|

Thúy đã đi rồi

Sau quyết định “Nghỉ Báo Viết Blog”  của Trương Duy Nhất, có độc giả “bình” rằng đây là một “cáo phó” cho báo bổ thời bao cấp. Ông Mặc Lâm thì mô tả hành động này như là một phương cách “thoát khỏi vòng kim cô” của nhà báo nổi tiếng này.

Trương Duy Nhất, nói nào ngay, không phải là người đầu tiên có quyết định ngon lành như thế. Hơn nửa thế kỷ trước, Nguyên Hồng còn tuyên bố một câu (ngon) hơn thế nữa kìa:

- “Đủ, đủ lắm rồi. Ông đéo chơi với chúng mày nữa.”

Ấy thế nhưng chả bao lâu sau, vẫn theo lời kể của Tô Hoài:

“Hội Nhà văn Đức tặng Hội Nhà văn Việt Nam 200 cái xe đạp Diamant mới cứng. Nguyên Hồng được điện khẩn mời xuống công tác. Ấy là việc dắt chiếc xe đạp đứng vườn hoa Cửa Nam trò chuyện với người qua đường. Vô tuyến truyền hình của Việt, của Đức quay giới thiệu nhà văn với tặng phẩm hữu nghị quốc tế.

Nguyên Hồng hồi ấy mới để râu, rõ ra phong thái học giả phương Đông. Tuyên truyền thế thôi, cả hội chẳng được sờ vào vành bánh chiếc xe nào. Hai trăm cái xe lăn cả vào kho Bộ Thương nghiệp.”

Tôi nghe nói, Bộ Thương Nghiệp, vào thời điểm vàng son của nó, quản  luôn cả đến cây kim và sợi chỉ nữa cơ. Nhà Nước, qua  đó – có thể – cột chặt được tất cả mọi người, không sót một ai.  Muốn “đéo chơi” (với chúng nó) nữa cũng chả phải là chuyện dễ dàng gì.

Cái thời hoàng kim (thổ tả) đó, của chúng nó, may quá, đã qua. Bây giờ, cả ông hai ông Hữu Thỉnh và Đinh Thế Huynh dù có tam cố thảo lư, và khiêng đủ “200 chiếc xe đạp Diamont mới cứng” đến tận nhà (chắc) cũng không cách chi thuyết phục được Trương Duy Nhất trở lại cái “Hợp Tác Xã Tư Tưởng” của nhà nước nữa.

Thuý đã đi rồi!

Hợp Tác Xã Tư Tưởng là chữ dùng (riêng) của Trương Duy Nhất để mô tả những sinh hoạt có liên quan đến sách báo thời bao cấp. Cái thời mà blogger Đào Tuấn đặt tên, một cách (vô cùng) lãng mạn, là “Thời Đại Buông Rèm.” Tôi vốn sính Tây nên gọi cái thứ của nợ này là một loại ghetto, dành cho những người cầm viết, ở Việt Nam.

Trong Thế Chiến Thứ II, ghettos được Đức Quốc Xã tạo nên (ở nhiều thành phố Đông Âu) để làm nơi tập trung người Do Thái. Với thời gian, hạn từ ghetto được phổ biến theo một nghĩa  rộng rãi hơn – để chỉ những nơi biệt cư, thường là nghèo nàn và chật hẹp, của một nhóm người (nào đó) trong lòng phố thị: Black Ghetto, Mexican Ghetto, Chinese Ghetto, Student Ghetto, Gay Ghetto…

Từ hơn nửa thế kỷ qua, nhà đương cuộc Hà Nội cũng thiết lập một loại ghetto bẩn chật (tương tự) để làm nơi quần tụ cho những người cầm viết. Kẻ nào lỡ bước qua (hay bị đẩy ra) khỏi lằn ranh của cái ghetto văn hoá này là sẽ bị rơi ngay vào “bước đường cùng” – theo như (nguyên văn) lời của Bùi Ngọc Tấn:

“Có một ý kiến (hay chỉ thị) không thành văn nhưng mạnh hơn văn bản mà tất cả các báo, các nhà xuất bản đều thực hiện rất triệt để và nghiêm chỉnh là không in bài của Mặc Lân, Lê Bầu. Nếu hạn hữu có in cũng không được ký tên hai người… không được in đã hẳn, nhuận bút cũng không có nốt.

