|

Người Việt đầu tiên đặt chân tới Hoa Kỳ

Khi Bùi Viện (một vị quan sống dưới triều vua Tự Đức) đặt chân đến Hoa Kỳ để đặt quan hệ ngoại giao vào đầu những năm 1870, lịch sử đã coi ông là người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên đất nước châu Mỹ này. Nhưng trong cuốn sách “con đường thiên lý” (NXB Văn hóa – Thông tin), nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê đã đưa ra những bằng chứng thuyết phục, chứng minh rằng trước Bùi Viện 20 năm, có một người Việt đã thực hiện một chuyến phiêu lưu ở miền Tây hoang dã của Hoa Kỳ như một cao bồi thực thụ.

Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm (người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ).

Từ người Việt đầu tiên đến Hoa Kỳ và nhà báo Việt đầu tiên trên đất Mỹ

Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.

Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất, từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó ông trở về thành phố Xanh – Phát – Lan – Xích – Cố ( phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờ Daily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.

Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Lousiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.

Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là cụm từ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.

Wild West. Ảnh mang tính minh họa, nguồn www.trekearth.com

Wild West. Ảnh mang tính minh họa, nguồn www.trekearth.com

Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người, nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn, gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam, nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa, nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.

Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.

Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng. Nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng, các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.
Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8/11/1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.

Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.
Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

Người Minh Hương cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương. Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.

Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.

Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi làng xóm bắt đầu trù phú thì thực dân Pháp xâm lược nước ta. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi. Năng khiếu ngoại ngữ cũng giúp Lê Kim cảm hóa được một nhóm lính Pháp và dùng chính nhóm lính này tấn công quân Pháp ở Cái Bè, Mỹ Qưới, khiến cho quân giặc điêu đứng.

Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăn trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối: “Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh/Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.

Như vậy, không chỉ là người đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ, Lê Kim còn là một trong những nhà yêu nước can đảm đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Dù cuộc khởi nghĩa của ông cùng chung số phận với nhiều cuộc khởi nghĩa khác ở Nam Kỳ đều bị thực dân Pháp và triều đình Nguyễn đánh tan, nhưng Lê Kim vẫn được công nhận là một trong những danh nhân lớn ở Đồng Tháp thế kỷ 19.

(Dựa trên tư liệu của học giả Nguyễn Hiến Lê)

Theo Bẩy Cây Trúc

16 Phản hồi cho “Người Việt đầu tiên đặt chân tới Hoa Kỳ”

  1. tuyen dung says:

    It’s a shame you don’t have a donate button! I’d definitely donate
    to this superb blog! I suppose for now i’ll
    settle for bookmarking and adding your RSS feed to my Google account.
    I look forward to fresh updates and will share this blog
    with my Facebook group. Talk soon!

  2. Ha says:

    Bài này không liên quan gì tới tôn giáo
    Xin các bạn đừng đưa chuyện tôn giáo vào đây

    • haley t. says:

      Dạo Thiên chúa không dính dáng gì đến bọn thực dân Pháp.Không có TCG thf vẩn bị xâm chiếm và đô hộ bỡi những nước tây Phương văn minh hơn. Pháp Anh ,Bồ … đều đem quân đi xâm chiếm các nước. An đọ ,Tàu lón và đông dân như vậy mà vẫn bị đè bẹp.Không có nước nào nói là tcg xâm chiếm nước họ. Chĩ có vn cộng sản vô thần là lấy cái cớ tcg (sau này bị nhà Nguyễn bách hại,nhưng ttg vẫn phát triễn mạnh ở vn) đẻ vừa gây chia rẻ dân tộc ,vừa triệt hạ ton giáo thehĩ có thăng ngu mơi tin vào tên đồ tể Hồ hán gian ,đãng viên đãng cs tam vô mà thôi .Thằng này phản quốc hại nươc hại dân và bây giờ thế kỹ 21 mà tư tưởng ncòn nầm ơ ths kỹ 17 ,thời đàn áp ttg của nhà nguyễn và vẫn còn tin vào tên hồ ly thì quả thật,như báo chí vừa đăng ,dân vn càng ngày càng nhỏ con ,cái đầu cũng nhỏ ,khôn lanh như những đứa trẻ mât dạy,dù ngày nay có hoc vấn có bằng cấp và được ra nước ngoài học ,thì cái anh có đầu óc bã đậu ,chí phèo,thị nở ,xuân tóc đỏ,phi lạc hay anh chị dậu vẫn không thay đổi..điễn hình là bon dư luân viên trên DCV và giaoddieexm tcn..VN có những tên này thì chixcos tụt hậu và tụt hậu,làm nô lệ cho người ,bán nước cầu vinh chớ khá gì nỗi.
      Mấy thằng này chổ nào nó cũng chui vô chọc đít người ta.ngứa tai đẻ người ta đào mả Ong bà cha mẹ ra chữi. Vì chúng không có gia đình ong bà tổ tiên.Chúng là người máy,nghe lệnh “cắn đi” là chúng cắn.Trí thức gì bọn này.Trí thức cục phân ,trí thức chồn lùi.Chúng như loài bọ hung ,lấy việc xủi cứt làm nghề chính…
      Cho nên nói với chúng vô ích.
      Đè nghị đừng đẻ ý tơi chúng Bỡi vì chúng mà biết nghe.có giáo dục,có hiểu biết thì đâu có cố lì vào đây ,bất cứ bài nào ,đều giở giọng cs ra..bài xích tôn giáo Mà ở tây phương ,TCG là tôn giáo chính .Phải chăng thằng csvn cho mấy thằng vô danh tiểu tốt ,đầu đương xó chợ vô đây đánh phá TCG là đanh phá Mỹ và các nước Tây Âu mà chúng đang lạy lục xin xỏ. Gần hơn là đanh phá ĐCV,dù sao cũng “ký đầu” chúng khá nhiều…
      (h)

  3. Chuẩn Sĩ says:

    Nài, Có đến vài con chien đi lạc, chui lôn vào áo choàng của Chuẩn Sĩ mà đang giả giọng của Chuẩn Sĩ, nhưng vẫn có thanh âm giống như chien thế nào ấy, chui ra ngay đi, kẻo Chuẩn Sĩ cho một phát rắm u đầu lên bi giờ
    Con chien Nguyen Ha nói năng nhăng nhít về Tiến Sĩ Sử học Cao Huy Thuần cái gì vậy? Các con chien nên nhớ là tác phẩm : “Đạo thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam của T/S Cao Huy Thuần được hội đồng giám khảo người Parisien của trường Đại Học Paris cúi đầu trân trọng trao, chấm đậu tối ưu đó nghen. Các con chien trước khi mở giọng phê bình lếu láo thì hay nhớ đến điều này nhé. Kẻo lại bị chê là hố hoắc đó.
    Còn con chien léthan sao không đi chữa bệnh lé trước khi vào đây phản biện. Đừng nên lái sang v/đ Cộng Sản đề chạy tội phản quốc của các loài chien trên dất Việt nhé. Lời khen tang con chien Công Giáo VN trung thành với chủ của thằng GM Bùi Ghẻ Nhơ (Puguiniez) còn rành rành kia mà. Có biết là Chuẩn Sĩ đang dậy dỗ cho các con chien biết tự chế, nhìn lại chân mình trưóc khi nhin sang chân người khác nhé, đừng nên vung vít, phét lác về những lãnh vực sự that của lịch sử đã rành rành ra đó nữa, các con chien đã dốt nát về sự that lịch sử lại trâng tráo đi tìm nạn nhân của chế độ ngu dốt, vụng về NĐD mà vu vạ, biến nạn nhân thành thủ phạm thì bất lương quá, không thể chap nhận được.
    Nên nhớ những chi tiết Chuẩn Sĩ bưng lên đó chỉ là một trong muôn ngàn cái tôi phản quốc, phản lại tổ tiên giòng tộc của con chien mà thôi. Một kho tài liệu sự that lịch vẫn còn kia, các con chien đừng nên hợm hĩnh, hố hoắc viết bậy, bạ về những vấn đề Phật Giáo mà tự bôi lọ vào mặt mình thêm đấy.

