|

Về một bài viết của nhà văn Phạm Thị Hoài

1.

Đó là bài “Sự lạc quan vô tận” *, xuất hiện trên BBC ngày 17.1.2012.[1] Bà Phạm Thị Hoài, đang ở Đức, tác giả bài này, viết về một nhà hoạt động văn hoá, xã hội nổi tiếng trong nước hiện nay là ông Chu Hảo, và qua ông Chu Hảo, bà Hoài nhận ra tính chất mẫu mực của một lớp trí thức gọi là “đối lập trung thành” mà bản chất vẫn gắn liền với hệ thống chính trị tư tưởng bấy lâu nay mệnh danh là “chủ nghĩa xã hội” ở Việt Nam. Bà Hoài cho rằng trong khi thực tế chỉ ra rằng hệ thống này đã trở nên bất lực và lỗi thời, thay vì thoát ra ngoài để phủ nhận từ nền móng, những nhà “đối lập” nói trên vẫn ôm ấp thứ chủ nghĩa xã hội ấy như một lý tưởng, căn cứ vào đó phản biện một số sai lầm trong thực tế lãnh đạo của Đảng cộng sản, với hy vọng cải tạo hệ thống để cứu nó khỏi sự sụp đổ.

Nhà văn Phạm Thị Hoài

Nhiều người làm công việc này trước đây đã bị chế độ thanh trừng nhưng hiện nay có vẻ như những người kế tục đang trở nên có giá. Họ được Đảng để cho công khai ăn nói thoải mái (kể cả lên tiếng nơi những phương tiện truyền thông bị xem là “thù địch”) chỉ có điều là ý kiến của họ thường không được Đảng quan tâm trả lời đàng hoàng. Bà Hoài vẫn tỏ vẻ kính trọng họ, có ý cho rằng vị trí của họ cao hơn nhiều lần loại người cũng thoát khỏi guồng máy như họ nhưng lại thiếu hẳn nhân cách để lên mặt dè bỉu họ. Những trí thức này cũng nhận những “mạt sát bạt mạng từ những người hùng Việt kiều ẩn danh trên mạng” nhưng bà Hoài cho rằng việc đó có thể bỏ qua, có lẽ vì không đáng để họ quan tâm.

Tuy thế, một thái độ “đối lập” trí thức như vậy lại được bà Hoài cho là có tính chất nước đôi, nghịch lý: “vừa cổ vũ cho tự do tư tưởng, vừa biện minh cho sự cần thiết của chiếc gông tròng vào cổ trí thức Việt Nam và đè nặng lên họ”, chỉ vì sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức (qua phát ngôn của ông Chu Hảo) vẫn còn được duy trì. Do vậy mà xét đến cùng thì điều đó chỉ mang đến cho cuộc sống tinh thần nhiều tệ hại: vẫn ảo tưởng về khả năng lãnh đạo của Đảng đối với trí thức do đó cũng còn tin rằng Đảng vẫn còn khả năng nghe theo những đề nghị của trí thức để thay đổi. Một cách khách quan bà Hoài cho rằng những phản biện như vậy chỉ mang ý nghĩa một cuộc giải phẫu thẩm mĩ cho một chế độ toàn trị xấu xí, già nua để “giúp nó tồn tại mĩ miều hơn”.

Nguyên nhân của cung cách suy tưởng này được bà Hoài quy về sự nhồi sọ của hệ thống toàn trị của Đảng: hệ thống này “đã biến đổi thành công bộ nhiễm sắc thể của các đảng viên, ‘sự lãnh đạo của Đảng’ đã ăn vào gen trong cơ thể họ và tự động phát tiết, trong cả những tình huống không phù hợp nhất”. Nói cách khác, tuy có mục đích phê phán đường lối của Đảng nhưng những trí thức “đi theo Đảng” đó mãi mãi vẫn không thoát khỏi sợi dây trói buộc về các công thức tư duy mòn sáo của Đảng. Bà Hoài cho rằng thái độ phù hợp hiện nay không phải chỉ thoát ra khỏi bộ máy để phản biện mà là rời bỏ cả hệ thống để tìm đến một thứ đối lập khác, có ích và cần thiết hơn.

2.

Khi sử dụng khái niệm “đối lập trung thành” để chỉ thị xu hướng phản biện trên đây, chắc hẳn bà Hoài đã có tham khảo và lấy nguồn cảm hứng từ một tác giả viết về đề tài này, cách đây 6 năm (2006), đó là Zachary Abuza với bài “Loyal Opposition: The Rise of Vietnamese Dissidents”,[2] trong bài viết này học giả người Mỹ nói trên đã nhắc đến khái niệm “đối lập trung thành” để nghiên cứu sự chuyển động chính trị ở Việt Nam sau thời kỳ “đổi mới”, trong đó nhiều khuôn mặt trí thức tiêu biểu đã được phân tích để chỉ ra những phần tích cực lẫn giới hạn của họ. Các thuộc tính khác nhau trong phân tích nói trên cũng có thể tìm thấy trong bài viết của bà Hoài.

