳng qua chỉ vì ông quá mơ màng, quá ảo tưởng về chủ nghĩa do Mác xẹo xạo đưa ra thế thôi. Trình độ của Mác là trình độ tiến sĩ thời của Mác, thế nhưng Mác tỏ ra chỉ là anh gàn bướng về nhiều mặt triết học, khoa học. Huống gì là ông PVĐ, không từng qua trường lớp chính quy đầy đủ nào về mặt khoa học và triết học cả. Ông chẳng qua chỉ là người chiến sĩ CS chỉ biết nghe theo, tin theo, làm theo cách sách vở đã có, đã được du nhập vào từ Liên Xô, Trung Quốc vậy thôi. Bởi vậy ông đã cố gắng mánh lới chơi chữ, lừa ý trong Công hàm. Nhưng khổ thay TQ hay lãnh đạo TQ mọi thời đều không bao giờ tử tế gì để đáp ứng lại nếu quả ông Đồng có tử tế thật. Đấy cái “hố” của ông ta chính là như thế. Nhưng mọi hậu quả của cái hố này khi ông chết đi không hề mang xuống tuyền đài cùng ông, mà nó cứ còn mãi đó như một cái gai, như một khúc xương khó nuốt mà cả dân tộc và đất nước của ông phải chịu. Bây giờ chỉ có cách những người hậu thân của ông phải cương quyết và can đảm để có bản lĩnh đoạn tuyệt tức hoàn toàn nhổ bỏ đi hẳn cái gai đau buốt kia mà chính ông ta đã vì quá chìm đắm vào những toan tính chủ quan nhất thời, hời hợt, nông cạn nào đó, mà đã cắm quá sâu và cả thịt xương của đất nước thế thôi.

    ĐẠI NGÀN
    (02/6/14)

  2. Trực Ngôn says:

    Bàn về bức ông hàm 1958 hay nói về cách đối phó của nhà cầm quyền CSVN hiện nay đối với TQ xâm lược chẳng khác nào con gà bươi chãi đống phân. Chán bỏ mẹ.

    Nếu “có tài biến hoá”, tôi sẽ bắt nhốt hết những tên lãnh đạo CSVN, xoá bỏ chế độ này thì sẽ êm chuyện ngay. Không nên mất thời giờ với bọn họ!

  3. Việt cộng bán nước says:

    Nhà nghiên cứu biển Đông Đinh Kim Phúc thuật lại như sau:

    “Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt nam Dân chủ Cộng hòa khi tiếp ông Li Zhimin -tham tán Đại sứ quán Trung quốc tại Việt Nam – đã nói rằng :

    “theo những dữ kiện của Việt Nam, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc”.

    Ông Lê Lộc – quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc bộ Ngoại giao Việt Nam – cũng có mặt lúc đó, đã nói thêm rằng :

    “xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Đường” .

    • DẶM NGÀN says:

      NGU

      Mấy thằng ngu chỉ nói càn
      Biết gì lịch sử mơ màng vậy thôi
      Đúng là bợ đít quan thầy
      Uổng công tiên tổ dạy mầy lớn khôn
      Thật là nổi nhục nào hơn
      Xú danh lịch sử chắc còn mai sau !

      NGÀN KHƠI
      (02/6/14)

  4. Hồ Bác Cụ says:

    Tại sao trong nước không một ai lên tiếng đòi hỏi bọn CSVN bán nước phải công khai hóa, minh bạch hóa những gì bọn CSVN đã ký với bọn Tàu cộng trong mật ước đó???? Tôi nghĩ những điều khoản đã ký bên trong đó chắc chắn có liên quan đến vấn đề biển Đông, vì bọn Tàu rất mê được mở lối thoát ra biển từ thời Mao cho đến bây giờ lại càng mãnh liệt hơn, mà lại bị vị trí của VN lại chắn ngang yết hầu. Khi được công bố, bảo đảm chúng sẽ làm cho toàn dân VN phải quyết băm vằm bọn phản quốc ra thành vạn mảnh cũng chưa đủ hả giận. Đề nghi có loạt bài đào sâu về Mật Ước Thành Đô 1990 cho toàn dân tường lãm thế nào là “Tội ác của bọn Việt Cộng”

