|

Hoa Kỳ và vấn đề từ bỏ đồng minh

aus-us-300x155

Thời Đệ nhị thế chiến

Thế chiến Thứ hai bùng nổ năm 1939, Hoa kỳ trung lập đứng ngoài cuộc giao tranh mà họ cho là không liên hệ, đây gọi là chủ trương biệt lập Isolationism.

Mặc dù đứng ngoài vòng chiến để được yên thân nhưng vẫn bị giáng một đòn nặng sáng ngày 7-12-1941 khi hạm đội lớn của Nhật tấn công Trân Châu Cảng, căn cứ Hải quân Mỹ tại Hawaii. Khi bắt đầu cuộc Thế chiến, nước Nhật có 10 hàng không mẫu hạm được coi là lớn và tối tân nhất thời đó. Trận đánh đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ, gây thiệt hại nặng, khoàng 20 tầu chiến bị chìm hoặc hư hại, 188 máy bay bị hủy hoại 2,400 thủy thủ, phi công bị giết.

Hôm sau Mỹ tuyên chiến với Nhật và hai ngày sau 11-7 Đức, Ý cũng tuyên chiến với Mỹ, dù muốn dù không Hoa Kỳ phải từ bỏ biệt lập sang tham chiến, một cuộc chiến đẫm máu nhất từ xưa đến nay. Theo hồi ký của Đại tướng Eisenhower, cựu Tư lệnh quân đội đồng minh tại Âu châu, khi cuộc chiến bắt đầu, phe trục Đức -Ý -Nhật mạnh hơn đồng minh. Ông cũng cho biết Mỹ Anh đã thỏa thuận giải quyết chiến trường Âu châu trước vì Đức Quốc Xã nguy hiểm hơn Nhật và vì sợ chúng chế tạo vũ khí giết người hàng loạt (1). Mỹ đưa 80% lực lượng sang Âu châu chỉ để lại 20% tại Thái Bình Dương. Đưa quân sang Âu châu không phải để giải phóng cho các nước Pháp, Bỉ, Hòa Lan.. như người Mỹ thường kể mà chỉ là để tự vệ cho chính họ, để ngăn ngừa hậu họa.

Năm 1942 đồng minh bắt đầu thắng thế, Nhật thua to tại trận thủy chiến Midway, Đức Ý thua hai trận lớn tại Bắc Phi và Stalingrad. Năm 1944 Đức Quốc Xã thất bại trên khắp các mặt trận miền đông, tháng 6-1944 đồng minh Anh-Mỹ đổ bộ vào Normandie, tháng 2 năm sau đã vào tới miền tây nước Đức,

Từ ngày 4 tới 11-2-1945, khi chiến tranh Âu châu gần kết thúc Roosevelt, Staline, Churchill họp nhau tại Yalta để bàn về tổ chức lại Âu châu thời hậu chiến. Thực ra chỉ là để chia chác ảnh hưởng với nhau vì thế tác giả Arthur Conte năm 1974 đã viết cuốn sách về hội nghị này “Yalta Ou Le Partage Du monde”, Hội Nghị Yalta Hay Sự Chia Phần Thế Giới

Tháng 4-1945 đồng minh đã tiến tới biên giới Tiệp Khắc nhưng phải dừng lại vì xứ này đã được nhường cho Nga, chương cuối của bộ Lịch Sử Thế Chiến Thứ Hai (2) có nói về sự bất đồng ý kiến giữa Anh và Mỹ. Người Anh đề nghị tiến chiếm Đông Âu không nhường Nga và đặt họ trước sự đã rồi nhưng Mỹ không chấp nhận, người Anh nhận định Mỹ ngây thơ và nhát.

Mặt trận châu Âu kết thúc, Mỹ nhường Đông Âu cho Nga để nhờ họ phụ giúp đánh quân Nhật tại Á châu vì lực lượng địch còn khoảng bốn, năm triệu, trù tính đánh từ một năm rưỡi tới hai năm mới xong.

Năm 1957 C.V Gheorghiu (3) nhà văn nổi tiếng Lỗ Ma Ni viết Les Sacrifies du Danube, Những Kẻ Hy Sinh Vùng sông Danube, truyện dài trên 100 trang thể hiện nỗi uất hận của những nước Đông Âu trong vùng Danube: Hung Gia Lợi, Nam Tư, Lỗ Ma Ni, Tiệp Khắc, Bảo Gia Lợi … đã bị Tây Phương, Hoa Kỳ nhường cho Xô Viết năm 1945. Tác giả nói để cứu nền văn minh Tây Âu, Mỹ đã nhường Đông Âu cho Sô viết khiến cho trên 150 triệu người đã bị tan gia bại sản, trở thành nô lệ cho Cộng Sãn Xô viết.

Truyện sẩy ra tại Bảo Gia Lợi thể hiện nỗi ám ảnh kinh hoàng của người Đông Âu: Một người chạy trốn Cộng Sản sang phần đất tự do bị trúng đạn của lính biên phòng, hai người nhân đạo cứu anh đem về nhà băng bó vết thương. Một người ứa nước mắt bảo vết thương đã có dòi, người kia đề nghị đi tìm bác sĩ hoặc đưa nạn nhân đi nhà thương nhưng anh này gạt đi bảo: “Nếu tìm bác sĩ thì rồi bọn công an CS cũng sẽ biết, sẽ tìm đến đây, người nạn nhân này sợ công an còn hơn dòi bọ, chẳng thà để hắn chết vì dòi bọ còn hơn để hắn sa vào tay bọn mật vụ CS”

Trước Thế chiến thứ hai chỉ một mình nước Nga theo Cộng Sản, Staline chủ trương tiến lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi đất nước trái với Trosky , Đệ tứ quốc tế muốn tiến lên vô sản hóa toàn thế giới. Thế chiến Thứ hai chấm dứt là cơ hội bằng vàng cho Staline bành trướng thế lực bằng họng súng mà chẳng cần thực hiện cách mạng vô sản theo đường lối cổ điển Mác Lê. Người Mỹ đã vô tình mở đường cho Xô Viết đi làm “nghĩa vụ quốc tế”. Các nước tư bản dân chủ tự do Đông Âu đã cùng Tây phương chiến đấu chống phát xít Đức đến khi chiến thắng đã bị Hoa Kỳ tàn nhẫn bán đứng cho Xô viết làm nô lệ.

Sau 1945 Xô Viết tiến chiếm các nước Đông Âu, cướp bóc, vơ vét quí kim, vàng bạc trong ngân khố các nước nạn nhân, dựng lên các chính quyền CS chư hầu và tiếp tục bành trướng tại Á châu. Đại tướng Eisenhower nói trong hồi ký: năm 1939 quân sự của Hoa Kỳ rất xoàng, lục quân còn thua cả Ba Lan nhưng sau Thế chiến đã trở thành cường quốc mạnh nhất hoàn cầu. Năm 1939 Lục quân Mỹ chỉ có 170,000 người nhưng năm 1945 Lục quân Mỹ thành 6 triệu. Măm 1939 Mỹ chỉ có khoảng 2500 máy bay và 760 tầu chiến nhưng năm 1945 họ có khoảng 80,000 máy bay và 2,500 tầu chiến (4)

Cuộc nội chiến Trung Hoa

Các hạm đội Mỹ, Anh từ Âu châu chuyển về Thái Bình Dương để kết thúc mặt trận châu Á, Sô viết cũng chuyển quân bằng đường bộ từ Tây sang Đông như đã thỏa thuận tại Yalta. Ngày 6 và 9 tháng 8-1945 Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố lớn ở Nhật, ngay sau đó một triệu rưỡi quân Nga tấn công lộ quân Quân Đông Nhật tại Mãn Châu. Sự thực Xô Viết chỉ nhẩy vào ăn có sau khi Mỹ đã ném bom nguyên tử, khoảng một triệu quân Nhật đầu hàng. Người Nga lấy kho vũ khí to lớn của Nhật kể cả xe tăng thiết giáp giao cho Mao Trạch Đông, thật là giáo vào tay giặc. Nga cũng tháo gỡ hết các nhà máy tại đây đem về nước.

Năm 1946 Tổng thống Truman cử Tướng George Marshall sang Tầu ngăn cản một cuộc chiến tranh Mao – Tưởng hy vọng họ lập chính phủ liên hiệp sống chung hòa bình. Người Mỹ vẫn lạc quan ngây thơ không hay biết gì về âm mưu thâm độc của Staline, ông ta đã lừa gạt họ từ đầu chí cuối. Mao vận động Nga yêu cầu Anh, Mỹ bắt ép Tưởng Giới Thạch ký đàm phán (5). Sau hơn một tháng thảo luận từ cuối tháng 8-1945 tới 10-10-1945 hai bên ký hòa ước tháng 1-1946 nhưng chỉ được 6 tháng cuộc nội chiến bùng nổ. thời gian này CS Tầu chỉ khiểm soát 1/4 đất đai và 1/3 dân số.

Tưởng Giới Thạch đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân từ miền nam lên Mãn Châu, họ được Mỹ giup về không vận, đây là nơi thử thách đầu tiên của cuộc chiến tranh Quốc – Cộng. Tưởng thắng được những tháng đầu rồi dần dần mất ưu thế, năm 1948 đánh dấu khúc quành cuộc chiến. Quốc Dân Đảng chia rẽ lại cách xa căn cứ tiếp liệu tại miền trung nước Tầu, cuối cùng đất đai bị Cộng quân chiếm. Mao vừa khủng bố và dụ dỗ người dân để đưa họ ra trận tuyến gian khổ. Quốc dân đảng cũng mất lòng dân vì dùng bạo lực nên họ đã bỏ theo CS (6). Mãn châu là khởi đầu cuộc chinh phục nước Tầu của Mao Trạch Đông, Quốc dân Đảng (QDĐ) mất hơn triệu quân tại đây và bắt đầu thất thế.

Tháng 3-1947 Quốc Dân Đảng chiếm Diên An đến năm 1948 Cộng quân lại tái chiếm, từ 12- 9 tới 12-11-1948 diễn ra những trận đánh lớn, Quốc Dân Đảng ở thế thủ, dần dân xa cách Mỹ, Cộng quân chiếm được nhiều thành phố lớn Hoa Bắc như Thẩm Dương và Trường Xuân, họ chiếm Mãn châu hoàn toàn. Mao tiêu diệt được 144 sư đoàn thiện chiến của Quốc Dân Đảng. Cuối năm 1948, đầu 1949 bà Tống Mỹ Linh phu nhân Tưởng Giới Thạch sang Mỹ xin viện trợ nhưng không được họ đáp ứng. Tháng 9-1948 Cộng quân chiếm tỉnh Sơn Đông, tháng 4-1949 Cộng quân vượt sông Dương Tử chiếm Nam Kinh Thủ đô Quốc Dân Đảng Trung Hoa, họ tiến về Hoa Nam.

Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, thủ đô là Bắc Bình, nay đổi là Bắc Kinh. Cuối năm 1949 Tưởng Giới Thạch và khoảng 2 triệu người thuộc phe Quốc Dân Đảng chạy khỏi Đại lục tới đảo Đài Loan.

Dư luận Mỹ chỉ trích, lên án Tổng thống Truman đã để mất Trung Hoa vào tay Cộng Sản. Thượng nghị sĩ Joe McCarthy cho rằng việc ngăn chận CS Tầu cần phải viện trợ nhiều hơn và có lẽ phải dùng cả không lực. Người ta bắt đầu hỏi ai đã làm mất Trung Hoa? tỷ lệ ủng hộ Truman từ 70% xuống còn 35%. Bộ trưởng ngoại giao của Truman bị coi là thằng hèn, Tướng George Marshall, bộ trưởng ngoại giao tiền nhiệm bị coi là tên phản bội.

Thượng nghị sĩ Cộng Hòa Peter Beinart nói nhiều thập niên sau, Lyndon Johnson hồi đó là Thượng nghị sĩ Texas cho rằng Truman đã không tròn trách nhiệm để mất Trung Hoa, khi Johnson lên làm Tổng thống (1964) ông đã cố không đi vào vết xe đổ của quá khứ.