Tuy vậy vẫn có điều khác là những mặt tích cực và giới hạn trong công trình của Abuza nếu được trình bày một cách khách quan, theo ngôn ngữ của một văn bản nghiên cứu thì trong bài của bà Hoài những mặt giới hạn và tiêu cực lại được chú trọng để phê phán nhiều hơn, hơn nữa sự phê phán ấy lại được làm nổi bật và gây được ấn tượng nhiều hơn vì được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ cường điệu, cảm tính rất quen thuộc của một tác giả từng nổi tiếng về viết tiểu thuyết. Ở đây các nguyên nhân khách quan, lịch sử tạo nên hiện tượng cần nêu ra để lý giải đã không được nói đến mà lại được quy giản thành những huyễn hoặc tâm lý có tính chất chuyển giao thế hệ của những con người cấu thành hiện tượng.

Cách lập luận của tác giả vì vậy có nhiều điều không thuận lý lắm. Đáng chú ý hơn hết là cái cách tác giả dựa vào những phát biểu cụ thể của ông Chu Hảo khái quát cho toàn bộ xu hướng mệnh danh là “đối lập trung thành” để giảng giải, bàn luận. Trong khi đó thì thực tế cho chúng ta biết nếu có ai đó tin tưởng thành khẩn vào điều mình trình bày (giống như cách trình bày của ông Chu Hảo) thì cũng có không ít người (trong đó không loại trừ cả bản thân ông Chu Hảo) chỉ coi kiểu diễn ngôn đó, vừa như một thủ thuật để tự bảo vệ, vừa là một cách thức thích hợp để tác động vào chính guồng máy mà họ đang phải sống chung. Trong hoàn cảnh này không ít tác giả đã coi việc đề cao vai trò của Đảng như một thủ tục để lồng vào đó nhiều điều mà nếu bùi tai nghe theo, Đảng sẽ không còn là cộng sản nữa! Thử đọc Nguyễn Trung hoặc nghe Nguyễn Văn An mà xem!

Xét cho cùng, thì tất cả đều chỉ là cuộc đánh vật về những khái niệm, và do bà Hoài quá tin vào chữ nghĩa nên bà đã bị lừa về mặt chữ nghĩa để khi sử dụng khái niệm “đối lập trung thành” bà đã đương nhiên khẳng định sự tồn tại của thực tại đó trong đời sống chính trị hiện nay ở Việt Nam. Như vậy là có nhiều điều không giống với Abuza: nếu trong bài viết của mình, tác giả này chỉ coi “đối lập trung thành” như là khả năng có thể hình thành trong tương lai từ những hoạt động bất đồng chính kiến có giới hạn hiện nay, thì qua sự biện giải trong bài viết của bà Hoài, “đối lập trung thành” đã được khẳng định như một tồn tại minh nhiên, hiện thực. Khẳng định này thiếu sự chính danh nghiêm nhặt, vì trong sự diễn đạt của bà Hoài, việc xác nhận khái niệm nói trên chỉ được coi như một tu từ ở đó sự “trung thành” đã mang ý nghĩa tiêu cực của một thái độ chính trị cần phê phán.

Thật sự thì khái niệm “đối lập trung thành” đã có nguồn gốc từ nghị viện nước Anh quân chủ vào thế kỷ 19: “đối lập” ở đây là đối lập với đảng đa số đang cầm quyền, còn “trung thành” ở đây là trung thành với vị Vua đang trị vì, cho nên tên gọi đầy đủ của khái niệm là “Her (or His) Majesty’s Most Loyal Opposition” (còn được gọi là “The Official Opposition”). Nội dung này về sau đã được khái quát hoá thành một khái niệm chính trị có tính chất định chế trong các nước theo thể chế dân chủ đa đảng: các đảng thiếu số có quyên tồn tại và được luật pháp bảo vệ để tham gia nghị trường với tư cách đối lập với đảng đương quyền, qua sự phản biện các chính sách đang thực hiện, đưa ra đường lối mới hy vọng thay thế đảng đương quyền trong kỳ bầu cử sắp tới. Trung thành bây giờ không phải trung thành với bất cứ thực thể cụ thể nào mà là với những nguyên lý tạo nền cho một thể chế dân chủ đích thực.

3.

Thực thể gọi là “đối lập trung thành” với nội dung nói trên hiển nhiên không thể nào tồn tại được trong chế độ gọi là “chủ nghĩa xã hội hiện thực”. Nó hoàn toàn không thể tồn tại vì cái xã hội công dân tạo nền cho các hoạt động của các lực lượng “đối lập” mang cùng tính chất đã không được thừa nhận theo lý luận chuyên chính gọi là “vô sản” của Đảng. Tất cả mọi hoạt động xã hội đều phải do Đảng nắm chặt bằng Nhà nước cùng với hệ thống chính trị đặt nền trên đường lối chuyên chính đó. Cho rằng chủ trương này là do K. Marx đẻ ra là không thoả đáng: trong xã hội cộng sản lý thuyết do triết gia này đề xuất, nhà nước sẽ dần dà bị xã hội công dân nuốt chửng rồi sau đó nhường bước cho sự ra đời một nhân loại phổ biến chứ không thể là ngược lại như trong chế độ “chủ nghĩa xã hội hiện thực”: sau khi triệt tiêu xã hội công dân rồi nhà nước trở thành tuyệt đối và vĩnh viễn.