  5. Chuyện đọc cuối tuần says:

    Trong một vụ kiện về nhà đất : nhà X kiện nhà Y về tội xây nhà lấn sang đất nhà X . Quan tòa hỏi X, cho ta xem bản đồ lot đất nhà ngươi xem, sau một hồi lục tìm nhà X mới trưng ra được tấm bản đồ nhà đưa cho quan tòa xem, quan tòa lại hỏi X : ” cột mốc đất ( boundery post ) nhà ngươi đâu sao ta không thấy ? ” lại loay hoay một hồi mà X vẫn chưa tìm ra cột mốc đành chỉ tay vào dẫy hàng rào cây, nói : ” từ xưa tới nay chúng tôi vẫn lấy hàng rào này là chồ phân chia ranh giới 2 nhà ! ” . Quan tòa cười mím chi nói với X : ” được rồi, cám ơn ! ” . Kế quan tòa lại quay sang Y, hỏi : bằng khoán đất cát nhà Y, cũng như X, Y chẳng biết ranh giới nhà mình tới đâu, vì làm gì có cột mốc nên cũng lấy hàng rào cây như X làm ranh giới, quan tòa lại cười mím chi rồi gõ búa đánh cộp một cái và phán : ” ta xử theo luật pháp phải có bằng chứng, chứng minh, đây các ngươi không có bằng chứng mà cứ bảo ta xử thì căn cứ vào đâu mà xử, thôi đi về mà nói chuyện hơn phải với nhau bằng không thì ăn thua đủ, thằng nào mạnh thằng ấy ăn ? ” . Kể câu chuyện này không phải ta bênh, hay làm thầy dùi cho Tầu khựa mà là cảnh tỉnh tòa án LHQ đánh trống bỏ rùi còn thiếu sót nhiều quá phải bổ túc lại đi . Ngay như bây giờ hỏi ông Mỹ ” thế thềm lục địa ( Continental Shelf ) của ông ở đâu, mù tịt !? . Thế nhưng nếu nói chuyện hơn thiệt với Tầu khựa mà không xong, còn ăn thua đủ tay đôi riêng với một mình Việt Nam thôi, xin lỗi chửa biết mửu nào cắn mèo nào, chứ chưa kể bàn dân Nhật, Hàn, Phi lip Pin … nóng mắt nhảy vào . Không tin, Tầu khựa cứ thử đi sẽ biết ? Vậy bây giờ đề nghi bà con ta hãy nghỉ bàn về ” Biển Đông ” đợi khi có luật pháp tang chứng rành ranh hãy tính sau, giờ hãy chĩa mũi dùi, chuyển trục tính sao dứt điểm 2 con rối Nga ngố Tầu khựa là thượng sách ?