Nhiều người Mỹ cho rằng cuộc Cách mạng Trung Hoa chỉ là sự nối dài quyền lực của Sô Viết. Dean Rusk (phụ tá bộ trưởng ngoại giao thời Truman 1949-51, Kennedy, Johnson 1961-69) mô tả cuộc Cách mạng Trung Hoa không phải của người Tầu mà là Made in Moscow, được làm tại Mạc Tư Khoa. Nhiều người Mỹ cho rằng CS đang tiến bước mạnh và nếu không ngăn chận chúng sẽ tràn ngập thế giới. (7)

Các tài liệu về cuộc chiến vĩ đại này cho biết:

Năm 1946-1947 Tưởng có hơn 4 triệu quân chủ lực – Mao có khoảng 1 triệu 3 trăm ngàn quân chủ lực và 2 triệu du kích,
Giữa năm 1948 Tưởng còn 3 triệu rưỡi – Mao có 2 triệu 8,

Tháng 6-1949 Tưởng còn 1 triệu rưỡi – Mao có 4 triệu

Dư luận chê Quốc Dân Đảng Trung Hoa có một lực lượng hùng hậu, được Mỹ viện trợ 4 tỷ đô la quân sự nhưng lại bị Cộng quân yếu hơn đánh bại. Người ta cũng nêu lý do Quốc Dân Đảng mất lòng dân, tàn ác trong khi đối phương tuyên truyền khiến đạo quân ngày càng lớn mạnh chuyển bại thành thắng.

Nhưng cũng có tài liệu nói sau Thế chiến thứ hai, cán cân quân sự nghiêng về phía Cộng Sản Tầu. Chủ lực quân của họ tăng lên 1 triệu 2 và 2 triệu du kích. Vùng kiểm soát của họ có 19 căn cứ chiếm 1/4 lãnh thổ Trung quốc và 1/3 dân số gồm nhiều tỉnh thành quan trọng. Ngoài ra Nga Sô đã trao cho CS Tầu vũ khí lấy được của Nhật cũng như đã viện trợ cho họ nhiều vũ khí, CS cũng được Nga giao cho miền Đông Bắc Trung Hoa (8)

Quốc Dân Đảng có lợi thế về đất và sức mạnh quân sự, họ chống quân Nhật hồi Thế chiến thứ hai đã bị mất nhiều đơn vị tinh nhuệ trong những trận đánh lớn khi ấy CS Tầu ít thiệt hại, họ ít đụng chạm Nhật. Tưởng Giới Thạch cho Mãn Châu là một vị trí chiến lược quan trọng cần phải chiếm giữ và đã đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân lên đánh CS được Mỹ giúp chuyển quân bằng không vận từ miền Trung lên. QDĐ thua trận mùa thu 1948 đó là một khúc quành quan trọng trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng , QDĐ chia rẽ và vì xa trung tâm tiếp liệu ở miền Trung nên đã thảm bại (9)

Một phần vì tại Hoa Bắc, Mãn Châu địch mạnh, một phần QDĐ bị suy yếu vì Thế chiến thứ hai, sự sai lầm của Tưởng cho chuyển quân lên vùng xa xôi nên đã mất hơn một triệu quân. Địch tuyển được nhiều quân, đánh biển người, một chiến thuật man rợ và lợi hại khiến QDĐ ngày càng thua nhiều trận lớn. Tướng George Marshall nói không có dấu hiệu gì cho thấy Nga Sô viện trợ quân sự cho Mao, đó là điều ngây thơ lạc quan, khinh địch vốn dĩ của người Mỹ. Cuộc chiến Quốc – Cộng kéo dàì mấy năm, sôi động nhất là những năm 1947, 1948, 1949, hai bên đánh bằng cấp quân đoàn, lộ quân có khi lên tới hàng trăm sư đoàn. Nếu không có viện trợ của Sô Viết, Tầu cộng lấy đạn dược tiếp liệu ở đâu để đánh những trận long trời lở đất trong cuộc chiến vĩ đại này?
Sau này năm 1985 cựu Tổng thống Nixon nói (10) Sô Viết không phải gửi quân nhưng đã thống trị được 9 nước kể từ 1974, Nixon cảm phục Liên sô không đem quân qua, chỉ đứng ngoài giật giây mà đã chiếm được nhiều nước. Cuộc chiến tranh Quốc – Cộng 1946-1949 cho thấy Nga không đem quân vào, trong khi Mỹ đã đưa vào 50,000 quân mà vẫn thất bại.

Hoa Kỳ nhường Đông Âu cho Nga năm 1945 để nhờ họ đánh quân Nhật là một lỗi lầm tai hại, vừa mất Đông Âu rồi mất cả Trung Hoa. Khi Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống Nhật thì Sô Viết mới nhẩy vào ăn có. Họ chiếm Mãn Châu, tháo gỡ sạch các nhà máy đem về nước, lấy kho vũ khí lớn của Nhật giao cho Mao đưa tới khúc quành bi thảm cuộc chiến tranh Quốc – Cộng.

Người Mỹ bỏ rơi Tưởng Giới Thạch vì vai trò chống Nhật của ông đã hết, Thế chiến thứ hai kết thúc, đã đến lúc người ta vắt chanh bỏ vỏ. Họ bỏ Trung Hoa cũng vì không thấy tầm quan trọng của vấn đề, chưa nhìn ra hậu quả lớn lao ngay sau đó, nó làm lệch cán cân quân sự quốc tế của hai phe và đưa tới các cuộc chiến đẫm máu khác ngay trong năm sau.

Ngày 5-12-1949 Mao đã ra lệnh sửa chữa các sân bay, chuẩn bị đổ bộ chiếm Đài Loan. Ngày 5-1-1950 Truman tàn nhẫn tuyên bố thừa nhận Đài Loan là lãnh thổ Trung Quốc, ông ta nói sẽ không can dự vào cuộc tranh chấp, sẽ không viện trợ quân sự cho Tưởng, có nghĩa là công khai tuyên bố bỏ Đài Loan (11). Mỹ công kích Tưởng và các Tướng lãnh QDĐ bất tài, tham nhũng làm mất Trung Hoa để tự bào chữa cho dã tâm của mình.

Chiến dịch cứu nguy Điện Biên Phủ năm 1954

Giữa năm 1950 Bắc Triều Tiên được Nga Sô, Trung Cộng yểm trợ vượt vĩ tuyến 38 xâm lược Nam Triều Tiên. Sô Viết đã chiếm được Đông Âu, Trung Hoa, đã có bom nguyên tử tháng 8-1949 nhờ đánh cắp tài liệu, bây giờ Nga không ngán Mỹ, công khai đương đầu với Mỹ. Cuộc chiến bùng nổ, Tổng thống Truman đưa quân vào nam Triều Tiên can thiệp dưới danh nghĩa Liên Hiệp Quốc. Mỹ lại tuyên bố bảo vệ Đài Loan vì nay đã thấy rõ mối đe dọa bành trướng của Nga, Trung Cộng, cương quyết không nhường đất cho CS.

Đài Loan thoát chết, Mỹ bảo vệ hòn đảo này để phòng thủ cho chính họ. Vừa chiếm trọn nước Tầu, đuổi Tưởng ra Đài Loan, Trung Cộng đã trực tiếp, gián tiếp gây chiến tại Triều Tiên và Đông Dương. Cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh từ ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946 đến nay đã được 4 năm

Năm 1946 Việt Minh yếu thế rút vào hậu phương. Quân Pháp tại phía trên vĩ tuyến 16 có hơn một sư đoàn không đủ để bình định hết miền Bắc mà chỉ đủ giữ các thành phố. Từ 1947-1949 Pháp mở những cuộc hành quân tiêu diệt chủ lực quân VM nhưng họ lẩn tránh để bảo toàn lực lượng, tổng cộng khoảng 40,000 người.

Trung Cộng tiến tới biên giới Bắc Việt tháng 11-1949 là lúc chấm dứt chương thứ nhất của cuộc chiến tranh Đông Dương và nó đã quyết định số phận của người Pháp, họ không hy vọng gì chiến thắng.(12)

Việt Minh được Trung Cộng huấn luyện tại biên giới. Năm 1950 họ giúp VM thành lập năm sư đoàn chính qui: 304, 318, 312, 316, 320 và sư đoàn 351 vũ khí nặng. Tháng 10-1950 VM đánh thắng trận Cao Bắc Lạng, nó đã làm rung động cả nước Pháp, họ không ngờ VM mạnh đến thế. Pháp thiệt hại 7,000 người vừa bị giết và mất tích, VM tịch thu được rất nhiều vũ khí có thể trang bị cho một sư đoàn (13)

Cuối năm 1950 Ba Lê cử Tướng de Lattre sang làm Tư Lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương, viên dũng tướng này chuyển bại thành thắng đánh bại VM và các cố vấn Tầu nhiều trận trong năm 1951. De Lattre chết đầu năm 1952, Tướng Salan lên thay tình hình quân sự ngày một xấu, VM ngày càng mạnh.

Đầu thập niên 50 Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp nhưng thực sự giúp từ 1952, trong khi đó họ còn phải tham chiến tại Triều Tiên. Henri Navarre cựu Tư Lệnh quân viễn chinh Đông Dương nói:

“Qua kinh nghiệm đau thương Trung Hoa và nhất là Triều Tiên, người Mỹ mới nhận ra mối nguy Cộng Sản bành trướng tại Đông Nam Á, nhưng họ biết trễ mất 5 năm”
(14)

Đúng ra Hoa Kỳ phải thức tỉnh sớm hơn là để nước đến chân mới nhẩy, họ đã lạc quan tin tưởng Staline.

Salan giữ chức Tư lệnh một năm rưỡi thì về Pháp, tháng 5-1953 Tướng Henri Navarre được cử sang thay ở thời điểm mà ông bi quan cho là Đông Dương đang từ từ mất về tay CS.

Cuối tháng 7-1953 Triều Tiên đình chiến, Trung Cộng cung cấp nhiều viện trợ cho VM hơn trước, Mỹ cũng tăng viện trợ cho Pháp, năm 1954 Mỹ đã gánh 78% chiến phí (15). Cuối năm 1953 Navarre được lệnh bảo vệ Thượng Lào (16) và ông đã chọn thung lũng Điện Biên Phủ cho đóng đồn lũy để chận đường chuyển quân của địch sang Lào và mở mặt trận lớn tại đây để VM khỏi đánh Hà nội và châu thổ sông Hồng. Nay quân lưu động VM rất mạnh khoảng 9 sư đoàn, gấp ba quân lưu động Pháp gồm 7 Liên đoàn lư động và 8 tiểu đoàn nhẩy dù (17).

Navarre cũng dùng kế dụ địch giết địch, nay VM ngày càng mạnh nên phải đưa chúng vào bẫy giết một mẻ cho chết bớt đi nhưng mấy ai học được chữ ngờ: VM quá đông, hỏa lực địch quá mạnh (18), ông ta đã đưa quân vào miệng cọp.
ĐBP là một khu lòng chảo có nhiều đồi núi bao quanh, một cánh đồng dài 16km, rộng 9 km gần biên giới Lào – Việt. Trận ĐBP có tầm vóc lớn, toàn bộ chiến trường Đông Dương. Căn cứ ĐBP được xây dựng kiên cố nhất Đông Dương hồi đó, phía Bắc có hai tiền đồn với hai tiểu đoàn trấn giữ, khu Trung ương đóng trên 5 ngọn đồi gồm 8 tiểu đoàn, phía Nam cứ điểm Isabelle 2 tiểu đoàn.

Việt Minh đưa gần hết các sư đoàn chính qui của họ vào trận đánh tổng cộng 63,000 người (19), Pháp có 12 tiểu đoàn sau cho nhẩy dù thêm 5 tiểu đoàn tổng cộng khoảng 16,000 người. Ngày giao chiến đầu tiên 13-3-1954 căn cứ Béatrice sụp đổ trước trận pháo kích dữ dội của 40 khẩu pháo VM (20), hôm sau căn cứ Gabrielle cũng bị đánh sập. Tình hình quân sự ĐBP ngày một xấu, phi trường bị pháo kích hư hại, sau ngày 26-3-1954, khu lòng chảo chỉ còn tiếp tế tăng viện bằng thả dù quân lính cũng như lương thực, đạn dược.

Do sự sai lầm của Navarre đã chọn địa điểm xa xôi, hiểm trở để lập căn cứ chỉ liên lạc với hậu cần bằng máy bay không có đường bộ trong khi không quân Pháp quá yếu, toàn chiến trường Đông Dương chỉ có khoàng 200 máy bay (21). Tiếp tế bằng thả dù rất khó khăn vì bị phòng không địch chế ngự, nhiều kiện hàng thực phẩm, đạn dược đã lọt sang khu vực VM, kể từ sau ngày 26-3 số phận của Điện Biên Phủ coi như đã được quyết định rồi.