Túng thiếu. Mà phải có tiền. Phải sống. Đang loay hoay với kế mưu sinh thì Dương Tường đến. Nào ai ngờ được chính anh chàng lơ ngơ này lại là người giải quyết cho Mặc Lân vấn đề cực kì khó khăn ấy: Đi bán máu…

Lân mừng như người chết đuối vớ được cọc… Tiền tính theo cc còn tem phiếu thì đồng loạt. Mỗi người được lĩnh tem 2 cân đường, 4 cân đậu phụ, 2 kí thịt, 2 hộp sữa. Thế là mất đi một ít màu nhưng túi nằng nặng tiền và tem phiếu. Cho nên những ngày đi bán máu rất vui…

Bán máu êm ả là thế mà nhiều lúc vẫn giật mình. Ví như đang ngồi nhìn cả vào người y tá chờ gọi tên mình thì người ấy bỗng bật ra những cái tên bất ngờ nhất:

Chính Yên!

Phan Kế Bảo!

…..


Phương Nam!

Toàn những người quen. Toàn những trí thức. Ngượng nghịu nhìn nhau. Rồi cũng quen dần. Lương thiện thì rõ ràng là lương thiện rồi. Nhưng nó tố cáo bước đường cùng.” (Bùi Ngọc Tấn. “Thời gian gấp ruổi“. Viết về bè bạn. Virginia: Tiếng Quê Hương, 2006. 65 – 67)

Và đến “bước đường cùng” thì mới thấm thía hương vị của một tô phở, cho dù là phở quốc doanh. Nó có thể làm cho khách qua đường phải ứa nước miếng, và (đôi khi)… nước mắt:

“Ngày ấy từ quê ra đèo nhau qua hiệu phở, ngửi mùi thơm ngào ngạt, quyến rũ, hai vợ chồng cùng thấy đói, thấy thèm và bảo nhau vào ăn phở. Nhưng khi lục túi chỉ còn ba trăm. Đúng một bát phở chín. Không hơn. Ai ăn? Bà bảo ông ăn vì trông ông gầy quá. Ông bảo bà ăn. Bà bảo thế thì không ai ăn cả. Cùng về. Nhưng ông biết bà đã nhịn thèm nhịn nhạt, nhường chồng con bao nhiêu năm rồi. Ông quát lên khe khẽ, bắt bà phải ăn. Bà vâng lời ông. Ông còn dặn bà: Nửa bát đầu cứ thế ăn, nửa bát sau hãy cho chanh ớt. Như vậy em được ăn hai thứ phở.” (Bùi Ngọc Tấn. Vũ trụ không cùng. Virginia: Tiếng Quê Hương, 2007. 32).

Ở trong vòng ghetto, tuy bẩn chật nhưng được cái an toàn. Nó an toàn đến độ khiến không ít kẻ sinh tật múa gậy vườn hoang – theo như lời than phiền của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, về một cây viết và một tờ báo tăm tiếng (và tai tiếng) nhất hiện nay:

“Vì sao Nguyễn Như Phong và báo An Ninh Thế Giới dám tự tung tự tác, ngang nhiên hoành hành, đổi trắng thay đen, ngậm máu phun người như vậy?”

An Ninh Thế Giới không phải là tờ báo duy nhất chuyên ngậm máu (hay ngậm cứt) phun người như thế. Ngày 31 tháng 10 năm 2009, qua một bài báo (“Bán dâu – Hủ tục man rợ vẫn hoành hành”) tờ Tiền Phong cũng đã ngang hiên sỉ nhục người dân ở huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, về điều mà họ mô tả là “tập tục vô luân” nơi địa phương này: “Thích thì bỏ tiền cưới vợ, khi ‘bực mình’ thì rao bán cả vợ cả con, bố mẹ chồng cũng có quyền bán con dâu và cháu nội…”

Một tuần sau, cũng báo Tiền Phong, số ra ngày 8 tháng 11, đăng lời “xin lỗi nhân dân và chính quyền xã Phong Dụ cùng bạn đọc…” vì “tác giả bài báo đã xào xáo và không hiểu biết gì về tập tục và đời sống bà con đồng bào dân tộc, thêm thắt, thổi phồng sự việc…”

Xin lỗi quấy quá, cho có lệ vậy thôi, chứ mãi cho đến hôm nay, ngày 25 tháng 2 năm 2010, bài báo thượng dẫn vẫn còn nằm nguyên si ở tờ An Ninh Thủ Đô – và hàng chục trang web khác – thuộc lề bên phải. Nói cho cùng thì “đổi trắng thay đen” hay “thêm thắt, thổi phồng sự việc” để phỉ báng thiên hạ – đối với những người cầm viết trong ghetto Việt Nam – chỉ là chuyện nhỏ, không đáng để họ phải bận tâm. Họ còn được dung túng để thay mặt cho cả ngành tư pháp của xứ sở này kết án hết người này, đến người nọ về tội danh này hay tội danh khác nữa cơ.