Cần lưu ý là trong một chế độ “toàn trị ” mang danh chủ nghĩa xã hội đó, hiện tượng người ta thường gọi là “bất đồng chính kiến” vẫn tồn tại qua mọi thăng trầm. Nhìn vào lịch sử các chế độ cộng sản thực tế hiện tượng này rất đễ dàng nhận ra, dưới nhiều hình thức và danh nghĩa, hầu hết đều diễn ra hết sức bạo liệt . Dù vậy, để duy (trì) tính cách mạng cho phê phán và tranh đấu, người ta không thể nhân danh một cái gì đó bên ngoài thứ lý luận gọi là “vận dụng học thuyết Marx-Lenin”, căn cứ vào đó phê phán những chủ trương bị xem là sai lầm trong sự vận dụng của Đảng vào việc “xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Và hiển nhiên sự phê phán ấy đã không thể trở thành cương lĩnh của một lực lượng có tổ chức công khai được thừa nhận là “đối lập trung thành” trong một chế độ có tham vọng kiểm soát con người từ đầu cho đến chân.

Cũng cần lưu ý thêm là sự mạnh yếu, rộng hẹp của hiện tượng bất đồng chính kiến nói trên trong chế độ ấy không phải lúc nào cũng như nhau. Tất cả đều tuỳ theo tình hình chung, tuỳ theo tương quan giữa xã hội và nhà nước mà diễn ra dưới nhiều mức độ. Nếu trước đây phong trào “Nhân Văn-Giai phẩm”, “chủ nghĩa xét lại”…  xét về căn bản tỏ ra khá “trung thành” với hệ thống mà vẫn bị trấn áp tàn tệ thì ngày nay, trong thời kỳ “đổi mới”, nhiều phê phán đạt đến mức “chạm trần” mà vẫn tồn tại được dưới những hình thức nào đó. Tại sao? Chắc chắn không phải do Đảng đã trở nên dân chủ hơn, khoan dung hơn để không thèm “đếm xỉa” các phản biện rất “phản động” trên đây mà chỉ vì trong thực tế đã đến lúc Đảng không còn đủ sức để lùa vào vòng kiểm soát của mình những ai không “nghĩ trong điều Đảng nghĩ” nữa. Nhìn vào những gì diễn ra ở Việt Nam sau 1986, nhất là sau sự tan rã của “phe xã hội chủ nghĩa”, có thể nhận ra điều đó dễ dàng!

Đặt vào quá trình đấu tranh dân chủ hoá xã hội ở Việt Nam, hiện tượng phản biện trên đây, dù mang trong bản thân nhiều hạn chế và những hạn chế ấy được chấp nhận như điều kiện để tồn tại, cách nói của bà Hoài, xem đó là một “cuộc giải phẫu thẩm mỹ giúp chế độ toàn trị tồn tại mỹ miều hơn” là không thoả đáng, nếu không nói là hoàn toàn phản thực tế. Vì thực tế cho chúng (ta) thấy phải hiểu ngược lại mới đúng: ra đời từ những nỗ lực cực kỳ gian khổ để dân chủ hoá đời sống xã hội, những nỗ lực trên đây, cho đến nay đang có tác dụng làm suy yếu chế độ toàn trị ngay trong sân chơi của nó, làm cho chế độ ấy mau chóng mất đi tính chính danh ngay trên chính những nguyên lý của nó. Nếu không khó giải thích việc chế độ toàn trị luôn tỏ ra rất khó chịu, bực bội với hiện tượng này, thì cũng rất dễ hiểu khi thấy trong khi không dám đối thoại sòng phẳng với những phản biện gai góc, những cái lưỡi gỗ của chế độ đã không biết làm gì để đối phó, ngoài việc nhét tất cả vào cái phạm trù gọi là “diễn biến hoà bình” và “tự diễn biến hoà bình” để quy chụp và kết án là “cơ hội”.

4.

Khi xác định vị trí tranh đấu của mình, những người phản biện từ bên trong không hề coi phương thức lên tiếng của họ là duy nhất đúng, duy nhất có ích. Đó chỉ là một chọn lựa trong nhiều chọn lựa nhưng khi đã đứng vào vị trí ấy rồi thì sự cân nhắc về tác dụng của hành động và lời nói phải trở thành điều cần thiết: chẳng hạn không thể lúc nào cũng ngang nhiên đòi “giải thể” cái này cái nọ tức khắc cho hả giận và cho sướng miệng, không phải vì sợ bị bỏ tù mà chỉ vì không thích hợp. Từ những giới hạn buộc phải chấp nhận một cách chính danh thì chỉ nên gọi như người ta thường gọi họ là những người phản biện, hoặc ồn ào hơn một chút, có thể gọi họ là những người bất đồng chính kiến – những người như vậy ngày càng nhiều thêm, thái độ của họ ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt. Đây không phải chỉ là kết quả của một quá trình giải hoặc về tư tưởng mà chính yếu đã bắt nguồn từ cái thực tế chuyển động của xã hội đang tác động vào bản thân họ: là sự thất bại hiển nhiên của chế độ toàn trị mạo danh xã hội chủ nghĩa giao thoa với cái xã hội công dân đã bị chế độ toàn trị ấy thủ tiêu cũng mạo danh chủ nghĩa xã hội, nay đang phục hồi do sự thất bại của thứ chủ nghĩa xã hội bị mạo danh ấy.