Pháp cũng như Mỹ đều đã thấy nguy cơ ĐBP sẽ thất thủ, giữa năm 1953 Trung Cộng ký đình chiến Triều Tiên rồi quay về giúp Việt Minh đánh Pháp, viện trợ quân sự của họ tăng vọt lên. Từ cuối tháng 3, Tòa Bạch Ốc đã nghiên cứu kế hoạch cứu nguy ĐBP bằng oanh tạc ồ ạt với khoảng gần 100 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi chiếc mang 9 tấn bom cùng với 400 máy bay chiến đấu hộ tống. Kế hoạch này do Đô đốc Arthur Radford, Tham mưu trưởng liên quân đề nghị được Tổng thống Eisenhower, Phó Tổng thống Nixon, Bộ trưởng ngoại giao Foster Dulles ủng hộ, chấp thuận.

TT Eisenhower muốn hỏi ý kiến Quốc hội vì rút kinh nghiệm chính phủ Truman tham chiến tại Triều Tiên không hỏi Quốc hội đã bị chỉ trích. Kế hoạch này đã được Giáo sư, tác giả Bernard Fall và nhà nghiên cứu Philippe Devillers tường thuật lại thập niên 60. Mấy năm gần đây, Giáo sư Fredrik Logevall và ký giả Ted Morgan cũng nghiên cứu lại đề tài này trong hai tác phẩm của họ (22). Xin sơ lược như sau:

Ngày thứ bẩy 3-4-1954, tám vị Trưởng khối đại diện Quốc hội được chính phủ mời tới Bộ ngoại giao để hội thảo bí mật với Dulles, Radford, một số cố vấn. Foster Dulles nói Tổng thống Eisenhower yêu cầu mời họp và Tổng thống muốn được Quốc hội thông qua một quyết định cho phép Hành pháp xử dụng không quân, hải quân tại Đông Dương. Đô đốc Radford nói về tình trạng nguy khốn của ĐBP, còn Dulles cảnh giác nếu Đông Dương mất Đông Nam Á sẽ lọt vào tay CS và rồi Mỹ sẽ phải rút về Hawaii nếu Mỹ không giúp Pháp và chính phủ địa phương (QGVN) và sẽ khiến Pháp từ bỏ cuộc chiến.

Đô đốc Radford nói về kế hoạch “Kên kên” (Vulture): Gồm hai Hàng không mẫu hạm Essex và Boxer, có tăng cường bởi không lực tại phi trường Clark Phi Luật Tân. Theo tin tức Pháp tổng cộng có 60 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi cái mang 9 tấn bom, khoảng 450 máy bay chiến đấu hộ tống bảo vệ. Theo nguồn tin Mỹ tổng cộng 98 pháo đài bay B-29, mỗi cái mang 14 tấn bom gồm hai cánh ở Okinawa và một tại Clark field, có khoảng 450 máy bay chiến đấu theo hộ tống để phòng ngừa Mig Trung Cộng nếu có.

Cuộc tranh luận sôi nổi, ông Trưởng khối thiểu số Thượng viện Lyndon B. Johnson đòi hỏi phải có liên minh các nước. Cả tám vị dân cử cho Hành pháp biết Quốc hội ủng hộ chiến dịch “Kên Kên” dưới ba điều kiện.

1- Lập liên minh các nước tự do ở Đông nam Á, Phi LuậtTân và Liên Hiệp Anh.
2- Pháp phải nhanh trả độc lập cho các nước Đông Dương
3- Pháp phải ở lại tiếp tục chiến đấu.

Những lý do thực tiễn đó đã hủy hoại mọi cơ hội cứu ĐBP vì không còn đủ thời giờ đi tìm đồng minh thành lập “Mặt trận thống nhất” để được chấp thuận kế hoạch “Kên Kên” trong khi ĐBP ngày càng nguy ngập, Trung Cộng tăng cường viện trợ pháo binh và cao xạ cho VM.

Ba Lê chính thức xin Mỹ dùng không quân oanh tạc ồ ạt cứu ĐBP trong khoảng thời gian này. Cùng ngày Tổng thống Eisenhower viết thư dài cho Churchill nói ý niệm về một mặt trận thống nhất. Người Anh kinh ngạc khi nhận thư Eisenhower, họ chống lại bất cứ hành động nào có thể phương hại Hội nghị Genève sắp nhóm họp. Ba ngày sau Churchill trả lời thư, ông nói sẽ bàn với Dulles tại London ngày 12-4.

Người Pháp chán nản coi kế hoạch Kên Kên như bỏ, họ lên kế hoạch cứu quân nhân còn trong trại.

Khi Dulles đang bàn với Pháp về kế hoạch Kên Kên tại Paris, Tướng Partridge, Tư lệnh không quân Mỹ tại Viễn đông tới Sài Gòn, ông tiếp xúc với Cao ủy Maurice Dejean và Tướng Tư Lệnh Navarre khiến họ vẫn hy vọng vào sự can thiệp của Mỹ.
Dulles ở Paris ngày 23-4, Hội nghị Genève bắt đầu ngày 26-4, Pháp chỉ hy vọng vào ngưng bắn, họ năn nỉ Dulles thực hiện kế hoạch “Kên Kên”. Tổng thống Eisenhower cho Dulles biết sẽ không có oanh tạc quanh ĐBP nếu không thỏa mãn yêu cầu của các vị đại diện Quốc hội ngày 3-4. Không quân Mỹ chỉ hành động trong khuôn khổ lực lượng đồng minh sau khi họ bàn luận và biểu quyết.

Chiều ngày 23-4 đã xóa sổ vấn đề ĐBP mà người Pháp không biết. ngày 24-4 Eden tới Paris họp về NATO, đô đốc Radford thuyết phục ông chỉ cần ủng hộ tượng trưng. Eden vẫn cứng rắn và nói tại cuộc chiến Triều Tiên, mới đầu Mỹ oanh tạc sau Mỹ cũng đổ bộ quân vào, sau đó Mỹ lại thúc giục các nước đồng minh gửi quân vào. Ngày chủ nhật 25-4, Eden về Luân Đôn dự phiên họp nội các giải quyết một lần cho xong.

Tất cả nỗ lực để cứu ĐBP bằng không quân sụp đổ cuối tuần này, ngày 24-4 Dulles tại tòa Đại sứ Mỹ Ba Lê gửi văn thư cho Bidault (Bộ trưởng ngoại giao Pháp) nói (năm 1966 mới được tiết lộ)

“Một quyết định chiến tranh phải có phép của Quốc hội (US) mới thực hiện được”

Cuối thư nói ĐBP không phải là quá quan trọng, không cần cứu bằng không quân, ta đã gây thiệt hại nặng cho địch. Bidault gửi thư trả lời cùng ngày nói lực lượng địch tập trung đông đảo tại ĐBP sẽ khiến cuộc oanh tạc không những cứu được ĐBP mà còn thay đổi toàn bộ cán cân cuộc chiến.

Còn một nỗ lực cuối cùng, Pháp cử người gặp thủ tướng Chrchill để thuyết phục ông ta tại Luân Đôn ngày 27-4. Chrchill tiếp Đại sứ Pháp René Massigli, ông vẫn cứng rắn từ chối nói.

“Chúng tôi đã chịu mất Singapore, Hong Kong, Tobruk, người Pháp sẽ phải chịu thua tại ĐBP”

Chiến dịch Kên Kên chết lịm dần, Thiếu tướng Caldera, Tư lệnh không đoàn B-29 tại phi trường Clark Phi luật Tân đi thăm Đông Dương một lần nữa ngày 26-4, vẫn chuẩn bị oanh tạc ĐBP một khi có lệnh. Tất cả gồm 80 oanh tạc cơ tấn công liên tiếp quanh ĐBP và kho hậu cần tại Tuần Giao với phi hành đoàn hỗn hợp Pháp-Mỹ. Một sĩ quan cao cấp không quân Pháp đã từ Sài Gòn qua Clark Field chuẩn bị chiến dịch, có lẽ tình thế chưa tuyệt vọng.

Màn bi kịch cuối cùng là cuộc họp của Tổng Thống Eisenhower, Đô đốc Radford, các viên chức cao cấp ngày 29-4 tại Hoa Thịnh Đốn, họ duyệt lại toàn bộ tình hình một lần nữa. Trong số các nhà quân sự chỉ có Đô đốc Radford vẫn ủng hộ hoàn toàn dù là can thiệp đơn phương (không cần Quốc hội) của Mỹ để cứu ĐBP khỏi sụp đổ. Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Carney và Tướng Twining, TMT không quân không nhiệt tâm với kế hoạch này, Tướng Ridway, TMT lục quân Mỹ chống đối hoàn toàn kế hoạch. Cuối cùng TT Eisenhower quyết định không giúp Pháp, một tuần sau, ngày 7-5-1954 ĐBP hoàn toàn thất thủ, hơn mười ngàn tù binh bị bắt mà phần lớn đã chết trong trai giam.

Dù Anh có đồng ý tham gia, ủng hộ hay không, Eisenhower vẫn có toàn quyền quyết định (không cần Quốc hội), mười hai năm sau ông cho biết không muốn cho Hoa Kỳ sa vào cuộc chiến tốn kém. Nếu chiến đấu một mình sẽ làm cho Mỹ cạn kiệt tài nguyên, đánh con rắn Trung Cộng phải đánh dập đầu chứ không đánh cái đuôi nó.

Như thế quyết định không cứu Pháp ở ĐBP chính là của Mỹ, của cấp thượng đỉnh: Các vị Trưởng khối dân cử, Bộ Tham mưu liên quân và Tổng thống, nên khi quyết định đã xong không thể đổ lỗi cho Anh (23), các vị đại diện Quốc hội đòi hỏi.
-Trước hết thành lập liên minh các nước
- Pháp trả độc lập cho các nước Đông Dương
-Pháp phải tiếp tục cuộc chiến (24)

Ba điều kiện của tám vị đại diện Lập pháp Mỹ đưa ra đòi thành lập liên minh các nước chống CS tại ĐNÁ thực hiện chiến lược be bờ ngăn chận CS để bảo vệ an ninh cho Mỹ. Đòi Pháp phải trả độc lập cho Đông Dương sau đó ở lại chiến đấu cho quyền lợi của Mỹ. Ngoại trưởng Dulles đi vận động suốt tháng 4-1954 (25), ông ta đi hàng trăm dặm viếng thủ đô các nước không CS tại châu Âu, châu Á và cả Phi châu, Nam Mỹ. Trung bình Dulles 200 dặm một ngày để thành lập Liên minh chống Cộng nhưng không có kết quả, Anh, Pháp đều không tham gia, họ không có nhiều quyền lợi tại đông nam Á, đó là chuyện riêng của Mỹ.

Việc Hoa Kỳ không thực hiện được chiến dịch Kên Kên đã ám ảnh theo đuổi chính phủ Eisenhower một cách kỳ lạ ngay cả sau khi ngoại trưởng Dulles qua đời năm 1959 (26). Người ta hối tiếc đã để Việt Minh, phía CS thắng lớn đưa tới khúc quành lịch sử.

Bernard Fall nói

“Trong trường hợp này, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, họ đã bỏ rơi một đồng minh trong khi nước này (Pháp) tham gia một cuộc chiến mà Mỹ đã khuyến khích người ta chiến đấu, nó đi xa hơn mục tiêu chính trị của nước này (Pháp) và nhất là vượt quá khả năng quân sự của họ. Ở đây ĐBP không phải chỉ là thất trận của Pháp mà cả của Mỹ. (27)

Từ năm 1952, 1953, Pháp đã mệt mỏi vì cuộc chiến Đông Dương, chêt người tốn của, Mỹ đã tăng viện trợ cho Pháp những năm 1953, 1954 để khuyến khích họ tiêp tục chiến đấu ngăn chận CS tại ĐNA có lợi cho Mỹ hơn là cho Pháp. Và rồi cuối cùng Mỹ bỏ rơi họ vì nhiều tính toán nào sợ sa lầy, mất phiếu, sợ Trung Cộng đưa quân vào…

ĐBP đã khiến các giới chức quân sự chính trị lưu ý khi Tướng De Gaulle xác nhận rằng trong cuộc khủng hoảng mà không liên hệ trực tiếp nước Mỹ, ta không thể tin tưởng họ được (28).