  6. ABC says:

    Chuyện cuối tuần: Công hàm… làm cong hàm!!!
    Sau hai vòng đàm phán không chính thức với mục đích nếu không đạt được Hiệp ước Liên minh Quân sự với Hoa Kỳ thì ít ra cũng được phép mua vũ khí từ Mỹ, Đại diện CSVN đành về nước tay không với gói quà 18 triệu đô viện trợ cho Cảnh sát Biển.
    Hôm trước khi ra sân bay về nước, Đại diện CSVN có ngõ lời mời người đối tác phía Mỹ một buổi cơm tối thân mật tại một nhà hàng Tàu trong vùng Virginia. Nhà hàng này nổi tiếng với món Vịt Bắc Kinh và có rất nhiều Tổng thống Mỹ ghé qua ăn và chụp hình lưu niệm. Vừa bước vô cửa người đại điện Mỹ nói chào một cách dí dỏm:
    - Ông cũng khéo chọn lựa chứ? Mỹ gặp Việt trong nhà hàng Trung Quốc?
    Đại diện CSVN cười và giải thích:
    - Nhà hàng này có chủ là người Đài Loan. Cứ xem như kẻ thù của kẻ thù là bạn.
    Đại diện Mỹ buột miệng ra một câu tiếng Việt:
    - Thế ra là nhà hàng của “Thế lực THÙ (của) ĐỊCH” à?
    Đại diện CSVN phá lên cười:
    - Gớm. Ông cũng rành tiếng Việt đấy chứ?
    - Tôi học tiếng Việt ở Mỹ, học tiếng lóng tiếng láy ở Sài Gòn khi còn làm tùy viên văn hóa bên đó trước năm 1975. Sau này vẫn theo dõi thời sự và trao đổi trên Facebook. Chúng ta có thể thảo luận bằng tiếng Việt để khỏi mất thì giờ. Ông muốn gặp tôi lần cuối chắc là có câu hỏi gì cho tôi?
    Đại diện CSVN vào thẳng vấn đề:
    - Hai vòng đàm phán qua ông đã kết luận chúng tôi không thể có Liên minh Quân sự với Mỹ vì Trung Quốc sẽ cản trở. Chúng tôi không có đủ ngân sách để mua vũ khí tự túc. Xem ra giải pháp quân sự lúc này với Trung Quốc không khả thi. Thế thì giải pháp pháp lý, ông nghĩ có khả thi hay không? Ý tôi muốn nói rằng đưa Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế để kiện như Philipines đang làm thì có khả thi không?
    - Cơ hội rất ít, thưa ông. Và các ông nên cân nhắc cẩn thận về các bằng chứng trình trước tòa. Vì nếu tòa phán quyết các ông THUA thì con đường tương lại còn gian nan hơn nữa. Phán quyết mới nhất của tòa cấp quốc tế xem ra là bản án tử hình cho các ông tại Biển Đông. Khi ấy các ông bị đẩy ra bên lề mọi tranh chấp sau này của các nước trong vùng đối với Biển Đông.
    - Nhưng nếu chúng tôi liên kết kiện với Phi hay các nước khác?
    - Tôi cũng nhận thấy các ông đang có hướng này. Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ghé thăm Phi hôm qua. Nhưng khả năng Phi liên kết với ông trong vụ kiện rất thấp vì khi Phi kiện các ông không ủng hộ. Bây giờ các ông tham gia với BẰNG CHỨNG BẤT LỢI hơn thì dĩ nhiên Phi khó chấp nhận.
    - Chúng tôi có đầy đủ các bằng chứng THUẬN LỢI từ thời Thực dân Pháp đến Việt Nam Cộng Hòa rằng Việt Nam có đã xác định chủ quyền trên hai quần đảo này liên tục cả trăm năm cơ mà. Sao ông lại nói BẤT LỢI?
    - Các ông đang trưng dẫn bằng chứng của những chế độ đã qua mà không hề có bằng chứng xác nhận chủ quyền cấp quốc tế từ chế độ của các ông. Xem ra khó thuyết phục tòa án. Các ông có thể trưng dẫn hình ảnh thời thơ ấu trong một căn nhà, những câu chuyện tuổi thơ ở đó, trong khi người ta trình ra GIẤY BÁN NHÀ của bố các ông, thì dĩ nhiên tòa án không thể cho các ông vào nhà được.