Tất cả đã tác động đến bản thân các đảng viên với tư cách là những công dân và những con người, làm cho cả một lớp trí thức một thời “đi theo Đảng” khi nhìn lại mọi thứ, ngày càng nhận ra sự cách bức trầm trọng giữa Đảng và xã hội, cuối cùng đã chọn đứng về phía xã hội để, từ tư thế của mình, đòi hỏi Đảng phải dân chủ hoá bản thân, tiến hành những cải cách để thực hiện những thay đổi có lợi cho xã hội.

Chừng nào thì hành vi phản biện mạnh mẽ nói trên có khả năng chuyển hoá thành một xu hướng chính trị có tổ chức mệnh danh là “đối lập trung thành” theo đúng nguyên nghĩa của nó? Không thể biết được nhưng chắc chắn đó là điều thật đáng mong mỏi. Nhưng để điều đó trở thành thực tế thì bản thân chế độ toàn trị phải có sự chuyển hoá thật mạnh mẽ về chất, sự chuyển hoá ấy cốt yếu phải được thúc đẩy bởi sự lớn mạnh của cái xã hội công dân hiện diện bên ngoài sự tồn tại của Đảng: không có sự lớn mạnh của xã hội công dân này thì mọi sự chuyển biến trong Đảng, có tính tới áp lực nội tại của thành phần phản biện nói trên, vẫn chỉ loay hoay trong những hứa hẹn, nếu không mị dân để đối phó thì cũng hoang tưởng, nửa vời.

Xét về logic của sự chuyển hoá hoà bình có thể khẳng định rằng chỉ có một xã hội công dân đã trưởng thành về mọi mặt (kinh tế, văn hoá lẫn chính trị) mới có khả năng hạn chế các chính sách chuyên chế của Đảng, từng bước tác động vào Đảng, mang đến cho những trí thức của Đảng nhiều tính chất dân chủ hơn trong những đề xuất cải cách, qua đó dọn đường dần dà cho sự hoá thân của Đảng, từ một đảng toàn trị thành một đảng dân chủ. Logic thì như vậy và mong ước cũng là như vậy. Nhưng thực tế hiếm khi đi theo logic của sự suy tưởng lý tính, trong trường hợp này, bạo lực có thể sẽ lại lên ngôi một lần nữa, bạo lực cách mạng và cả bạo lực phản cách mạng. Mọi sự bàn luận về thực thể gọi là “đối lập trung thành” bây giờ sẽ mất hoàn toàn ý nghĩa, không cần thiết.

© Lữ Phương

Nguồn: Viet-Studies


[1] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/01/120117_phamthihoai_vn_intelligentsia.shtml

[2] http://asiaquarterly.com/2006/01/28/ii-35/

 

7 Phản hồi cho “Về một bài viết của nhà văn Phạm Thị Hoài”

  1. ĐẠI NGÀN says:

    VĂN DĨ TẢI ĐẠO NHẰM PHỤC VỤ CHO MỤC TIÊU XÃ HỘI HÓA CHÍNH TRỊ

    Cụ Nguyến Đình Chiểu quả là một trí thức đúng nghĩa, một nhà yêu nước yêu dân bất hủ. Câu thơ để lại vạn đời của cụ chính là “Chở bao nhiêu đạo thuyền không đắm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Đúng là hai câu thơ đấu tranh thật sự mãnh liệt, nhiệt tình ngút ngàn có khác. Cho nên nếu làm thơ, viết văn chỉ theo thói thưởng, cốt nhằm diễn tả cái tôi nhỏ hẹp, ích kỷ, riêng tư của mình, thơ văn ấy cũng chỉ luôn có nhan nhã, cũng kiểu hạ giới rẻ như bèo, thật sự cũng chẳng để làm gì, chẳng qua chỉ làm thỏa mãn cái tôi và cũng chẳng đáng sá gì. Ngược lại, nếu văn chương chỉ làm công cụ tiến thân cho bản thân, cốt vơ vét các điều lợi của xã hội về mình, văn chương ấy cũng chỉ là thứ văn chương nịnh thần, chỉ để tiếng thối cho đời mà thật sự cũng chỉ hại đời, hại xã hội, không ích lợi gì cho nhân quần, cho xã hội cả. Nhưng ngoài hai thứ văn chương phi văn học đích thực đó ra, còn có một thứ văn chương khác hay là văn học đối lập, mà nói rộng ra có người còn hiểu như văn chương chống đối. Thế thì văn chương theo cụ Đồ Chiểu luôn luôn phải là văn chương thiết thực. Tức làm thơ không phải để than mây khóc gió, ái tình tủn mủn, tình ái lăng nhăng, hay dùng như lợi bút để kiếm chát mọi điều, nhưng văn chương phải thiết thực với đời sống, với xã hội, có nghĩa đó là văn hóa, văn minh trong cuộc đời. Văn hóa văn minh cũng có nghĩa là phục vụ cuộc sống của mọi người, đề cao cuộc sống một cách tích cực, thiết yếu hay cần thiết, và chống lại mọi ý nghĩa, mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực hay thoái hóa nào đó. Ấy thế thì ý nghĩa đúng đắn của đối lập là đối nghịch lại với cái xấu, cái tiêu cực, cái bậy bạ, sai trái, mà không phải nghịch lại với xã hội hay với con người. Thực chất và ngay thẳng mà nói, từ khi chủ thuyết Mác ra đời, hay sau này được gọi chung là chủ thuyết Mác Lê, văn chương thực tế đều coi như bị vặt râu ở mọi nơi mà nó tràn đến cả. Bị vặt râu cho nên thành trơ trụi, chỉ còn biết nịnh bợ, bợ đỡ hay im lặng mà không còn con đường nào khác. Khởi sự tiêu cực đầu nguồn ở đây là do chính bản thân Mác làm ra. Mác cho rằng chỉ ta là chân lý muôn vàn tuyệt đối (bởi vì Mác cho quy luật biện chứng của Hegel là tuyệt đối !). Mác thật sự chỉ là cái “đuôi” của Hegel, nhưng chỉ là cái đuôi giả. Cái đuôi giả tạo, đầy nghịch lý và mâu thuẫn. Bởi vì cái đầu duy tâm của Hegel đã trở thành cái đuôi duy vật trong Mác. Cái nghịch lý phi khoa học như vậy nhưng Mác luôn tự nhận là chân lý thần thánh và tuyệt đối, thế nên mới có Lênin đứng lên đầu tiên thực hiện lý thuyết Mác. Kể từ đó quan điểm chuyên chính sai trái của Mác, quan điểm mệnh danh khoa học tuyệt đối lẩn thẩn của Mác đã biến thành vũ khí độc tài toàn năng phủ trùm lên toàn nhân loại (may cũng chỉ mới một phần). Ngày này thì mọi sự đều đã rõ ràng. Bởi vì lịch sử phát triển và tiến hóa của loài người đã phơi bày ra hết, cung cấp hết mọi cơ sở và dữ liệu khách quan khoa học để mọi người không còn mơ hồ gì nữa. Thực chất ra, những nhà tư tưởng chân chính, những nhà văn nghệ chân chính, đều thấy cả chân lý của thế gian ngay từ khi Mác xuất hiện cho đến khi Liên xô sụp đổ, hoàn toàn không như hay ngược hẵn với những gì Mác nói. Nhưng con người không thể đi trước thực tiển cả trên mười năm, đó là thông lệ. Cho nên mọi sự sáng suốt thấy trước, có khi cả nửa thế kỷ, cũng phải đành thúc thủ hay im lặng ngậm ngùi trong lòng, bởi xu thế thực tế cuộc đời ít khi thuận lợi cho những gì thấy trước hay tiên tri như thế. Nạn đốt sách chôn nho không phải thời cổ đại mới có, nó luôn xuất hiện cả trong thời cận và hiện đại mà ai cũng rõ. Thế mà ông Lữ Phương tự cho mình là người “Mác xít chân chính” quả thật ông có nằm mơ không đó. Điều này có nghĩa ông Lữ đã “dày công nghiên cứu chủ nghĩa Mác” mà thật tình ông chẳng hiểu gì cả, hay ông hiểu sai, hiều không thấu đáo, không đến nơi tất cả. Cũng từ đó mà có thể nói được bà Phạm Thị Hoài đúng thật là người đối lập tích cực theo ý nghĩa tích cực như trên đã nói. Còn khái niệm “đối lập trung thành” người ta bảo ông Chu Hảo đưa ra, thực hư tôi chưa rõ, nhưng thực chất cũng nên hiểu thêm một chút. Nếu đối lập trung thành theo kiểu Lữ Phương, thì quả cũng chỉ là đối lập trong lồng gà, không thể đi ra ngoài quãng trời đất bao la được. Thế nên nếu đối lập theo kiểu bà Phạm Thị Hoài thì còn khả khi. Tức đối lập trong phạm vi dân tộc, đất nước, xã hội, cuộc đời, hay ít thì cũng trên lãnh thổ VN mà không phải chỉ đối lập trong đảng hay trong học thuyết Mác Lênin ! Nói rộng ra, chỉ có khoa học khách quan và thực tiển cuộc đời mới là cái quý giá nhất và cao cả nhất trong cuộc sống của con người, của mọi con người. Không phải học thuyết nào, đảng nào, lãnh tụ nào, chính quyền nào, thể chế nào mới là cao cả hay tuyệt đối cần thiết cả. Bởi nếu vế sau đi theo vế trước thì mới là điều thuận lý. Còn như vế trước phải khung vào vế sau lại hoàn toàn là điều phản động, trái lý, hay nghịch lý. Cho nên nói cho cùng chỉ có bản thân con người (mọi người), bản thân dân tộc, bản thân đất nước, bản thân xã hội mới là cái đích điểm tột cùng nhất. Nó phải chi phối và mục tiêu cho tất cả mọi sự. Còn nếu ngược lại tức là phản con người, phản dân tộc, phản đất nước, phản xã hội, tức đều phản lịch sử hay thực chất là phản động. Vậy thì nếu ý niệm của ông Chu Hảo hay bà Phạm Thị Hoài áp dụng vào nghĩa sau, nó là tốt, còn như áp dụng vào nghĩa trước cũng chưa hẵn đã là tốt. Tức đối lập giữa cái tốt và cái xấu nói chung, đó là điều tốt. Trung thành với cái tốt mới là tốt. Còn ngược lại chỉ đối lập trung thành theo cách của ông Lữ Phương hiểu, thì chắc ông Lữ Phương cũng nên đi tìm để hỏi lại cụ Nguyễn Đình Chiểu thì quả thật mới thực chất tốt hơn. Mục tiêu xã hội hóa chính trị và ý nghĩa của chính trị hóa xã hội nó khác nhau như thế đó. Sự bé cái lầm của Mác lúc còn sinh thời là cứ tưởng mình đặt nền tảng cho sự xã hội hóa chính trị. Mác có ngờ đâu chính mình đã giăng cái bẫy, đã buộc sẵn sợi thòng lòng để cho việc chính trị hóa xã hội sau này. Cái vòng kim cô mà Mác đã đặt trên đầu nhân loại rất may là nó bị mẽ và đã được lấy xuống. Bởi Mác chủ trương chuyên chính để giải phóng mọi sự chuyên chính quả là sự dại khờ và nghịch lý. Mác bất chấp tâm lý con người và quy luật xã hội. Thế mà cũng có người mệnh danh Mác là triết gia, là nhà khoa học, là trí tuệ của nhân loại, là đỉnh cao của lịch sử, là lương tâm của thời đại, chắc là điều này rất trùng ý với ông Lữ Phương quá. Bởi không ai lấy lửa để chữa lửa, không ai lấy nước để cứu được nạn hồng thủy cả. Người ta còn nhớ ở miền Nam cũ trước bảy lăm, có anh chàng tên là Phạm Cồng Thiện cũng nổi tiếng là “nhà thơ”, nhà tư tưởng, nhà “triết gia” để nói những điều toàn là vung vít. Các Mác ở Đức hồi thế kỷ 19 không biết có giống “nhà triết học” Phạm Công Thiện ở VN hồi thế kỷ 20 không biết. Cho nên thời nay là thời đại của mạng toàn cầu, của giao tiếp tự do nơi mọi người từ mọi chân trời góc biển. Mọi cái chỉ đều tiến hành ngay trong chốc lát tại bàn phiếm máy vi tính mà chẳng cần nháp, chẳng cần cấu tứ hay thai nghén gì. Ai cũng phải làm như vậy và ai cũng có thể làm như vậy. Đùa mà thật, thật là đùa cũng là thế. Thời buổi gạo châu củi quế, thời buổi khủng hoảng tài chánh toàn cầu có ngồi mà làm bài thơ cả tuần, có ngồi mà viết bài báo cả tháng, đó là thời Bành tổ cổ đại xa xưa lắm rồi. Bởi thế nếu đánh máy mà không có lỗi quả mới là tay cừ, còn nếu đánh mãy mà còn có lỗi tức cũng chỉ là điều hoàn toàn tự nhiên, thật sự hiển nhiên thế thôi. Nên nói gút lại cái đối lập hay cái trung thành ngày nay thực chất nó cũng chỉ mang tính chất hồn nhiên, lãng mạn, thoải mái, nhẹ nhàng y như những lời bình trên mạng, mà không còn kiểu sợ búa đập đầu thời Pôn Pốt, sợ bị đội mũ lừa đi diễu phố thời Hồng vệ binh, sợ bị nhốt vào trại cải tạo như thời Stalin hay Trường Chinh, Lê Duẫn nữa.