Tính già hóa non, người Mỹ bỏ Đông Âu dẫn tới mất Trung Hoa, mất nước Tầu đưa tới ĐBP, bỏ rơi Pháp đưa tới chiến tranh VN

Cuộc chiến Việt Nam

Bernard Fall nhận định ĐBP đóng vai trò chiến lược quan trọng đối với Hoa Kỳ, nó cũng là thời điểm Quân đội CSVN thành hình để trở thành lực lượng CS tại ĐNÁ. Sau này tình thế đã khiên Mỹ phải can thiệp vào miền nam VN những năm 1965, 1966…mà họ đã tránh hồi 1954, già néo thì đứt giây. Hậu quả mà Mỹ đã phải gánh chịu vì tránh can thiệp ĐBP mà họ sợ sa lầy năm 1954 để rồi sau đó mười năm phải đối đầu một cuộc chiến khác đẫm máu hơn (29)

Hai cuốn sách Mỹ mới viết gần đây cũng nhận định ĐBP thất thủ đã khiến Mỹ phải tham chiến tại VN. Fredrik Logevall Giáo sư lịch sử , tác giả cuốn “Tàn Lửa Của Cuộc Chiến Tranh, Sự Sụp Đổ Của Đế Quốc Pháp Và Khởi Đầu Cuộc Chiến Của Người Mỹ tại Việt Nam, dầy 840 trang, in năm 2012 (Embers of War, The Fall of An Empire And The Making Of America’s Vietnam). Tác giả nói ĐBP đã làm sụp đổ đế quốc Pháp và khiến người Mỹ tham dự vào cuộc chiến VN.

Ký giả Ted Morgan viết “Thung Lũng Tử Thần,Thảm Kịch Điện Biên Phủ Đã Đưa Mỹ Vào Cuộc Chiến Việt Nam, dầy 722 trang, in năm 2010” (The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War). Tác giả cũng muốn nói Mỹ không anh tạc cứu ĐBP nên đã phải đối đầu với cuộc chiến VN.

Năm 1954 Thượng nghị sĩ Johnson, trưởng khối thiểu số đã đưa điều kiện đòi hỏi Eisenhower phải lập liên minh các nước, nó được tám vị dân cử đồng ý và đã cản trở hành pháp thực hiện Kên kên.

Bất ngờ cuối thập niên 50 Hà Nội phát động chiến tranh xâm lược miền nam VN. Dưới thời Kennedy 1961, 62, 63 cuộc chiến chưa mở rộng nhiều. Lyndon B. Johnson lên thay Kennedy bị ám sát cuối 1963 và đắc cử TT 1964. Rút kinh nghiệm biến cố do chính mình gây ra tháng 4-1954, nay 1964, khi làm Tổng thống ông đã vận động được Quốc hội ủng hộ Hành pháp ra Nghị quyết tháng 8-1964 dành cho Tổng thống quyền hạn can thiệp vào miền nam VN. Những năm 1964, 1965 lợi dụng tình hình chính trị miền nam xáo trộn, Cộng quân gia tăng xâm nhập quân chính qui và bắt đầu đánh lớn, miền nam có nguy cơ mất về tay CS

Tháng 2-1965 qua thăm dò của Harris poll, 78% người dân ủng hộ cuộc chiến chống CS tại đông nam Á, lưỡng viện Quốc hội ủng hộ Chính phủ, thuyết Domino được tin tưởng mạnh

Đầu tháng 3-1965, sau khi đắc cử Tổng thống, Johnson cho oanh tạc giới hạn Bắc Việt mục đích ngăn chận xâm nhập và vận chuyển tiếp liệu của địch vào miền nam để khiến họ phải từ bỏ cuộc chiến ngồi vào bản hội nghị. Cuộc oanh tạc không có kết quả nên Johnson và các cố vấn phải thay đổi kế hoạch bằng đưa thêm quân vào VNCH để có thể thắng bằng cuộc chiến dưới đất (30)

Tổng thống Johnson đã có một lựa chọn định mệnh, đưa Hoa Kỳ đi vào con đường can thiệp vào VN ồ ạt (31). Trong giai đoạn định mệnh này Johnson đã oanh tạc Bắc Việt và đưa quân vào VNCH từ 23,000 ngươi (1964) lên 175,000 (1965). Trung bình mỗi năm tăng quân 100,000 cho tới năm 1968 lên tới đỉnh cao 536,100 người

Giữa năm 1965 VNCH có nguy cơ sụp đổ trong vòng 6 tháng, BV tấn công liên tục, tình hình quân sự ngày càng xấu (32). Thực trạng nguy kịch của miền nam VN khiến Johnson quyết định đưa quân vào. Những năm 1964, 1965 tỷ lệ ủng hộ của người dân và Quốc hội rất cao người ta tin tưởng vào thuyết Donino và chính sách be bờ ngăn chận CS tại ĐNA. Rút kinh nghiệm năm 1950 TT Truman để mất Trung Hoa, Johnson quyết không để VN lọt vào tay CS.

Chính sách oanh tạc và quân sự của Johnson có mục đích đe dọa địch để chúng phải vào bàn hội nghị nhưng ông đã thất bại, sau này TT Nixon nhận xét

“Ta cần phải biết rằng không thể mơn trớn dụ dỗ Hồ Chí Minh từ bỏ cuộc chiến. Chúng ta phải bắt buộc ông ta từ bỏ nó” (33)

Johnson đã sai lầm 1954 nay lại sai lầm thêm một lần nữa, ông ta chủ quan khinh địch, Hà Nội đã có khối CS quốc tế Nga, Trung Cộng, Đông Âu đứng sau lưng.

Các chiến dịch quân sự tại miền nam VN tuy có kết quả cụ thể, giết được nhiều Việt Cộng, từ đầu 1965 cho tới cưối 1967, trong vòng ba năm địch bị thiệt hại 344,000 quân (34) nhưng chúng vẫn tiếp tục xâm nhập. Cuối năm 1968 trả lời phỏng vấn nữ ký giả Ý Fallaci, Võ Nguyên Giáp cho biết đã mất hơn nửa triệu quân.

Cuộc chiến tranh hạn chế của Johnson và Bộ trưởng quốc phòng McNamara thất bại. Sau này tháng 4-1969 Tướng Westmoreland, cựu Tư lệnh Mỹ tại VN và Đô đốc Grant Sharp, Cựu Tư lệnhThái Bình Dương đã công bố bản phúc trình công kích chính sách chiến tranh và oanh tạc hạn chế của Johnson-McNamara, không cho đánh qua hậu cần địch Mên, Lào… đã đưa tới thất bại

CSBV đưa 84,000 quân vào trận tổng tấn công Tết Mậu Thân đầu năm 1968, tổng cộng 58, 370 tên bị giết, 9,400 người bị bắt làm tù binh. Mặc dù thảm bại, nhưng Hà Nội đã thắng lớn về chính trị, phong trào phản chiến tại Mỹ lên rất cao, người dân quyết tâm đòi hòa bình, vào lúc này số binh sỉ Mỹ tử trận tại VN đã lên gần 20,000 người. Miền nam VN thắng một trận lớn nhưng thua cuộc chiến.

Năm 1965 tỷ lệ ủng hộ là 61%, cuối 1966 còn 51%, cuối 1967 còn 48%, tháng 2-1968 còn 41%, cuối 1968 chỉ còn 35% (35).
Sau trận Tết Mậu Thân, TT Johnson đề nghị Hà Nội đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh, CSBV nhận lời. Hòa đàm Paris mở đầu từ 10-5-1968.

Johnson-McNamara thất bại không thắng được BV khiến cho cuộc chiến tại đất nhà lên cao, hai nhà chính trị đã phạm nhiều sai lầm trong việc lãnh đạo cuộc chiến mà đáng lý ra phải Việt Nam hóa chiến tranh từ 1965.

Năm 1969, Nixon đắc cử Tổng thống thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, cho rút quân về nước, phong trào phản chiến lên cao mạnh hơn trước rất nhiều. Năm 1968 quân đội VNCH có 820,000 người, năm 1969 lên 897,000 người, năm 1970 lên 968.000, năm 1971 lên 1,046,250, năm 1973 lên 1,110,000.

Năm 1969 Mỹ rút 61,000 người, năm 1970 rút 141,000 người, năm 1971 rút 178,000 người, năm 1972 chỉ còn 24,000 người, năm sau còn 50 người. (36). Trận Mậu Thân 1968 đánh dấu ý định rút bỏ Đông Dương của người Mỹ, năm 1969 họ rút quân dần dần thỏa mãn nguyện vọng người dân.

VNCH được Hoa Kỳ yểm trợ đã mở cuộc hành quân sang Miên ngày 13-4-1970 để phá hủy các căn cứ hậu cần an toàn của BV, nơi xuất phát những cuộc tấn công VNCH và để giúp chính phủ Miên chống lại áp lực của CS.

Cuộc hành quân sang Kampuchia từ 29-4-1970 tới 22 -7-1970 đã đánh bại và ruồng bố được khoảng 40,000 quân CS, giết trên 10 ngàn cán binh,

Kế đó cuộc hành quân Lam Sơn tại Hạ Lào bắt đầu ngày 8-2-1971, BV phản công mạnh. Ông Thiệu lệnh cho các Tướng lãnh ngưng tiến quân. Giữa tháng ba, một thời gian ngắn sau khi quân đội VNCH tới Tchpone, họ rút lui về phía nam theo đường 914 bị Cộng quân truy kích thiệt hại nhiều. Cho tới 25-3-1972 cuộc hành quân coi như chấm dứt, tổng cộng chỉ kéo dài 45 ngày. Mặc dù không đạt kết quả nhưng cũng gây nhiều thiệt hại nặng cho CSBV.

Kissinger đàm phán đi đêm với BV tại Ba Lê, cuộc hội nghị kéo dài mấy năm. Hà Nội thương thuyết rất dai dẳng, đây là cuộc hòa đàm bẩn thỉu nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới. Hà Nội không từ một mánh khóe hạ tiện nào để đạt thắng lợi tại bàn Hội nghị. Tháng 3-1972, lợi dụng khi quân đội Mỹ rút về gần hết, Hà Nội mở trận tổng tấn công miền nam VN với trên mười sư đoàn và nhiều xe tăng, đại bác. Tháng 2-1972 Nixon sang Tầu bắt tay Mao Trạch Đông, cái bắt tay thay đổi nhiều thập niên. Tháng 5-1972 Nixon họp thượng dỉnh tại Mạc Tư Khoa, hai bên thỏa thuận tài giảm binh bị. Trong năm 1972 ông ta vừa đánh bại CSBV, bắt tay Trung Cộng, hòa với Nga.

Trong tháng 5 -1972 miền nam đã thắng thế BV, TT Nixon oanh tạc Cộng quân dữ dội bằng B-52 để yểm trợ VNCH, ông nói chúng ta đã có khuynh hướng dọa cho dữ nhưng làm ít, đó là điểm yếu của chính phủ Johnson

(I think we have too much of a tendency to talk big and act little, I wrote “This was certainy the weakness of the Johnson administration).
(37)

Nixon là người cứng rắn dám dùng sức mạnh tối đa khi cần nhưng cũng không cứu vãn nổi sự sụp đổ của miền nam VN về chính trị. CSBV bị thiệt hại nặng trong trận muà hè đỏ lửa này, tháng 9/1972 có vào khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh CS bị giết, khoảng 700 chiến xa bị phá hủy (38). Sau trận thảm bại 1972, Hà Nội chịu nhượng bộ tại bàn hội nghị: không đòi TT Thiệu từ chức, không đòi miền nam trung lập, VNCH chống đối hòa đàm. Bầu cử Tổng thống 7/11/1972 về cử tri đoàn Nixon thắng 49 tiểu bang, 520 điểm, thắng 47 triệu phiếu phổ phông, 60.7% số phiếu bầu, hơn McGovern 18 triệu phiếu, trận thắng cử lớn nhất từ xưa tới nay. Nixon đã đem quân về nước, lấy lại tù binh, không bỏ đồng minh, hòa với Nga, bang giao với Trung Cộng

Trước sự thúc ép của Quốc hội, Nixon ký kết Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Cộng quân không phải rút về Bắc, miền nam thắng mà như thua. Trước khi ký Hiệp định, Lập pháp hứa với Hành pháp sẽ tiếp tục viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH nhưng khi đã đem quân về nước, họ trở mặt cắt giảm dần dần.