    • chuẩn sĩ says:

      chuẩn sĩ says: Em chỉ lập lại những gì em nghe Nhà Nước nói ở VN thôi đó nha.

  4. Ha says:

    Bạn Trầm luân thât uyên bác, đáng phục!

  5. kimthuan trinh says:

    Quyển Con đường thiên lý của Nguyễn Hiến Lê tôi có đọc, ngoài ông Lê Kim ra, trong sách còn nhiều tư liệu qui giá nữa như : tại sao sau đệ nhị thế chiến Stalin để cho Pháp chiếm lại Việt Nam ? và …. các bạn nên tìm xem. Rất hay .

  6. Trần Hùng says:

    Bài viết đã hay, đọc còm của chuẩn sỹ càng thấy hay, cám ơn!

  7. Ha` says:

    Tác giả nói
    “Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.”

    Bài này cũ rồi, người ta chuyển cho tôi cách đây hơn một năm, tác giả bài này nói Lê Kim đã cho một ông tướng Mỹ 200 Mỹ kim, hồi đó cách đây 143 năm, 200 đô la lớn lắm, cả triệu đồng, tác giả không nắm vững tiền tệ của Mỹ nên đã để lộ sai lầm như trên

    • Trầm Luân says:

      Bạn đã nhận được bài này hơn một năm rồi mà vẫn chưa đối chất dữ kiện sao? Nếu bạn tìm trong wikipedia về ông tướng Sutter thì thấy ngay, trong bài từ cái link này, http://en.wikipedia.org/wiki/John_August_Sutter. Có đoạn cho thấy ông kiện chính phủ và thắng được một khoản tiền hưu là $250 mỗi tháng đền bù cho công lao và mất mát của ông.
      Vậy thì $200 (năm 1853)… hoặc $250 (khoảng năm 1868) có lẽ cũng chỉ khoảng một tháng lương của một ông tướng về hưu. (từ 10,000 tới 12,000 USD của năm 2013).

      Còn vài cách đối chiếu mệnh giá tiền cũ và mới của vài trường đại học hoặc viện nghiên cứu kinh tế cũng cho thấy lối phỏng định lương hưu là khá chính xác.

      Tôi đã uốn lưỡi hơn 7 lần và rất sợ bút sa gà chết!

      Nay kính.

  8. Chuẩn Sĩ says:

    Tuyệt hay, tuyệt vời. Cuộc đời của tiên sinh cần phải dựng nên một cuốn phim, hay ít ra phải nên viết lại để thế hệ sau chiêm ngưỡng, học hỏi vì đây đúng là một tấm gương xứng đáng cho hậu thế.
    Cùng thời với tiên sinh ta có Ngô Đình Niệm, ( ông nội của Ngô Đình Diệm) lúc này đang hầu hạ, bưng bê, đấm bóp cho thằng GM Bùi Ghẻ Nhơ (Puguiniez) trên chiếc tàu đang bắn phá vào Đà Nẵng, năm 1858 làm chết hàng ngàn người vô tội. Nhờ công lao khuyển mã này mà Ngô Đình Khả được cho đi du học Pénang, Philippine, nhưng Khả bỏ ngang (Vì học qúa dốt?), về nước cũng được cất nhắc lên chức tổng quản cấm thành, một chức chó săn chuyên theo dõi các hành động, tư tưởng của vua quan triều Nguyễn để báo cho tây, Ngô Đình Khả đã tạo ra những hung thần Ngô Đinh Cẩn, Nhu, Diệm sau này mà các sử gia VN gọi là giòng họ tam đại việt gian, nhơ xấu muôn đời (Xem Chủ nghĩa thực dân và đạo thiên chúa tại VN của TS Cao Huy Thuần). Nhưng nhà Ngô lại là danh nhân của tất cả các con chien VN!!!
    Vai trò chó săn của Khả và tất cả cac con chien VN làm tốt đến nỗi GM Bùi Ghẻ Nhơ đã phải thốt lên : “Không có người CÔNG GIÁO VN thì người pháp như con cua bị bẻ gẫy càng…”. Thế nên nhờ có người CÔNG GIÁO VN mà người pháp như con cua có them 8 cái càng nữa để đặt cái gông cùm nô lệ lên toàn thể dân tộc VN đến 80 năm nữa. Than ôi.