    Võ Hưng Thanh
    (28/01/12)

  2. Trần Hữu Cách says:

    Tác giả có cách nhìn nhận tinh tế về… văn phong Phạm Thị Hoài! Tuy nhiên, lộ đồ mà ông đưa ra để Việt Nam tiến tới dân chủ không được xác thực tới cùng mức độ ấy.

    Làm gì có chuyện Việt Nam đang có một xã hội công dân đang lớn mạnh, khi hầu hết các tổ chức dân sự đều thuộc dạng sơ sinh, nghĩa là sống bám vào trợ cấp đi kèm với quyền điều động hoàn toàn của nhà nước.

    Tổ chức dân sự duy nhất thực sự đang lớn mạnh và hoạt động độc lập đúng với vai trò của nó là Giáo Hội Công Giáo. Và với đầu óc của các lãnh đạo hiện nay, rõ ràng là họ không chấp nhận sự phát triển của ngày càng nhiều tổ chức dân sự chẳng hạn như những nghiệp đoàn độc lập, hội nông dân độc lập (chuyên đòi đền bù đất đai thỏa đáng).

    Trong tình hình này, các trí thức “của Đảng” đã và đang làm gì để “từng bước tác động vào Đảng”? Khi “đã chọn đứng về phía xã hội” thì tại sao họ còn đòi Đảng phải “dân chủ hóa bản thân”? Đây hẳn là chỗ vòng vo cuối cùng trong tư tưởng của tác giả bài này.

    Trực tiếp hơn, khi “đứng về phía xã hội”, người trí thức không còn là “của Đảng” nữa, và họ cũng không cần tranh đấu cho sự thay đổi để sống còn của Đảng, bởi vì việc tranh đấu cho sự hiện hữu của một xã hội công dân đúng nghĩa chắc chắn sẽ đòi hỏi họ phải dốc toàn tâm toàn lực.

    Đến lúc đó thì — xin mượn lại phần lớn câu kết của ông Lữ Phương — “mọi sự bàn luận về thực thể gọi là ‘đối lập trung thành’… sẽ mất hoàn toàn ý nghĩa, không cần thiết.”

  3. Phu Bốc Vác says:

    Có 2 vấn đề cần xác định lại.

    I- Phản biện xã hội
    Phản biện là gì ? Tranh biện phản kháng lại ? Ai phản biện, phản biện nên xảy ra ở đâu và lúc nào ?