Sau ngày ngưng bắn Hà Nội hối hả đưa khoảng 18,000 xe vận tải và 70,000 người xâm nhập miền Nam . Quốc hội Mỹ bắt đầu soạn tu chính án cấm xử dụng mọi ngân khoản cho các cuộc oanh tạc tại Đông Dương. Nixon ký thành luật ngày 30-6-1973, có hiệu lực ngày 15-8-1973. Tu chính án xác định từ nay không còn ngân khoản nào dùng trực tiếp và gián tiếp cho các hoạt động quân sự của My tại Miên, Lào, Bắc và Nam VN hay ngoài khơi Mên, Lào, Bắc, Nam VN.

Nixon không còn thẩm quyền giữ hòa bình cho VN, Quốc hội đã cho phép lãnh đạo Hà Nội tự do thao túng tại miền Nam VN. Quốc hội tiếp tục hạn chế quyền Tổng thống về quân sự đó là Dự luật War Power act: Tổng thống phải thảo luận với Quốc hội trước khi tham chiến. Ngày 7-11-1973 hình thành luật hạn chế quyền Tổng thống.

Sau ngày ngưng bắn, Hà Nội chuyển vũ khí đạn dược vào Nam, Quốc hội cắt xén viện trợ cho VNCH liên tục, ngân khoản do Nixon đề nghị đã bị Quốc hội cắt giảm từ hai tỷ mốt (2,1 tỷ) tài khoá 1973 xuống một tỷ tư (1,4 tỷ) tài khoá 1974 và 700 triệu tài khoá 1975. Trong khi ấy BV vẫn được CS quốc tế viện trợ dồi dào. Khi kết thúc Hiệp định Paris, Nixon đã đề ra hai kế hoạch bảo đảm hòa bình: Trước hết duy trì sự đe dọa trừng trị của Mỹ đối với một cuộc xâm lăng từ BV và sau đó là viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH để cân bằng lực lượng nhưng chung cục cả hai điều kiện trên đã bị Quốc hội phá hỏng hết (39)
Ngày 9/8/1974 Nixon từ chức vì vụ Watergate, Phó TT Gerald Ford lên thay, ông tân Tổng thống này chỉ là bù nhìn khi đảng đối lập Dân chủ nắm ưu thế hoàn toàn tại Quốc hội: 67% Hạ viện và 60% Thượng viện.

Quốc hội Dân chủ kiên quyết chống chiến tranh VN, trả thù cho thất bại nhục nhã trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1972 bằng cắt giảm viện trợ quân sự miền nam VN như trên. Hậu quả của sự cắt giảm tàn nhẫn này là tháng 4-1975, pháo binh VNCH hết đạn, máy bay hết săng, nhiên liệu…

Quốc hội lợi dụng thành quả của Hành pháp Nixon: Hòa với Nga, bắt tay Trung Cộng để bỏ Đông Dương, nay thiên hạ thái bình, thuyết Domino không còn ý nghĩa, CS không còn là mối nguy đe dọa ĐNA.

Nhờ xương máu của hàng triệu quân dân VNCH mà họ đã hòa được với Nga, Tầu khi cả hai phía đã cùng mệt mỏi. Nay miếng xương Đông Dương không còn ý nghĩa.

Từ thập niên 80 Hoa Kỳ và các nước Tây phương đầu tư vào Hoa Lục hy vọng nâng cao đời sống của họ để rồi từ từ chế độ Cộng sản sẽ phai mầu hóa ra hiền lành không còn hiếu chiến như xưa. Đầu thập niên 90 chế độ CS sụp đổ tại Liên Xô, Đông Âu khiến người Mỹ càng tin tưởng họ đang được hưởng thái bình đời vua Nghiêu Thuấn.

Mấy chục năm trôi qua, người Mỹ bỏ Đông Dương vì tin rằng đã hòa được với CS quốc tế, niềm tin nay đã thành ảo tưởng. Trung Cộng càng giầu, kinh tế phồn thịnh càng hung dữ hơn trước.

Nay ngân sách quốc phòng Trung Cộng (40) tăng lên 188 tỷ Mỹ kim gần bằng 1/3 của Mỹ (640 tỷ).Trong vòng 10 năm từ 2002 tới 2012 chi phí quốc phòng Trung Cộng tăng lên hơn gấp năm lần (41). Một hai thập niên trước họ chưa giầu mạnh ra vẻ khiêm tốn nay ra mặt thách thức Mỹ tại biển đông.

Nga từ bỏ chế độ CS, dân số chỉ còn 145 triệu nhưng cũng tăng cường ngân sách quốc phòng lên 88 tỷ Mỹ kim đứng thứ ba trên thế giới, họ trở lại chính sách bành trướng xa xưa. Tình hình Ukraine 2014 căng thẳng do Nga gây hấn can thiệp, Tổng thống Putin sáp nhập những tỉnh biên giới và thách thức Mỹ, Tây Âu. Trong cơn nóng giận ông ta hăm dọa: Nga là nước duy nhất trên thế giới có khả năng biến nước Mỹ thành tro bụi.

Tác giả Ted Morgan trong “The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War”, trang 411 nói về Điện Biên Phủ

“Tháng 3 và tháng 4 năm 1954 Mao tăng viện trợ cho VM 4 tiểu đoàn phòng không, VM được huấn luyện tại Trung Cộng với súng cao xạ 37 ly và đã được đưa tới ĐBP…..
. . . . Mao cho huấn luyện thêm hai sư đoàn pháo và hai tiểu đoàn công binh cho VM. . .
Về việc cố vấn và viện trợ Mao có ưu thế hơn Mỹ nhiều, ông ta không phải vận động quốc hội như Mỹ, Mao thảo lệnh và được thi hành ngay, Việt Minh không cãi lại ý kiến của Trung Cộng trong khi Pháp luôn than phiền Mỹ can dự vào”.

Trong khi Mao, Staline ban lệnh và được thi hành ngay, Tổng thống Mỹ phải thăm dò ý kiến người dân, tham khảo Quốc hội, ngoài ra Anh-Pháp-Mỹ chia rẽ nhau vì quyền lợi, như thế không thể thắng được cuộc chiến.

Tại một đất nước mà chính phủ không có thực quyền, đảng nọ phá đảng kia, Quốc hội lộng hành, người dân yêu sách… thì các đồng minh của họ bị chết oan vì bức tử là điều không có gì khó hiểu.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

——————————————————-

Chú thích
(1) America in the seconde world war, US history.org
(2) Histoire de La Seconde Guerre Mondiale
(3) Constantin Virgil Gheorghiu, sinh 15-9-1916 tại Moldavie, Lỗ Ma Ni mất 22-6-1992 tại Paris . Tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Giờ Thứ Hai Mươi Lăm, La Vingt-cinquième heure
(4) America in the seconde world war, US history.org
(5) Quốc Cộng Đàm Phán, phim lịch sử Hồng Kông quay thập niên 80 kể lại giai đoạn này
(6) La Guerre civil en chine, Geographie.blog le monde.fr
(7) Communists Win China ’s War, Macrohistoory and World Time Line, Fsmitha.com
(8) Chinese civil war, Wikipedia
(9) Chinese Communist Revolution, Wikipedia
10) Richard Nixon, No More Vietnams trang 214
(11) Trần Vũ, Vì Sao Trung Quốc Không Giải Phóng Được Đài Loan? trang mạng Đời Sống Và Pháp Luật 2013
(12) Bernard Fall, Đường Phố Buồn Thiu (Street Without Joy) trang 28, 32
(13) Quân Sử 4, Quân lực VNCH Trong Giai Đoạn Thành Hình, Bộ TTM
VNCH trang 124, Street Without Joy trang 33
(14) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 27
(15) The Pentagon Papers Volum 1, Chapter 2
(16) Agonie de l’Indochine 188-200
(17) Sách kể trên trang 47
(18) Trang Vietnam.net ngày 6-5-2014 bài 8: “7 Tướng pháp và 1 Điện Biên” cho biết tỷ số quân VM 3.3 Pháp 1, pháo binh VM 3.1 Pháp 1
(19) Quân sử 4 trang 160.
(20) Trang Vietnam.net ngày 6-5-2014
(21) Agonie de l’Indochine trang 230
(22) Bernard Fall: Hell In A Very Small Place, The Siege of Dien Bien Phu ,
Philippe Devillers, End of a War, Indochina 1954
Fredrik Logevall: Embers Of War, The Fall Of An Empire And The Making of America’s Vietnam , Ted Morgan: The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam
(23) Hell In A Very Small Place trang 312
(24) Embers of War, The Fall of An Empire And The Making Of America’s Vietnam trang 469; Hell In A Very Small Place trang 301
(25) Embers of war trang 481
(26) Hell In A Very Small Place trang 313
(27) Sách kể trên trang 461
(28) Sách kể trên trang 461
(29) Sách kể trên trang 462
(30) Stanley Karnow. Vietnam A History trang 435
(31) McNamara, In Retrospect, The Tragedy and Lessons of Vietnam trang 169
(32) Ngô Quang Trưởng, Trận Chiến Trong Mùa Lễ Phục Sinh 1972, trang 16, 17; Stanley Karnow, Vietnam A History trang 440, 441
(33) Richard Nixon, No More Vietnams trang 82
(34) Sách kể trên trang 86
(35) Opposition to the US involvement in the Vietnam war, Wikipedia
(36) Vietnam war Allied troop Levels 1960-73, americanwarlibrary.com
(37) No More Vietnams trang 148
(38) Nguyễn đức Phương, Chiến TranhViệt Nam ToànTập trang 587
(39) No More Vietnams trang 189
(40) List of countries by military expenditures, Wikipedia
(41) Military budget of the People’s Republic of China , Wikipedia

37 Phản hồi cho “Hoa Kỳ và vấn đề từ bỏ đồng minh”

  1. Người Buôn Mộng says:

    Khi Liên Sô rút khỏi A Phú Hãn sau 10 năm chiếm đóng, không có 1 tị nạn A Phú Hãn nào được bốc qua Liên Sô.

    30 tháng 4 năm 1975: Bắt đầu với 130.000 người tị nạn Việt Nam được nhận vào Mỹ nhờ một đạo luật di trú cấp kỳ của Quốc hội Mỹ, tiếp theo là một số các đạo luật khác, kể cả các sắc lệnh của tổng thống Hoa Kỳ, đã nâng tổng số người Mỹ gốc Việt lên 1.8 triệu người.

    Bắt đầu từ 17 năm sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, hàng chục ngàn cựu tù nhân trong các trại tập trung của cộng sản, được phép đưa cả gia đình 350,000 người di dân qua Hoa Kỳ theo một sắp xếp đặc biệt giữa Bộ Ngoại Giao Mỹ và CS Hà Nội. Sự kiện này cần phải được ghi nhận như là một hành động có một không hai, thể hiện nghĩa vụ/tình đồng mình của Hoa Kỳ sau cuộc chiến Việt Nam.

    Người Mỹ gốc Việt muốn nói với nửa triệu binh sĩ Mỹ, những người đã chiến đấu anh dũng trong cuộc chiến ở Việt Nam, và nhất là thân nhân của 58,000 người Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến rằng: Sự hy sinh của những người thân yêu của quị vị sẽ mãi mãi được ghi nhớ, vì nhờ những hy sinh to lớn đó, 18 triệu dân chúng miền Nam Việt Nam đã được nếm mùi vị của cuộc sống tự do trong suốt 20 năm – từ 1955 đến 1975.

    San Diego – Hoa Kỳ

    • Người Buôn Mộng says:

      Dân chúng Nam Việt Nam không phải là những người độc nhất được hưởng phúc lợi nhờ sự có mặt của Hoa Kỳ ở Việt Nam từ 1955 đến 1975:

      Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu trong hồi ký của mình, đã ghi nhận kinh tế nhiều nước ở châu Á – trong đó có Singapore – đã được phát triển khả quan là nhờ sự có mặt của Hoa Kỳ ở Việt Nam, “Nếu không có sự can thiệp của Mỹ tại Việt Nam, ý chí của các nước này để chống lại hiệu ứng Domino lan rộng xâm chiếm của Cộng sản sẽ tan chảy, và hầu hết các quốc gia Đông Nam Á nay chắc đã bị cộng sản hóa … ”

      San Diego – Hoa Kỳ

  2. hn says:

    Đề nghị BBT cắt bỏ phản hồi phá hoại, thiếu giáo dục này

  3. Trùng-Dương says:

    Vì lí do nào The USA cứ phải bỏ tiền, bỏ mạng cho những kẻ không muốn sốc vác việc nhà? Giả như ông đây đang sống ở USA có bảo với các con cháu “Chúng mày vào lính đi bảo vệ đồng minh !” ?