    - Ý ông muốn nói đến Công Hàm Phạm văn Đồng năm 1958?
    - Đúng. Các ông biết Công Hàm này đã lâu nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy các ông cố NÉ TRÁNH nó. Trong khi ngược lại gần đây Trung Quốc lại trưng công hàm này ra trước quốc tế. Xem ra họ có nắm đàng cán về vụ này!
    Đại diện CSVN cười sặc sụa:
    - Công hàm đó KHÔNG CÓ HIỆU LỰC ông ơi. Phạm văn Đồng dù có nói thẳng là “giao Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Quốc” thì cũng không có hiệu lực. Đó chỉ là ĐÒN NGOẠI GIAO … KHÔN NGOAN của chúng tôi để nhận viện trợ từ Trung Quốc mà đánh Mỹ. Năm 1958 chúng tôi không có chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa.
    Chờ cho người đại diện CSVN cười xong, uống một ngụm nước, thì đại diện Mỹ mới từ tốn lên tiếng:
    - Đối với luật pháp Tây Phương chúng tôi thì chúng tôi phân biệt rất rõ sự tách biệt giữa “khế ươc buôn bán” và “chủ quyền”.
    - Ý ông nói là các ông có thể bán những gì các không có cơ à. Thật là HOANG ĐƯỜNG và TRẺ CON.
    - Chuyện có thật ông à. Khế ước buôn bán là giao kết giữa hai hay nhiều bên về chuyển nhượng một cái gì đó nó có thể trong hiện tại hay trong tương lai để đổi lấy giá trị tiền bạc hay vật chất có thể giao hôm nay hay giao vào một thời điểm trong tương lai. Như vậy vào năm 1958 các ông hứa bán một cái gì đó các ông không có ngay lúc đó, và lời hứa sẽ giao hàng ngay khi các ông có. Vấn đề là phía Trung Quốc tin như vậy và ủng hộ các ông biến điều đó thành hiện thực. Đổi lại họ cung cấp viện trợ cho các ông gần cả tỉ đô la về vật chất và con người để tiến hành chiến tranh chống chúng tôi.
    Năm 1958 các ông không có CHỦ QUYỀN nhưng các ông đã làm KHẾ ƯƠC, thì khi các ông có chủ quyền các ông phải thực hiện khế ước buôn bán đó.
    - Thế các ông có trường hợp buôn bán kiểu đó trong thực tế không?
    - Có chứ ông. Trong sở hữu chứng khoán, thị trường thế giới có cái gọi là “future options”. Ông không dám mua chứng khoán đó vì ông sợ thua lổ, ông có thể trả tiền với LỜI HỨA sẽ mua và công ty đó phải giao “chủ quyền” chứng khoán đó cho ông trước thời điểm nào đó, dù nó lên hay xuống thấp hơn giá trị ông trả. Rồi ông cần tiền ông vẫn có thể bán LỜI HỨA đó cho người khác và cứ thế cho đến khi thời điểm hứa đó đến thì người cuối cùng phải … THỰC HIỆN. Cái đó là buôn bán thứ ông không có chủ quyền …
    Đại diện CSVN nghiêm mặt lại biện hộ:
    - Nhưng ông không đọc thấy trong ngôn từ Thủ Tướng Phạm văn Đồng rất KHÔN NGOAN không hề đề cập để chuyện “giao chủ quyền” như cái ví dụ mà ông nêu. Ông ta chỉ nói …
    “có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển”
    Đại diện Mỹ cười rồi nói:
    - Các ông đã có lịch sử CÔNG NHẬN công hàm này. Đó là vào năm 1974 khi Trung Quốc tấn công Hoàng Sa thuộc chủ quyền VNCH. Các ông đã “tôn trọng hải phận của Trung Quốc trong mọi quan hệ trên mặt biển” nên các ông hoàn toàn để mặc cho Trung Quốc hành động chiếm chủ quyền … TƯƠNG LAI của các ông. Thế thì sao các ông có thể biện minh trước tòa rằng một văn bản không hiệu lực lại được tôn trọng?