    • lethan says:

      Gửi tên chuan si- tự là chungson, con meo, cong tang ton nu nhu mi, quoc khach, tran vu, con c…,v…v…:

      Ông Trần Trọng Khiêm khi ra nước ngoài không hề làm những điều gì hại nước hại dân Việt, khác với trường hợp tên đại Việt gian Hồ chí Minh dưới đây :

      ***Trên tờ báo Thanh Niên phát hành ở Quảng Châu ngày 20/12/26 , Hồ chí Minh viết:”Cái danh từ tổ quốc là do các chính trị gia đặt ra để đè đầu nhân dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có tổ quốc, cũng chẳng có biên giới”.

      ***Trong“Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam” -Tập I, Hồ chí Minh viết : “Chúng ta theo chủ nghĩa Quốc tế, không theo chủ nghĩa Quốc Gia. Chúng ta phải nâng cao tinh thần đấu tranh giải phóng, nghĩa là hình thức thì dân tộc mà nội dung là quốc tế”.

      ***Trong cuốn: “Văn Kiện Đảng Toàn Tập” của nhà xuất bản Sự thật (Đảng cộng sản Việt Nam) – tập 1 có đoạn trích như sau:

      “Tháng 11, 1927, bác Hồ được Quốc Tế Cộng Sản phái đi Pháp công tác. Bác Hồ rời Moscow đi qua Đức, rồi bí mật đi vào Pháp. Tại Pháp Bác tìm hiểu những cơ sở của đảng cộng sản Pháp tại Đông Nam Á nhằm phối hợp cho chuyến công tác của ông tại Xiêm do Quốc tế cộng sản giao phó…”

      … “Sau 1 tháng rưỡi hoạt động bí mật tại Paris theo chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản, Bác trở về Berlin. Ở đây, Quốc tế cộng sản lại chỉ thị cho Bác đi Bruxelles, thủ đô nước Bỉ dự hội nghị Quốc Tế Liên Đoàn Chống Đế Quốc. Chuyến đi này do Sa-tô-pa-đi-a-I-a, một đảng viên cộng sản Ấn Độ tổ chức. Đến hội nghị, Bác gặp lại những người đã từng làm việc với Bác vào những năm 1923-1924. Hội nghị chấp dứt, Bác trở về Đức, chờ chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản cho chuyến đi về Đông Nam Châu Á. Ở đó, Bác làm phóng viên cho tờ báo Đức Die Welt (Thế Giới)…”

      ***Nội dung bức thư viết vào ngày 16-12-1927 Hồ chí Minh xin tiền bọn đế quốc Liên xô như sau:

      Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân

      Các đồng chí thân mến,

      Trong 2 hoặc 3 tuần lễ tôi sẽ trở về Đông Nam Á. Chuyến đi của tôi tốn chừng 500 đôla Mỹ. Vì tôi không có tiền, nên tôi mong các đồng chí giúp tôi. Xin vui lòng trả lời tôi ở địa chỉ như sau: Ông Lai, ở nhà ông écxten, 21 phố Halesơ, Béclin. Trong thư trả lời này, hãy viết đơn giản “có” hoặc “không”. Nếu là có, hãy gửi tiền đến Ủy ban Trung ương của Đảng Đức, cho “Liwang”. Có hay không có tiền, tôi yêu cầu các đồng chí gửi cho tôi một chương trình tổ chức thực hành để tôi có thể làm việc một cách có ích. Trong khi chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng có được tức thời, xin các đồng chí thân mến nhận lời chào cách mạng của tôi.

      Béclin, ngày 16-12-1927

      N. ÁI QUỐC

      *** Trong thư đề ngày 06-6-1938, HCM gửi Lê Nin. “Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó, hay là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi một việc làm gì mà theo đồng chí cho là có ích?” (Trích Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 trang 90- Sách của đảng cộng sản Việt Nam).