    Ông có lợi mà lại bắt thằng khác phải hy sinh !

    L.B Johnson thấy không thắng được chỗ ấy, và không cải tổ được phúc lợi xã hội nên không ra tranh cử, ông đã biết ! Và người dân USA biết ông ta qua những việc ông đã làm cho nước mình chứ không qua việc “bảo vệ đồng minh !”

    Ông sống ở USA, xem cho rõ “đồng minh” của USA là ai? Không là Châu Âu da trắng và Israel qua lớp tài phiệt Do Thái thì có mà ! Châu Á chỉ có Japan và Korea là OK vì… kinh tế.

    Khi mà ngay cả người da đen, từng giúp phát triển kinh tế từ ngày đầu và nhóm Latino còn chưa được xem là công dân đồng hạng lại bảo phải bền chí với đồng minh một đời được xem là gooks !

  4. noileo says:

    “Mỹ luôn luôn áp dụng chính sách cố hữu REALPOLITIK (chính trị duy thực hay duy lợi), nghĩa là thấy có lợi sẽ nhào vô bằng mọi giá, nhưng khi không lợi hay sa lầy, sẵn sàng bỏ của chạy lấy người !” “bác sĩ” Lại Mạnh Cường

    THeo một nguồn tin “bí mật” từ RFI, có liên quan đến nền an ninh của Ba lan, đề nghị cô Mạc Việt Hồng và quý độc giả hiện cư ngụ tại Ba lan lập tức vận động quyên góp tài trợ trải thảm đen mời “bác sĩ” Lại Mạnh Cường sang Ba lan khuyên nhủ chính quyền Ba lan đôi điều như trên,

    nếu cần thì vận động nhân dân Balan bầu “bác sĩ” Lại Mạnh Cường làm chu tich Ba lan để thay đổi chính sách cho Ba lan hầu có thể tránh cho Ba lan khỏi bị Mỹ lợi dụng, mặc dầu sau đó Ba lan có thể đựơc/bị trở lại với tân Liên xô của Hoàng De Putin

    RFI:

    “Quân đội Mỹ càng hiện diện nhiều tại Châu Âu thì tình hình càng tốt hơn cho Ba Lan. Bộ trưởng Quốc phòng Ba Lan Tomasz Siemoniak đã tuyên bố như trên và ông tỏ ra hài lòng về quyết định của Washington

    Về lâu dài, Ba Lan muốn đón tiếp các căn cứ quân sự thường trực với sự hiện diện của lính Mỹ trên lãnh thổ của mình. Chính quyền Vacxava còn muốn lập một lá chắn chống tên lửa để ngăn ngừa các mối đe dọa đến từ phía đông.

  5. Chiêu Dương says:

    Gởi Lại Mạnh Cường. Cám ơn bạn đã trao đổi.

    Tớ thật sự không hiểu ý của LMC khi viết : Tôi cho là CS phê bình Mỹ là “sen đầm quốc tế” khi dịch cụm từ “international police-agent” là đúng lắm bạn ạ ! Lý do Mỹ đã thường xuyên vì quyền lợi riêng mà bỏ rơi “đồng minh” không thương tiếc. Chẵng lẻ cụm từ “international police-agent” mang ý hoặc hàm ý là vì quyền lợi riêng mà bỏ rơi “đồng minh” không thương tiếc (!) ?

    Trước đây, thường hay nghe CS chửi Mỹ là “tên sen đầm quốc tế” tớ chả hiểu mô tê ra mần răng; vì dẫu sen đầm là cách phát âm một cách i tờ rít chử “gendarme” : hiến binh; thì cũng chẵng có gì xấu, chẵng hiểu sao họ có vẻ nghiến răng trèo trẹo mỗi khi nói đến cụm từ “sen đầm quốc tế” ! Hình như những người bị CS nhồi sọ rằng “Mỹ là xấu”, nên hể nói tới Mỹ là phải chửi, chẵng cần suy nghỉ; không chửi Mỹ tức là phản quốc, người dân VN dưới chế độ CS trước đây đơn giản có quan điểm như vậy.

    Qua các còm của LMC, tớ nhận thấy, bạn không đơn giản ngu dốt như những người dân VN bị CS nhồi sọ; nhưng có vẻ bạn cùng quan điểm “Mỹ là xấu” trước khi nói đến Mỹ, nên bạn khá gay gắt và hằn học khi thường viết hoa chử “quan điểm thực dụng” của Mỹ. Tớ đồng quan điểm với bạn, người Mỹ quá “thực dụng” ( như đã viết ) ; tuy nhiên, tớ thản nhiên chấp nhận sự thực dụng của họ chứ không bực bội hằn học, dẫu hơn nửa đời người của tớ đã là nạn nhân của quan điểm thực dụng đó. Tớ và bạn trưởng thành trong môi trường giáo dục thuần lý của Pháp và một ít từ chương sót lại của Khổng nho; chúng ta không được làm quen với thái độ chấp nhận chọn lựa những gì tốt nhất đang hiện hửu; chúng ta thường mãi đi truy tìm cái cùng tột một cách vu vơ, ngu ngơ như người học toán đi tìm giá trị đích của khái niệm vô cực. Tớ không cho rằng “chủ nghĩa thực tế” là xấu xa, tớ khác bạn ở chổ này. Người Mỹ thực tế đến mức họ biết rằng để làm anh cả trên thế giới, họ tốn quá nhiều đô la cho vai trò đó, nên họ không làm sen đầm quốc tế.

    Về vấn đề Đông Âu sau WW 2, Anh và Pháp đã phản đối việc trao Đông Âu cho Liên xô nhưng Stalin một mực đòi hỏi. Với người Mỹ, việc phân chia khu vực chỉ cốt giử an ninh sau khi lập lại hòa bình, chúng ta chẵng thấy người Mỹ chiếm dụng bất kỳ một xứ sở nào, họ chỉ tốn tiền duy trì sự có mặt của quân đội Mỹ ở những nơi tiềm tàng chiến tranh; do đó, không thể trách người Mỹ giao Đông Âu cho Liên xô. Chẵng lẻ chúng ta yêu cầu người Mỹ phải “từ thiện an ninh” cho thế giới ? chẵng lẻ bắt Mỹ phải gánh ngay những cuộc chiến “quốc-cọng” xảy ra ở Đông Âu ? mầm chiến tranh đã xuất hiện ngay khi Đức chưa đầu hàng !

    Bạn viết Họ quậy thối lung tung ở Trung Đông, nhất là vùng Vịnh chỉ vì tài nguyên dầu hỏa ở đó, cho nên gây ra thảm họa khủng bố Hồi giáo quá khích lan rộng khắp thề giới ! 30 năm vừa qua, ai làm chủ các giếng dầu ở Trung đông, kẻ đó khống chế thế giới. Người Mỹ không muốn làm anh cả nhưng chắc chắn họ không chịu bị chi phối bởi quốc gia khác. Mầm loạn lạc ở Trung đông, bạn đã thấy, không chỉ vì sự có mặt của Mỹ. Hai hệ phái Sunni và Shiite của Hồi giáo biết đến bao giờ mới có được hòa bình ?

    Chưa hết họ đang quậy thối ở Đông Á khi thấy Tàu cộng nổi lên thay thế Liên Xô cũ.

    Có lẻ đây là quan điểm mà tớ quan tâm nhất trong còm của bạn.

    Từ 2005, Tàu cọng đã có nhiều ức hiếp ngư dân VN, quậy phá ở biển Đông y như cái hồ của chúng. Bất lực trước thời sự, tớ thầm mong trước ngày 13/05/2009 ( hạn chót nộp hồ sơ lãnh hải và thềm lục địa cho LHQ ) bọn Tàu khựa hảy thè cái lưỡi bò tham lam của chúng trước bàng quang thiên hạ; qua đó, có cơ may quốc tế hóa vấn đề biển Đông để VN được chia xẻ sự đối đầu xâm chiếm của TC. Ngày 07/05/2009, TC thè lè lưỡi bò tham lam trên cả vùng biển quốc tế. Sáu năm trôi qua, nếu không có người Mỹ phản ứng, xin hỏi, quốc tế đã làm gì trước tham vọng của Tàu cọng ?

    Vậy, người Mỹ đang quậy thối ở Đông Á khi thấy Tàu cọng nổi lên hay người Mỹ đang giúp các nước biên cận với biển Đông thoát nạn Tàu cọng đang quậy thối sự yên ổn của khu vực ?

    Tớ đồng ý với LMC, những xứ sở mà người Mỹ đến rồi ra đi thường có những tin tức bất ổn trên báo chí. LMC đã trưởng thành ở miền Nam VN thường có những tin tức bất ổn trên báo chí vào lúc chiến tranh chưa lan rộng. Xin hỏi một câu, LMC tự trả lời tức là đã trả lời cho vấn nạn Mỹ thò tay mặt đặt tay trái ở đâu thường là rối tinh lên ở đó, điển hình như ở Afghanistan, Irak, Syria, Ukraine …. Câu hỏi như sau :

    _ LMC chọn một miền Nam VN thường có những tin tức bất ổn trên báo chí vào lúc chiến tranh chưa lan rộng, hay chọn một miền Nam VN bị bóp nghẹt sau ngày 30/04/1975 ?

    Hẹn gặp lại.

  6. Noileo says:

    Trích: “Tôi cho là CS phê bình Mỹ là “sen đầm quốc tế” khi dich cụm từ “international police-agent” là đúng lắm bạn ạ ! “ (LMC)

    Cám ơn “bác sĩ” cho biết “sen đầm” là dịch từ “cụm từ tiếng Pháp international police-agent”(!!???)

    Thế mà hồi nào tới giờ tôi cứ tưởng rằng, nếu khong lầm thì “sen đầm”, ngôn từ mà cộng sản thường dùng để gọi “đế quốc Mỹ” trong các hoạt động ngăn chặn tội ác cộng sản trên thế giới, tại Âu châu, tại Hoà lan…, là tiếng phiên âm từ chữ “Gendarmerie” của Pháp.

    “Gendarmerie” là một thành phần nhân viên cong lực, law enforcement, nếu là ở thôn quê thì có thể dịch sang tiếng Việt là “hương tuần”, một thanh phan nhan viên cong lục ở thon quê VN trước 1945, hoặc có thể dịch là “cong an xã” & “công an khu vực” theo ngon ngữ Việt nam xã nghĩa hiện đại

    “Gendarmerie” cũng có thể đuọc gọi là “hiến binh”, provost, một thành phần nhân viên công lục có thẩm quyền cao hơn cảnh sát thông thường, bao trùm cả 2 phạm vi quan sự & dân sự

  7. Minh Đức says:

    Trong số các nước Đông Âu, Ba Lan là nước có cớ oán hận Mỹ đã bỏ rơi đồng minh nhất vì Ba Lan đã từng có một lực lượng mạnh chống lại Đức Quốc Xã mà Mỹ lại để cho Ba Lan lọt vào vùng ảnh hưởng của Liên Xô. Nhưng khi Ba Lan tách ra khỏi sự kiềm tỏa của Liên Xô thì cũng vẫn lại là Mỹ mà Ba Lan có thể dựa vào để chống với chủ nghĩa bành trướng của Nga. Vì thế mà Ba Lan gia nhập khối NATO. Bởi vì nhìn quanh, thì Ba Lan cũng không nhìn thấy ai đủ sức và đủ tin tưởng hơn Mỹ. Dựa vào Pháp, vào Anh, vào Đức chăng? Các nước này không đủ mạnh mà Pháp và Đức thì không đáng tin tưởng vì các nước này vẫn có thể bắt tay với Nga khi thấy có quyền lợi. Ba Lan dựa vào Trung Quốc chăng? Trung Quốc thì đi với Nga.