    II – Xã hội dân sự
    Xã hội dân sự là gì ? Civil society của thế kỷ 18,19 ? Có thật VN có một xã hội dân sự không ? Nó mạnh hay nó yếu xìu ? Đảng CSVN có để yên không?

    Civil society
    Civil society is the arena outside of the family, the state, and the market where people associate to advance common interests. It is sometimes considered to include the family and the private sphere and then referred to as the “third sector” of society, distinct from government and business. Dictionary.com’s 21st Century Lexicon defines civil society as 1) the aggregate of non-governmental organizations and institutions that manifest interests and will of citizens or 2) individuals and organizations in a society which are independent of the government. Sometimes the term is used in the more general sense of “the elements such as freedom of speech, an independent judiciary, etc, that make up a democratic society” (Collins English Dictionary).
    The term entered public discourse in the United States in the 1980s. The term was however already coined in the 18th century by Adam Ferguson, the “father of modern sociology”, and used in the title of his Essay on the History of Civil Society.
    (Wikipedia)
    *

    Debate
    a : the formal discussion of a motion before a deliberative body according to the rules of parliamentary procedure b : a regulated discussion of a proposition between two matched sides (Merriam Webster)

    Tranh luận theo tôi biết, chỉ có chính thức và lành mạnh khi nó được luật pháp bảo vệ và diễn ra đúng nơi đúng chổ. Tranh luận Debate chỉ xảy ra trong hai trường hợp :
    1-Trong nghị trường quốc hội, Parliament. 2- Giữa hai đối thủ tranh cử hoặc tranh đua chương trình gì đó, two matched sides

    Ý Kiến :

    1- VNCS KHÔNG có tự do Ngôn Luận Tự Do Báo Chí, Hội Họp và Lập Hội – Freedom of Speech, of Press, Association and Assembly, thì lấy đâu ra xã hội dân sự ? Dân VN có quyền xin phép thành lập hội tư nhân hoặc xuất bản một tờ báo không ?Chắc là không bao giờ.

    2- VNCS chủ trương cho toàn dân phản biện, còn trong Nghị Viện Quốc Hội và các quan chức thuộc đảng CS thì KHÔNG CẦN. Vậy là láo.
    Một xã hội mà viên chức nhà nước ăn tiền đóng thuế của dân thì NGẬM MIỆNG khi có biến. Còn Dân thì cãi nhau thả dàn, thì làm sao xã hội đó tiến bộ? Láu cá là chổ đó !

    Người ta còn nhớ, vụ tổ chức theo Tàu “1000 năm Thăng Long”. Người người phản đối, nhà nhà phản đối. Cũng không tới đâu. Sau đó là đạp vào mặt người biểu tình. Phản biện. Cũng huề trớt. Người yêu nước càng bị bắt. Tiếp tục, vụ cờ đỏ 6 sao thách thức. Và còn dài dài… Càng phản biện, lại càng tệ hơn.
    Tóm tắt: cả hai cái gọi là “phản biện” và “xã hội dân sự” ở VN đều trái khoáy và láo lếu. Tại sao không nghĩ đến chuyện thoát ra khỏi ngay cái vòng lẩn quẩn đó?Tẩy chay nó thì mới khá.

    Không có các quyền Tự Do căn bản như Tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và lập hội, Freedom of speech, presss, asociation and asembly, thì không thể có cái gọi là xã hội dân sự và tranh biện đúng đắn.

    Người người phản biện, nhà nhà phản biện, trong khi cán bộ quan chức nhà nước NGẬM MIỆNG ĂN TIỀN, thì loạn.

  4. Tô huy Cơ says:

    Tôi có dịp nói chuyện với cô Hoài ( hồi chưa xuất ngoại ) ở Hà Nội , nên tin rằng đọc bài này của Lữ Phương cô ấy sẽ bảo ngay ông này thuộc loại ” ấy ái uông ! ) . Chàng Gonim ở Ai cập sẽ cười khi đọc :” Xét về logic của sự chuyển hoá hoà bình có thể khẳng định rằng chỉ có một xã hội công dân đã trưởng thành về mọi mặt (kinh tế, văn hoá lẫn chính trị) mới có khả năng hạn chế các chính sách chuyên chế của Đảng, từng bước tác động vào Đảng, mang đến cho những trí thức của Đảng nhiều tính chất dân chủ hơn trong những đề xuất cải cách, qua đó dọn đường dần dà cho sự hoá thân của Đảng, từ một đảng toàn trị thành một đảng dân chủ. ” …ấy ái uông làm sao . Loại vô liêm sỉ như ông Lữ này còn đáng ngao ngán hơn lũ toàn tri đang trị chính ông ấy !.Cũng nên đọc kỹ để hiểu cái loại đã và vẫn bôi son trát phấn ra sao cho cái hệ thống đáng đào thải này nhưng không cần biện bác làm gì , thì giờ cho việc khác hữu hiệu hơn .