Qua một cuộc phỏng vấn, do Lê Thị Thái Hoà thực hiện, đọc được ở Thanh Niên Online vào ngày 30 tháng 4 năm 2008, nhà văn Trần Đăng Khoa cho biết:

”Tôi nói thật, chưa bao giờ tôi viết có xúc cảm hết. Thời trẻ con cũng thế và sau này cũng vậy. Thấy cần viết là tôi viết. Họ đặt ký tôi viết về người này người kia thì tôi viết. Thế là có tập Chân dung và Đối thoại đấy. »

“Thế … đấy” nhưng tập Chân Dung Và Đối Thoại vẫn được tái bản đều đều. Lý do: ghetto chữ nghĩa ở VN là một loại công ty độc quyền, không có đối thủ, miễn có cạnh tranh, và thường kín như bưng. Bởi thế, khi Trần Đăng Khoa hé mở cho chút xíu ánh sáng (sự thật) soi rọi vào một vài mảng tối là tác phẩm của ông liền được đón chào nhiệt liệt.

Dù thế, chỉ hơn một năm sau, qua một cuộc phỏng vấn khác – đọc được vào hôm 13 tháng 7 năm 2009, do Hồng Thanh Quang thực hiện – Trần Đăng Khoa đã nói khác ngay. Ông không đề cập đến chuyện “viết không cần cảm xúc” hay “viết theo đơn đặt” nữa. Thay vào đó, ông nêu lên“thiên chức của nhà văn” bằng những lời lẽ hết sức trang trọng và cảm động:

“Bởi vì ở Phương Đông cũng như ở Việt Nam, văn chương đích thực, phải tải Đạo, như cụ Đồ Chiểu nói: Chở bao nhiêu Đạo, thuyền không khẳm. Vì thế, trong con mắt của xã hội, nhà văn là cao quí, là đại diện cho giá trị đạo đức và văn hoá xã hội.”

Cảm ơn Trần Đăng Khoa, và cảm ơn Trời. Thế thời, rõ ràng, đã đổi. Và đổi nhanh ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người. Mới bữa nào người dân Việt còn thi thoảng uống cà phê chui, nay thì họ ngồi đầy những tiệm cà phê internet.

Cái phương tiện truyền thông (tân kỳ) này đã làm cho quả địa cầu nhỏ lại. Nhân loại nhích lại gần nhau hơn. Việt Nam không còn là một nơi biệt cư, dành riêng cho một dân tộc hoàn toàn mù thông tin, như trước nữa. Bây giờ mà vẫn cứ “viết theo đơn đặt hàng” thì rách việc như không. Và điều này thì Trương Duy Nhất biết rõ hơn rất nhiều người.

Cuối bài “Viện Sĩ Tự Sướng” (viết ngày 4 tháng 2 năm 2011) ông cho biết: “Tôi post bài này lên lúc 14 giờ 57, xong đi một vòng chúc Tết. Chưa đầy 2 tiếng sau về mở lại thì thấy báo Nhân Dân đã tháo bài này xuống khỏi trang Nhân Dân điện tử.”

Trước đó không lâu, báo Pháp Luật cũng bị một tai nạn tương tự vì bài báo “Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Xuất Sắc Nhất Châu Á” của ông hay bà Phượng Lê nào đó. Nó cũng được “tháo xuống” tức thì.

Và mấy hôm nay thì blogger Trần Quốc Việt và Dân Làm Báo đang đặt vấn đề về một bài dịch láo (“Thể chế chính trị phải hoàn thiện cùng kinh tế”) vừa xuất hiện trên đăng trên Vietnam.net hôm 12 tháng Hai năm 2011.

Hệ thống truyền thông quốc doanh, rõ ràng, không còn là nơi để có thể múa gậy vườn hoang (như xưa) nữa. Dù nấp dưới bút danh nào, và trong ngõ ngách nào chăng nữa, hễ cứ nói bậy hay nói láo là bị chúng “vả” vào mồm – khiến mặt mũi sưng vù – ngay tức khắc.

Cái ghetto chữ nghĩa Việt Nam bây giờ, ví von mà nói, là một con thuyền lủng. Nó sắp đắm đến nơi. Bởi thế, khi Trương Duy Nhất tuyên bố “bỏ thuyền” thì ai cũng lấy làm mừng. Đây là một tin vui. Một người ngay thoát nạn!

Tuy nhiên, đây không phải là niềm vui trọn vẹn. Vì cùng lúc cũng có một tin buồn: ông Đinh Thế Huynh bắt đầu đảm nhận vai trò Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương, Thủ Trưởng Ghetto Chữ Nghĩa Việt Nam – một con thuyền sẽ đắm.