  8. Minh Đức says:

    Bài học nhờ nước khác giúp đỡ các học sinh trung học tại miền Nam được học là việc ông Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đào tạo thanh niên Việt Nam về quân sự để thành lập quân đội đánh Pháp. Pháp biết chuyện này nên cho Nhật một số quyền lợi về buôn bán ở Đông Dương thì Nhật ngưng không nhận huấn luyện người cho ông Phan Bội Châu nữa. Bài học là nước khác họ có quyền lợi của họ. Khi họ giúp mình thì họ cũng giúp vì quyền lợi của họ.

    Điều đó được nhìn thấy qua các quan hệ quốc tế.

    Mỹ giữ cho miền Nam không bị cộng sản hóa để giữ vùng mà mình có thể buôn bán, đầu tư khỏi rơi vào tay Liên Xô. Không phải là Mỹ đem quân chiếm Việt Nam như đảng CSVN tuyên truyền. Khi phe Cộng Sản kéo dài chiến tranh thì Mỹ phải cân nhắc cái lợi cái hại khi giữ miền Nam. Mất miền Nam sẽ có thể kéo theo Thái Lan, Mã Lai, Singapore rơi vào tay Liên Xô, Trung Quốc còn giữ miền Nam thì phải tốn kém hàng tỉ đô la mỗi năm để giúp miền Nam chống CS.

    Các nước khác dù là xã hội chủ nghĩa hay tư bản cũng hành động vì quyền lợi của mình cả.

    Stalin khi mới lên cầm quyền, vào thập niên 1930, 1940 đã chỉ lo cho Liên Xô mà bỏ mặc các đảng CS trên thế giới bị đàn áp, mặc dù trên lý thuyết Karl Marx hô hào “vô sản toàn thế giới đoàn kết lại”. Stalin ký hòa ước với Đức Quốc Xã năm 1939 vì cần máy móc của Đức và muốn Đức gây chiến với các Anh, Pháp. Lúc đó công nghiệp Nga vẫn còn kém Đức và các nước Tây Phương nên Stalin cần máy móc, kỹ thuật của Đức. Nga đã cóp py y hệt kiểu mô tô BMW của Đức lúc đó để sản xuất tại Nga. Khi đảng viên CS Đức bị Đức Quốc Xã đàn áp phải chạy qua Nga lánh nạn, thì Stalin bắt họ trao trả cho Đức.

    Khi Khrushchev lên cầm quyền đã giúp Trung Quốc rất dồi dào, thiết lập cơ sở căn bản cho công nghiệp Trung Quốc, làm nhà máy chế tạo vũ khí cho Trung Quốc. Nhưng khi Mao Trạch Đông không nghe lời Khrushchev thì Khrushchev rút hết cố vấn về và không viện trợ cho Trung Quốc nữa. Khrushchev chỉ giúp Trung Quốc trong điều kiện Trung Quốc tuyệt đối tuân lệnh Liên Xô.

    Liên Xô và Trung Quốc giúp đảng CSVN chống Pháp nhưng lại tự quyết định là Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc mà không cần hỏi ý kiến ông Hồ Chí Minh. Trong hội nghị San Francisco, trong khi miền Nam tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam thì Liên Xô lên tiếng là Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Ông Hồ Chí Minh lúc đó còn ở rừng núi Việt Bắc và đang nhận viện trợ vũ khí, lương thực từ Trung Quốc thì có thể không có tiếng nói. Nhưng hàng chục năm sau, sau khi đã nắm quyền lực tại miền Bắc ông Hồ không hề phản đối việc Trung Quốc lấy Hoàng Sa, Trường Sa và lại còn công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

    Cũng về đồng minh và lãnh thổ, Liên Xô đã sáp nhập một phần đất đai của “đồng minh” Ba Lan vào lãnh thổ Nga và đuổi một triệu dân Ba Lan ra khỏi vùng này, đem hàng triệu dân Nga vào vùng này ở. Trong hội nghị Yalta, Stalin nói với các vị lãnh đạo các nước kia rằng: “Liên Xô trước đây đã phạm lỗi với Ba Lan khi chia phần Ba Lan với Đức Quốc Xã, nay để chuộc lỗi, nên để cho Ba Lan thuộc quyền Liên Xô để Liên Xô xây dựng Ba Lan trở thành một nước giàu mạnh và độc lập”. Thực tế là Stalin bắt Ba Lan phải lệ thuộc vào Liên Xô chứ không để cho độc lập.

    Trung Quốc giúp miền Bắc cũng vì quyền lợi của Trung Quốc. Trung Quốc giúp CSVN với điều kiện CSVN phải tuyệt đối nghe lời Trung Quốc, giống như là Liên Xô giúp Trung Quốc vậy. Khi CSVN nhận được nhiều viện trợ hơn từ phía Liên Xô thì Trung Quốc bảo CSVN đừng nhận viện trợ của Liên Xô nữa. Khi CSVN không nghe thì Trung Quốc cắt dần viện trợ, bảo CSVN đừng thống nhất đất nước ngay. Khi Mỹ cắt viện trợ cho VNCH thì Trung Quốc đề nghị sẽ viện trợ cho VNCH để chống lại CSVN. Lúc đầu Trung Quốc giúp CSVN vì muốn CSVN bành trướng ra khắp Đông Nam Á trong điều kiện CSVN tuyệt đối tuân lệnh Trung Quốc. Lúc đó Liên Xô không viện trợ quân sự cho miền Bắc vì Khrushchev chủ trương sống chung hòa bình thì khi CSVN thắng ở miền Nam và bành trướng qua Thái Lan thì chỗ dựa duy nhất của CSVN là Trung Quốc và CSVN không có sự chọn lựa nào khác là nghe lời Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh đánh Việt Nam để dạy cho bài học. Bài học đó là nhận viện trợ của ta thì phải nghe lời ta.

    Khmer Đỏ được Trung Quốc và CSVN giúp đỡ để lật đổ Sihanouk. Nhưng khi Sihanouk bằng lòng cho quân đội CSVN đóng trên đất Miên và để cho Trung Quốc mượn hải cảng Sihanoukville mà chuyển vũ khí cho CSVN thì Trung Quốc và CSVN không giúp cho Khmer Đỏ lật đổ Sinhanouk nữa. Chỉ đến khi Sihanouk bị Lon Nol lật đổ thì Trung Quốc mới giúp cho Khmer Đỏ mạnh lên và lật đổ Lon Nol. Nhưng khi Đặng Tiểu Bình lo cho kinh tế Trung Quốc và mở cửa cho Tây phương vào đầu tư thì Đặng cắt viện trợ cho Khmer Đỏ. Để mặc cho Khmer Đỏ phải tự xoay sở lấy trong vùng rừng núi. Khmer Đỏ đã phải cho tư nhân Thái vào vùng của mình khai thác gỗ và hồng ngọc để có tiền tiếp tục chiến đấu rồi tàn lụi dần trong rừng núi.

    Liên Xô giúp CSVN thắng được ở miền Nam năm 1975, thì năm 1977 CSVN ký hiệp ước quân sự với Liên Xô trong đó có điều kiện Liên Xô được sử dụng hải cảng và phi trường Cam Ranh làm căn cứ quân sự. Nhưng năm 1988, khi Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma thì mặc dù hiệp ước quân sự còn hiệu lực, Liên Xô cũng vẫn lặng im. Lúc đó Liên Xô đang tan rã.

    Vì nước nào cũng chỉ lo thân mình nên thuyết “vô sản thế giới đoàn kết lại” và thuyết thế giới sẽ chia hai phe, một bên là tư bản một bên là CS, chỉ là mơ ước không thực tế của Karl Marx. Lợi ích quốc gia vẫn cao hơn tình quốc tế vô sản.

    Lời ông Trần Đức Thảo thuyết ông Hồ Chí Minh là đừng đánh miền Nam, vì Việt Nam còn nghèo, nếu đánh miền Nam thì phải xin viện trợ của ngoại bang, mà xin viện trợ của ngoại bang thì sẽ bị mất tự chủ, độc lập vẫn luôn luôn đúng.

    • VÔ SẢN ĐOÀN KẾT

      Vô sản lúc nghèo thì đoàn kết
      Tới khi giàu có lại tranh nhau
      Ngây thơ Các Mác từng mơ hão
      Bởi lẽ ngây ngô chẳng hiểu người

      Bởi người ai chẳng bụng tham lam
      Bản chất thiên nhiên nhập xác phàm
      Chặn cổ đè đầu khi có dịp
      Còn không làm bộ chả gì ham

      Ngôn từ lếu láo phong vô sản
      Sứ mệnh đại đồng phải tiến lên
      Chỉ mới bảy mươi năm liền sụm
      Liên Xô chổng vó ngã lênh kềnh

      Liên Xô Trung Quốc choảng nhau nhiều
      Chỉ đám cầm quyền vô sản tiêu
      Vô sản vốn xơi toàn khẩu hiệu
      Quyền hành ai nắm chỉ mình phiêu

      SẤM NGÀN
      (30/6/15)

  9. Thế Dân says:

    Mỹ bán đứng hàng triệu số phận của gia đình lính VN Cộng hòa. Nhưng hãy xem kìa! Còn bao kẻ không tỉnh, đang ngáo đá lại đi tâng bốc ca ngợi nữa. Cho chúng ngáo đá nữa đi để rồi xuống địa phủ lại lập lại ngày đó nhé. Chúng bay chết và khổ là phải kêu gì?

  10. Tôi rất vui khi đọc bài báo vô cùng hay đăng trên báo Người Việt Ucraina và nhiều báo chí khác. Xin đem ra đây để các bạn tham khảo mà biết Mỹ thế nào nhé:
    Bình luận quốc tế: Tình hữu nghị phải được thử thách qua thời gian và lịch sử, nó không thể được tạo ra qua một đêm
    12:06 Chủ Nhật, 28 Tháng Sáu 2015 bởi CÔNG BẰNG
    Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden bắt tay Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Diên Đông.
    (Ảnh: Getty Image)
    Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden bắt tay Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Diên Đông. (Ảnh: Getty Image)
    Báo chí và dư luận quốc tế đang rất quan tâm hướng chú ý vào cuộc Đối thoại Mỹ Trung vì sau hàng loạt động tác ngoại giao của Hoa kỳ và các tuyên bố nghe rất cứng rắn lên án Trung quốc hung hăng xây dựng đảo biển đã chiếm được của Việt nam ở Hoàng sa và Trường sa thành các pháo đàu và căn cứ quân sự để thực hiện ý tưởng đường lưỡi bò chiếm cứ phần lớn biển Đông thành ao cá của mình.
    Qua nhiều báo chí đăng tải và những nhận định của các nhà báo kỳ cựu giầu kinh nghiệm quốc tế thì thấy họ đã đưa ra những tiên đoán, nhận định rất chính xác về bản chất của Mỹ là chỉ là to mồn, phộng phạo để rung cây dọa khỉ, nhưng bên trong thì sợ đối đầu Trung quốc, phụ thuộc quá nhiều vào nước này cho nên nói to nhưng chân tay thì run như cầy sấy, nếu Việt nam không tỉnh táo bị lôi cuốn vào việc theo Mỹ thì hôm nay sẽ có vấn đề lớn là tự đối đầu với Trung quốc còn Mỹ chuồn lẹ. Việt nam đã không ngu biết rõ bản chất của Mỹ là đem con bỏ chợ như đã làm với quân Ngụy Sài gòn và bao đồng minh khác kể cả nhà nước Do Thái. Hãy đọc bài báo mà Việt nam đăng tải trên tờ dân Trí hôm nay để mà tự suy xét lấy:
    Mỹ-Trung: Gió đảo chiều chỉ sau “một đêm”?
    Xét trong bối cảnh hai nước có các tính toán lợi ích như trên thì kết quả của cuộc Đối thoại Trung-Mỹ vừa qua là hoàn toàn hiểu được và không đến nỗi quá “bất ngờ”.
    Trái với dự đoán của báo giới và khá nhiều chuyên gia về kết quả “bế tắc” hoặc “thất bại” của Đối thoại chiến lược và kinh tế lần thứ 7 diễn ra trong hai ngày 23-24/6/2015 tại Washington DC, cả 4 trưởng đoàn Mỹ và Trung Quốc đều cười tươi, tay bắt chặt khi Đối thoại kết thúc và tuyên bố “kết quả vượt quá mong đợi” với 127 kết quả. Phải chăng quan hệ Trung-Mỹ đã thực sự “đảo chiều” chỉ sau “một đêm”?
    Cuộc Đối thoại được mong chờ nhất
    Kể từ khi được Tổng thống Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nâng cấp thành Đối thoại Chiến lược và Kinh tế năm 2009, các Đối thoại chiến lược Trung-Mỹ luôn là mối quan tâm hàng đầu của dư luận lẫn các nhà phân tích thời cuộc bởi quy mô lớn nhất và tính chất cũng quan trọng nhất trong hơn 90 kênh đối thoại thường niên.
    Đối thoại năm nay chủ nhà Mỹ có 8 thành viên nội các, trong đó có Ngoại trưởng Kerry, Bộ trưởng tài chính Jack Lew, và đông đảo quan chức cấp cao. Còn phía Trung Quốc có 400 quan khách do Phó Thủ tướng Uông Dương và Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì dẫn đầu. Đây cũng là kênh đối thoại song phương quy mô nhất thế giới. Điều này phản ảnh đúng thực trạng cũng như tầm vóc quan hệ giữa hai quốc gia lớn.
    Cuộc Đối thoại năm nay nhận được quan tâm đặc biệt hơn, bởi:
    Một, quan hệ Trung-Mỹ đang trải qua thời kỳ sóng gió nhất trong hơn ¼ thế kỷ qua kể từ sau sự kiện Thiên An Môn 6/1989 liên quan đến việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo trên vùng biển chiếm đóng trái phép ở Biển Đông, các “thách đố” 2 nước về vùng cấm bay trên đảo nhân tạo và “vùng cấm” 12 hải lý trên biển , và đặc biệt là việc chính quyền Mỹ “nghi” tin tặc Trung Quốc đột nhập, lấy cắp dữ liệu của khoảng 4 triệu người do Cơ quan quản lý nhân lực (OPM) đang cất giữ. Dư luận lo ngại, với hàng tá các bất đồng và khác biệt như vậy liệu hai nước có còn duy trì được quan hệ hợp tác nữa hay không?
    Hai, khả năng đạt được thỏa thuận về biến đổi khí hậu và Hiệp định đầu tư song phương (BIT). Chẳng hạn, liên quan đến biến đổi khí hậu, các động thái của Trung Quốc – nước đang phát triển lớn nhất, và Mỹ-nước phát triển lớn nhất thế giới, đồng thời là cả hai nước có lượng khí thải Carbon lớn nhất thế giới, sẽ có tác động sâu sắc đến lập trường của hàng loạt nước tại Hội nghị Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu sẽ diễn ra tại Paris vào tháng 12/2015.