    - Chúng tôi cũng như các ông thôi. Hạm đội 7 các ông nằm đó đâu có động tĩnh gì!
    - Hoa Kỳ bị ràng buộc bỡi Thông cáo chung Thượng Hải với Trung Quốc và Hiệp định Paris, phải rút quân và trả lại quyền tự quyết cho VNCH.
    Đại diện Mỹ ngừng một lát rồi nói tiếp:
    - Tôi xem công hàm Phạm văn Đồng nhiều lần và phải công nhận vào thời điểm năm 1958, ông Đồng hay ai đó soạn cho ông Đồng ký công hàm này là “khôn liền” ngay lúc đó mà không có … “khôn lâu”.
    - Ý ông là?
    - Ngôn từ trong công hàm này vào năm 1958 rất là KHÔN NGOAN. Vì các ông BÁN VỊT TRỜI mà thu được gần cả tỉ đô la viện trợ của Trung Quốc cho một món hàng tương lai không biết có chiếm được hay không. Ví như một người muốn đi cướp nhà người khác không có súng, không có tiền, đi hứa với thằng cướp khác “khi nào tao cướp được nhà đó thì tao tôn trọng quyền của mày được trồng rau ở sân sau”. Khi cướp được thì phải thực hiện lời hứa đó.
    Đại diện CSVN mỉa mai:
    - Nếu “khôn lâu” như ông trong trường hợp đã lỡ ký LỜI HỨA đó thì ông phải làm sao?
    - Nếu tôi là các ông mà tôi bắt buộc phải viết công hàm đó để có viện trợ thì tôi vẫn viết như thế …
    - Huề tiền!
    - Tôi vẫn nhận gần cả tỉ đô la để đánh Hoa Kỳ và kéo nó đến bàn Hội Nghị Paris năm 1973 để nó phải rút quân …
    Đại diện CSVN phá liên cười:
    - Ông khôi hài quá, thế mà lại “dạy ngoại luộc trứng”
    Đại diện Mỹ vẫn từ tốn nói tiếp:
    - CSVN ký công hàm Phạm văn Đồng là khôn liền ngay năm 1958 nhưng ai đó quyết định xé hiệp định Paris chiếm Miền Nam năm 1975 là ĐẠI NGU để Trung Quốc nó …. (xin lỗi tôi hay có tật nói láy)
    Chiếm Miền Nam là biến công hàm đó thành hiện thực và đối diện gần 1 tỉ đô la nợ Trung Quốc, là từ bỏ 4 đến 6 tỉ đô la bồi thường chiến tranh của Hoa Kỳ … Việt Nam bỏ cơ hội thành một nước Đức và nước Nhật sau thế chiến thứ hai.
    Đại diện CSVN hết kiên nhẫn ngắt lời:
    - Ông có khiếu kể chuyện cổ tích. Xin phép trở lại trọng tâm. Thế thì có giải pháp nào cho chúng tôi trong bế tắc này không?
    Đại diện Mỹ nhìn quanh rồi pha trò:
    - Có tình báo Hoa Nam Cục ở đây không?
    Rồi ông nói tiếp:
    - Theo tôi thì các ông phải tuân thủ công hàm Phạm văn Đồng vì 1974 các ông đã tuân thủ thì hôm nay phải tuân thủ để yên cho Trung Quốc đặt giàn khoan.
    - Không còn cách nào hết sao?
    - Chỉ còn cách mà tôi đã nói với các ông hôm đầu tiên.
    - Cách gì ông nhắc lại đi.
    - Một cách vô cùng giản dị, không cần viện trợ của Hoa Kỳ, chẳng cần ủng hộ của thế giới, mà lại đoàn kết, hòa hợp hòa giải với mọi thành phần người Việt trong và ngoài nước và quan trọng là vô hiệu hóa công hàm Phạm văn Đồng.
    - Làm cách nào?
    - Ngay ngày mai …
    Đổi lại tên nước thành Việt Nam Cộng Hòa.
    Lấy lại tên Sài Gòn và dời thủ đô về đó
    Lấy CỜ VÀNG làm quốc kỳ