  5. Tô huy Cơ says:

    Tôi có dịp nói chuyện với cô Hoài ( hồi chưa xuất ngoại ) ở Hà Nội , nên tin rằng đọc bài này của Lữ Phương cô ấy sẽ bảo ngay ông này thuộc loại ” ấy ái uông ! ) . Chàng Gonim ở Ai cập sẽ cười khi đọc :” Xét về logic của sự chuyển hoá hoà bình có thể khẳng định rằng chỉ có một xã hội công dân đã trưởng thành về mọi mặt (kinh tế, văn hoá lẫn chính trị) mới có khả năng hạn chế các chính sách chuyên chế của Đảng, từng bước tác động vào Đảng, mang đến cho những trí thức của Đảng nhiều tính chất dân chủ hơn trong những đề xuất cải cách, qua đó dọn đường dần dà cho sự hoá thân của Đảng, từ một đảng toàn trị thành một đảng dân chủ. ” …ấy ái uông làm sao . Loại vô liêm sỉ như ông Lữ này còn đáng ngao ngán hơn lũ toàn tri đang trị chính ông ấy !.

  6. D.Nhật Lệ says:

    Bác Nguyênha khen ông LP.là thấy giáo “tài ba” trong giả định thì được,chứ ông ta rất hợm mình vì tự nhận
    là nhà “Marxist chân chính” do có nghiên cứu về chủ nghĩa CS.rồi mù quáng say mê lý thuyết Mác đến nỗi chạy vào bưng biền và để tuyên truyền cho cuộc chiến chống Mỹ của MTGPMN.Hà Nội phong chức goị là
    thứ trưởng cho ông ta.Chính “món qùa” này đã làm ông ta không thể dứt ảo tưởng về chủ nghĩa CS.,dù ông ta nay ở vào tình trạng của trái chanh bị vắt hết nước,chờ vất vào sọt rác !
    Nói ông ta tự nhận nhà Marxist chân chính là bởi vì ông ta từng viết bài chưởi rủa những ai phê bình chủ
    nghĩa Mác khác với cách hiểu của ông ta.Đối tượng điển hình mà ông từng phê phán là học giả Richard Pipes tác giả “Chủ nghĩa CS”.Ông LP.đã hạ giá R.Pipes bằng lời khẳng định ngắn là viết dở ! Mà có lẽ
    R.Pipes “dở” thật vì đã lên án chủ nghĩa CS.qua mấy tên “đầu cơ cách mạng bằng mồm” kiểu như Castro.
    Hãy đọc…lời thánh phán của P. Castro : “Cách mạng cần có kẻ thù…Để phát triển thì cách mạng cần có phản để,cụ thể là cần có phản cách mạng…nếu không thì cũng phải bịa ra kẻ thù ” và những nhận định
    bác bỏ cũng như lên án chủ nghĩa này của R.Pipes trong tác phẩm nói trên !
    Sở dĩ ông LP.phải làm…luật sư bênh vực Chu Hảo là vì đồng hội đồng thuyền mà thôi,chứ ông ta hoàn
    toàn tin vào những gì Marx phán và đổ tội cho những kẻ cầm quyền không hiểu Mrx bằng ông ta ! Đối
    với những người tin chủ nghĩa CS.như ông LP.thì họ không hề dám chỉ trích thẳng thừng chế độ,ngay
    cả một trí thức thiên tả-thân cộng người nước ngoài,William Kunstler,đã từng phát biểu như thế này “tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền XHCN.,dù đó là sự vi phạm nhân quyền” để phản
    đối những trí thức thiên tả viết thư ngỏ gửi nhà nước VN.do nữ ca sĩ Joan Baez chấp bút.Tên này cũng giở trò CHỤP MŨ J.Baez “và toàn bộ chiến dịch này của J.B.có thể là âm mưu của CIA” ! Đúng là một
    tên trí thức…thuộc loại trí ngủ của phương tây ! Bọn này chỉ muốn nước khác đi theo chế độ CS.còn nước chúng nó thì không và không đời nào !
    Thật là “ngưu tầm ngưu,mã tầm mã” ! Ông LP.từng viết sách chưởi bới tất cả những văn nghệ sĩ VNCH.
    và kết án họ là những BIỆT KÍCH VĂN NGHỆ của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ! Than ôi… trí ngủ một
    thời vẫn chưa chịu…thức trước thực tế tình hình nham nhở… hết thuôc chữa hiện nay !

  7. nguyen ha says:

    Ông Lữ-Phương viết dài dòng,lý-luận “lẩm-cẩm”:
    –Làm gì có trí-thức trong chế-dộ CS,Ông LP không biết Mao(thầy của Hồ)dãnói:Trí thức thua cục Cứt!!)
    –Ông không thể biến một “Dảng-tòan-trị”trở thành một”Dảng-dân-chủ”dược! vì không ai biến dược”một-cục
    dất-sét”trở thành “vàng-ròng”dược cả.!
    –Không biết Ông Lữ-Phương có nhận ra dược không ,Tiến-sĩ CS kiến thức thua “thằng con-nít”.
    _Vì những lý-lẽ trên,nên “dối lập trung thành”vẩn là một Thực-thể của Chế-dộ hiên tại. Hiện tượng “bánh-vẽ”
    cũng là một hình thức của” Dối-lập trung thành”Ông Lữ-phương ạ!
    Tóm lại,lý luận gì nữa ở một xã-hội(CS) rệu-rã về mọi mặt. Cho dù Ông có là thầy giáo “tài-ba “di nữa,cũng không thể dạy một dứa học-trò “mất-căn-bản”dể tiến lên dược,mà chỉ có một cách học lại từ dầu,hay nói
    dúng hơn :Xóa bàn làm lại!!

Phản hồi