    Ba, việc chuẩn bị của hai nước cho chuyến thăm Mỹ sẽ diễn ra vào tháng 9/2015 của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Đây là chuyến đi hết sức quan trọng đối với Trung Quốc và quan hệ Mỹ-Trung. Nhiều khả năng ông Tập sẽ trở thành nhà lãnh đạo của Trung Quốc lần đầu tiên được phát biểu trước cả hai viện của Quốc hội Mỹ. Do đó, Trung Quốc rất muốn mọi chuyện liên quan đến chuyến đi suôn sẻ.
    Bước đi đầu tiên của Trung Quốc là tạm dừng bồi đắp đảo và kết quả của đòn tấn công ngoại giao là “không ngờ”!
    Kết quả “không ngờ”
    Nội dung của Đối thoại chiến lược khá rộng, bao trùm hàng loạt các chủ đề, từ an ninh hàng hải, an ninh mạng đến biến đổi khí hậu, phòng chống dịch bệnh, thương mại, rồi hợp tác kinh tế. Quan trọng nhất, hai bên đã đạt được 127 kết quả cụ thể, giải tỏa các căng thẳng trong quan hệ hai nước để chuẩn bị cho chuyển đi Washington của ông Tập. Các thỏa thuận chính đạt được gồm:
    Thứ nhất, hai bên cam kết hợp tác để đem lại kết quả thành công của Hội nghị chống biến đổi khí hậu toàn cầu họp tại Paris vào tháng 12/2015. Riêng trong việc chống biến đổi khí hậu và môi trường, hai nước đã đạt được gần 40 kết quả. Các kết quả này là sự triển khai Tuyên bố chung Trung-Mỹ về thay đổi khí hậu trái đất được ông Obama và Tập ký năm 2014.
    Thứ hai, bảo vệ và bảo tồn các đại dương, trong đó có việc chống đánh bắt cá bất hợp pháp, mở rộng các lực lượng cưỡng chế trên biển, thiết lập khu bảo vệ biển ở Nam cực.
    Ba là, củng cố an ninh y tế toàn cầu, trong đó có việc Trung Quốc giúp các nước Tây Phi xây dựng lại hệ thống y tế, đối phó chống lại các bệnh dịch truyền nhiễm.
    Thứ tư, các hợp tác khác bao gồm: hai nước Trung-Mỹ ủng hộ một quốc gia Afghanistan hòa bình, ổn định và thống nhất; ủng hộ việc phi hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và việc sớm đạt được thỏa thuận về Kế hoạch hành động chung toàn diện trên cơ sở thỏa thuận khung được nhóm P5+1, Iran và EU; hợp tác sâu rộng hơn trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố.
    Hai nội dung được trông chờ nhiều nhất là căng thẳng trên Biển Đông và an ninh mạng–vốn được Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden nêu khá thẳng thắn trong phiên khai mạc–lại hoàn toàn “biến mất” trong Tuyên bố chung sau đó. Chẳng hạn, thay vì nhắc đến vấn đề Biển Đông, thì vấn đề hợp tác dân sự ở các đại dương lại được đưa vào thông cáo chung.
    Phải chăng gió đã “đảo chiều”?
    Những ai mong chờ các trận “khẩu chiến” kịch liệt giữa Mỹ và Trung Quốc cũng như động thái cứng rắn từ phía Mỹ hẳn sẽ thất vọng. Các sắc thái đánh giá cũng khá khác nhau. Trước hết là việc cho rằng Trung Quốc đã “cao tay” khi tuyên bố dừng đắp đảo để đổi lấy “yên ổn” tạm thời, rồi sau đó “đâu lại đóng đấy” sau cuộc gặp cấp cao Mỹ-Trung được tổ chức vào tháng 9/2015. Có ý kiến khác lại cho rằng đã đến lúc Trung-Mỹ “bắt tay thỏa hiệp” và Biển Đông không phải là vấn đề lớn mà thực sự hai nước còn có các quan hệ lớn hơn. Vậy nên hiểu thế nào cho đúng?
    Trước hết, diễn đàn Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Trung Mỹ không phải là nơi để giải quyết các khác biệt, các tranh chấp. Đây là nơi mà hai bên chủ yếu bày tỏ quan điểm của mình với mục đích tăng cường lòng tin, thu hẹp các bất đồng. Do đó, cả Trung Quốc và Mỹ đều cố gắng gác lại các tranh chấp, các khác biệt, nhấn mạnh đến các điểm đồng làm nền tảng thúc đẩy hợp tác. Họ biết rằng các bất đồng, khác biệt hiện nay là quá lớn và càng tìm cách giải quyết thì lại càng đưa đến đến các tranh cãi không lối thoát. Thực chất đây là sự “thừa nhận các bất đồng, khác biệt” (agree to disagree).
    Bên cạnh đó, xét trong bối cảnh hiện nay, cả Mỹ và Trung Quốc đều đang phải dồn sức đối phó cho hàng loạt các vấn đề đối nội, đối ngoại lớn và chưa sẵn sàng cho một cuộc đối đầu toàn diện. Đặc biệt, đối với Trung Quốc, nếu đối đầu càng leo thang thì Trung Quốc sẽ càng ở thế bất lợi khi không có chỗ dựa là mạng lưới các đồng minh và hệ thống căn cứ quân sự hải ngoại liên hoàn như Mỹ. Chưa kể sức mạnh và kinh nghiệm tác chiến trên biển của Trung Quốc còn thua xa Mỹ hàng thập kỷ.

    Bộ trưởng Trung Quốc Vương Nghị.
    Bộ trưởng Trung Quốc Vương Nghị.
    Quốc tế đã nhận thấy rõ Trung quốc không bao giờ bỏ tư tưởng bánh trướng đại Hán, thôn tính các nước láng giềng không thương tiếc vì lòng tham của mình. Họ lại còn khéo khóc mà biến mình từ một tội phạm thành một nạn nhân. Trung quốc qua mồn ông Bộ trưởng ngoại giao đã khóc mà nói rằng: “1.000 năm trước đây Trung Quốc đã là một quốc gia đi biển lớn. Vì vậy tất nhiên Trung Quốc là quốc gia đầu tiên khám phá, sử dụng và quản lý quần đảo Nam Sa”, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã phát biểu như vậy và trắng trợn gọi quần đảo Trường Sa vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam bằng cái tên Nam Sa.
    Cuối cùng, về phía mình, Trung Quốc thấy giai đoạn đầu “lấn hải” có thể tạm ổn, cần tập trung củng cố các “thành quả” vừa giành được để dồn sức cho các “trận chiến” dài hơi hơn phía sau. Hơn nữa, việc tiếp tục xây đảo nhân tạo có thể phá hỏng chuyến đi Mỹ vào tháng 9/2015 của Chủ tịch Tập Cận Bình, đưa Trung Quốc vào “tầm ngắm” của tâm điểm chính trị nội bộ Mỹ trong mùa bầu cử Tổng thống năm 2016.
    Còn bản thân Mỹ cũng cảm thấy “hài lòng” khi ít nhất các yêu cầu đòi phía Trung Quốc dừng hoạt động bồi đắp, cải tạo đã có kết quả và cần tiếp tục dùng các biện pháp, sức ép khác để Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế.
    Sau cuộc Đối thoại này, hai nước Trung-Mỹ đã nhất trí sẽ có cuộc họp về an ninh biển vào tuần tới.
    Xét trong bối cảnh hai nước có các tính toán lợi ích như trên thì kết quả của cuộc Đối thoại Trung-Mỹ vừa qua là hoàn toàn hiểu được và không đến nỗi quá “bất ngờ”.
    Việt nam đã không bất ngờ.
    Với những ai đã từng gắn bó quyền lợi với Mỹ, thường mê tín mà quá tin vào Mỹ sẽ thất vọng nhưng người Việt nam đã quá có kinh nghiệm với Mỹ rồi. Quan hệ làm ăn, bình đẳng cùng có lợi thì chơi, còn không thì đường ai nấy đi. Tình hữu nghị phải được thử thách qua lịch sử chứ đừng ăn xổi, không thể xẩy ra qua một đêm.
    Lịch sử đã chứng minh, trong những khoẳng khắc thời gian khắc nghiệt nhất thì chỉ có Nga, Cu ba và Ấn độ, Thụy Điển là những quốc gia chung thủy đáng tin cậy mà thôi. Với Mỹ thì Việt nam có duyên nợ với nhân dân Mỹ nhưng luôn phải cảnh giác với chính quyền Mỹ. Đừng cúi đầu nghe mà sẽ vấp phải tình thế:” Họ đem con bỏ chợ”, “bán trứng cho ác”. Việt nam vẫn cảnh giác theo dõi từng bước đi của Trung quốc ở biển Đông nhất là việc họ đưa giàn khoan
    Vị trí giàn khoan 981 (Ảnh: TT).
    Vị trí giàn khoan 981 (Ảnh: TT).
    Trước thông tin giàn khoan 981 của Trung Quốc đã quay lại biển Đông và tiến hành hoạt động thăm dò dầu khí, trao đổi với báo Lao Động sáng 28.6, Thiếu tướng Ngô Ngọc Thu, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, Bộ Quốc phòng cho biết: Lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam luôn theo dõi chặt chẽ di chuyển của giàn khoan này.
    Việt nam vẫn xác định bảo vệ lãnh thổ lãnh hải của mình đến cùng vì chủ quyền của đất nước. Chuyến đi của tổng bí thứ Việt nam đến Mỹ chắc chắn chỉ đơn thuần là chuyến đi ngoại giao quan hệ giữa hai nước mà thôi, quá lắm cũng có vài ký kết về quân sự, kinh tế mà hai nước đều mong đợi đem lại cho cả hai bên. Những ý tưởng về Liên minh quân sự Mỹ Việt là không thể xẩy ra. Đó là điều không tưởng.
    Tác giả: Nguyễn Công Bằng.

Phản hồi