      *** Ngày 31-10-1952, Hồ chí Minh viết: “Đồng chí Stalin kính mến, tôi gởi cho đồng chí đề án Cải Cách Ruộng Đất của đảng Lao Động Việt Nam (tên của đảng cộng sản lúc bấy giờ). Đề án này tôi đã hoàn thành với sự giúp đỡ của hai đồng chí Liu Shaoshi và Van szia-Sian. Đề nghị đồng chí tìm hiểu và đưa ra chỉ thị về đề án này”. (Tôi đã trích nội dung thư ở phần 5 – CCRĐ có hình ảnh chụp bức thư và links đi kèm)

      ***Hồ chí Minh đến Moskva (Liên xô) học tập tại trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông .

      Năm 1924,Hồ chí Minh – với chức vụ ủy viên Đông Phương bộ, phụ trách Cục phương Nam của Liên xô và lãnh lương của Liên xô- từ Liên Xô qua Trung Hoa để phát triển cộng sản xuống vùng Đông Nam Á. HCM chính là người đại diện Đệ tam Quốc tế Cộng sản đứng ra thành lập đảng Cộng sản Việt nam tại Hương Cảng ngày 6-1-1930 (Sau vâng lệnh đảng CS Liên Xô, đổi thành ngày 3-2-1930).

    • chuansinóibậy says:

      chuansinóibậy : Phải mất hai ngày hai đêm động não em mới phịa được chuyện này đấy .

    • Chuẩn Sĩ says:

      Chuẩn Sĩ says : Tui hay có tật viết những điều hoang tưởng. Xin mọi người bỏ qua.

    • nguyen ha says:

      Cần góp ý thêm với Chuẩn sỷ: Cụ Ngô đùnh Khả làm quan từ thời Đồng-Khánh .Năm 1898 Ông được phong Thượng thư phụ đạo đại than,dưới triếu Thành thái.Năm 1902 :Hiệp tá đại học sĩ.Năm 1905 phong Tổng quản cấm thành (lo an ninh cho Vua). Ông là người được nhà Vua giao cho cho việc cải cách,trông nom trường Quốc học ở giai đoạn đầu với chức vụ Chưởng-giáo. Lúc đó ,trường quốc-học còn mang tên : Trường cao đẳng Tiểu-học,(ecole primaire Superieur).HCM (gọi là) học Quốc học ở giai đoạn nầy. Đầu năm 1990,kỷ niệm 100 thành lập trường Quốc-Học,nhà trường đả củ giáo viên đến Viếng Mộ cu Khả ở Phủ-Cam (Huế)!! Năm vua Thành Thái bị Thực dân Pháp bắt đày ra đảo, Cụ Ngô dình Khả đả không ký tên vào bảng “chuẩn thuận”,nên bị Thực dân sa thải.Bởi thế ,ai là người Huế,đều rỏ câu nói Dân gian:” Đày vua ,không Khả–Đào mả, không Bài” (thượng thư bộ Công Nguyễn hửu Bài phản đối Thực dân Pháp đòi đào Mộ Vua Tự Đức để lấy vàng). Lịch sử phải được nhìn từ nhiều phía,nếu muốn tìm Sự that.Trong lịch sử Cận đại VN,đất nước trải qua nhiều Chế-độ,
      con người sống trong sợ hải và nhiều định kiến,lấy đâu ra cái gọi là “nhà-sử-học”..Cụ thể trường hợp Cao-huy-Thuần,một thành viên của nhóm Lập trường, thân Cộng,thời BS le khắc Q.! Đành rang Cụ NDK là người theo Thực Dân,nhưng không phải thế mà vội vàng kết luận Cụ là “buôn dân ,hại nước.Ngu dốt!!”.Nếu như thế…thì làm gì có Đội Cấn, đội Cung !!.. Những minh chứng nầy phần nào sáng tỏ những”ngộ nhận”.Cám ơn

      • Chuẩn Sĩ says:

        Chuẩn Sĩ says: Cám ơn các bác đã giúp em sáng trí. Sống ở Việt nam thì Nhà Nước nói sao em nghe vậy. Em trót sai, các bác làm ơn tha lỗi cho em.

Phản hồi