    Có như thế thì trước diễn đàn thế giới. VNCH chỉ VẮNG MẶT … 39 năm chứ KHÔNG CHẾT. Công hàm Phạm văn Đồng chỉ là tờ “giấy lộn” vì tên cướp có vô nhà nhưng chủ nhà về lại và đã đuổi cổ nó ra … Trời Việt lại … HỪNG ĐÔNG.
    Đại diện CSVN vuốt mồ hôi lạnh trên trán:
    - Chỉ đơn giản thế thôi sao?
    Vịt Bắc Kinh trên bàn đã NGUỘI LẠNH, lớp mỡ trắng đã bắt đầu đóng viền quanh dĩa vì không ai còn đoái hoài đến nó.
    Đại diện Mỹ vỗ vai đại diện CSVN nói một câu tiếng Anh:
    - All roads lead to Rome (Đường nào cũng về La Mã)
    Hãy trả cho Ceazar những gì của Ceazar.
    Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH … cầm bài chi lâu cho nó … ƯỚT.
    (Theo St)

    • Peter_the Great says:

      Tuyệt cú mèo

      • DâM TiêN says:

        Vâng, từ vô ĐCV, giấc mơ lành của tôi vẫn là thế : VNCH.

        Hiện nay, trong hàng ngũ chop bu CS, đang ì xèo với nhau,
        là sao lại nói Hoàng Sa thuộc ” chủ quyền” của VNCH ?

        Thưa, tôi ở đây ,hay kêu tụi CSVN là ” Rợ Hồ,” vì trước sau,
        chậm hay mau, CS cũng bị… đồng hóa thành VNCH thôi.
        (tuy rất là chậm về mặt Văn Hóa).
        -
        LHQ chỉ cần hỏi một câu duy nhứt, là lời giải đáp cho vần đế
        VN hiện ra ngay: “Thống nhứt ? Có mặt VNCH nơi đó không?’”

        Kính, DT

    • Hoàng Hôn Miền Tây says:

      Giai thoại tếu và vui. Nhưng rất có lý (logic)

  7. Nguyễn ThếViên says:

    HCM, Phạm Văn Đồng và CSVN thưà hiểu ý đồ về lãnh hải cuả Tàu Cộng (bao gộp cả lãnh hải VN), nhưng do nhu cầu cần trợ giúp trong chiến tranh ăn cướp họ đã “mập mờ” ký công hàm 1958. Đúng ra là bán nước vì quyền lợi đảng phái. Chưa kể là có htể còn u mê tin vào tình nghiã đồng chí CS và “thế giới đại đồng!
    CSVN là nguyên nhân cuả nguy cơ mất nước hiện nay. CSVN như vi trùng và Tàu xâm lược như cơn bệnh. Vi trùng gây ra bệnh. Không thể chỉ chưã bệnh mà không diệt vi trùng: chỉ có lật đổ CSVN mới có thể chống Tàu để bảo vệ đất nước!
    Nguyễn Thế Viên

  8. Liên Lê says:

    Đến ngày hôm tại sao mọi người chúng ta lại phải còn thắc mắc về sự dối trá, lừa đảo và bịp bợm của con người cs. Hứa hẹn để rồi lừa dân bằng những câu nói và từ tuyệt mỹ … . Chúng ta chỉ nên nhìn những gì họ làm ! Cũng chính vì thế mà họ phải luôn luôn đàn áp người dân bằng cái chuyên chính vô sản của họ và cấm người dân không được có tư tưởng tự do vì người cs rất sợ sự thật và chân lý tự do.

  9. nguyen ha says:

    Tôi hoàn toàn đồng ý với Nhà báo NND : “VC không thể cải chày,cải cối về Công hàm 1958″.VC càng nói càng sai. Chính phủ VNDCCH(VC) gọi Miền Nam là “bọn Ngụy sai gòn” . Gọi cả Miền Nam là vùng bị địch tạm chiếm. Đối với VC,nhà nước VNDCCH, thì chỉ có VC là người đại diện duy nhất của
    Nước VN (hiến pháp của VC ghi như vậy). Chuyện đả rỏ mười mươi. Bây giờ VC lại từ khước “chủ quyền” đối với Miền Nam,lại còn nói : VNCH là một nước có chủ quyền- một thực thể chính trị được QT công nhận …! VNCH đả trở thành CÁI PHAO cho DCSVN bám. Thuyền Chìm mới bám vào Phao.! Trong cuộc chiến 2 bên, bên “ngụy” trở thành “chính nghĩa” thì ắt hẳn bên kia (VC) phải trở thành “Phi nghĩa”. Chứ còn gì nửa ?? Chưa bao giờ bộ mặt that Bán nước của CS lại rỏ nét như bây giờ.

  10. BK54 says:

    Việt cộng chỉ là lũ “khôn nha dại chợ”, người việt hay gọi đó là khôn lỏi.

Phản hồi