Là thuyền trưởng, tất nhiên, ông Đinh Thế Huynh cũng sẽ phải … đắm theo. Vĩnh biệt Đinh Thế Huynh, một người gian mắc nạn, và xin cầu chúc cho vong linh ông sớm được tiêu diêu nơi miền cực lạc!

© Tưởng Năng Tiến

© Đàn Chim Việt

11 Phản hồi cho “Thúy đã đi rồi”

  1. Thu says:

    Bài viết của bác Tưởng lúc nào cũng làm tụi tui cười sặc sụa. Bác viết duyên dáng hóm hỉnh không chê vào đâu được …
    Người mà được bác ” khiều “thì đau thâm thuý… Đố mà vặn trả lại quan điểm của bác .Tui đồ rằng bác rất lanh , bác gái ở nhà đừng hòng bắt bẻ nổi bác chiện gì
    Người đọc bài viết của bác thì cười khoái trá, tuy bác viết quanh co mà đi thẳng vào vấn đề thật mạch lạc, đọc mà tâm phục khẩu phục
    Bác Tưởng à ..Bác cũng hỏng còn trẻ nữa ( tui đồ như dzị ..vì nhìn hình bác ) cho nên đừng để mai một các bài viết ” khiều độc đáo ” ở dạng ” sổ tay ” nữa , uổng phí lắm bác Tưởng ui .Bác nên gom hết các bài viết của bác mà in thành sách ( Tui và một số đông bạn bè của tui sẳn sàng ủng hộ chuyện nầy , miễn bác hú một tiếng )..để có thêm một trường phái viết ” khiều ” độc đáo lưu lại mai sau
    Tui viết mấy lời nầy bằng tấm lòng chân thật ” Có sao nói dzậy , người ơi ” ..Thề không chen chút ” nịnh nọt ” nào vào đây cả bác Tưởng ui

    • Lâm Hoàng Quỳnh Châu says:

      Bạn Thu nói chí phải, độc giả trong và ngoài nước khi đi tầu hỏa, xe đò có sách trong tay nhâm nhi đọc tiêu khiển, khỏi phải chờ lên mạng, thường trực trước màn hình vi tính khổ thấy mồ!

      Tôi giơ 2 tay ủng hộ ý kiến bạn Thu.

  2. Lâm Hoàng Mạnh says:

    @ Xin trích đoạn:

    Và đến “bước đường cùng” thì mới thấm thía hương vị của một tô phở, cho dù là phở quốc doanh. Nó có thể làm cho khách qua đường phải ứa nước miếng, và (đôi khi)… nước mắt:

    “Ngày ấy từ quê ra đèo nhau qua hiệu phở, ngửi mùi thơm ngào ngạt, quyến rũ, hai vợ chồng cùng thấy đói, thấy thèm và bảo nhau vào ăn phở. Nhưng khi lục túi chỉ còn ba trăm. Đúng một bát phở chín. Không hơn. Ai ăn? Bà bảo ông ăn vì trông ông gầy quá. Ông bảo bà ăn. Bà bảo thế thì không ai ăn cả. Cùng về. Nhưng ông biết bà đã nhịn thèm nhịn nhạt, nhường chồng con bao nhiêu năm rồi. Ông quát lên khe khẽ, bắt bà phải ăn. Bà vâng lời ông. Ông còn dặn bà: Nửa bát đầu cứ thế ăn, nửa bát sau hãy cho chanh ớt. Như vậy em được ăn hai thứ phở.” (Bùi Ngọc Tấn. Vũ trụ không cùng. Virginia: Tiếng Quê Hương, 2007. 32).

    Bác Tư Tiến ơi, bát phở của bác Bùi Ngọc Tấn mô tá “còn sang chán” vì có thịt, vợ ăn, chồng ngồi bên hít hà, đáng đồng tiền. Chứ một thời chúng tôi chỉ được “thưởng thức món phở không người lái”, có nghĩa phở chỉ có bánh + nước lõng bõng + với hành, rau thơm, ớt, chứ “đéo” có thịt mà vẫn phải húp xì xụp, ngon đáo để vì dạ dày lép kẹp.

    Cảm ơn bác Tiến nhiều, chúc bác viết khỏe và sắc như móng Mèo Mới.

    • AnLac says:

      Cám Ơn Bác Lâm Hoàng Mạnh đã vẽ lên bức tranh Hiện Thực xã hội chủ nghĩa lúc ấy có tên gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

      ” chứ “đéo” có thịt mà vẫn phải húp xì xụp, ngon đáo để vì dạ dày lép kẹp ”

      Khi nào có dịp sang Hoa Ky. MỜi Hai Bác ghé thăm. Em có biết Bác Tư Tiến

  3. Dân Quèn. says:

    Cảm ơn Bác Tưởng Năng Tiến rất nhiều ! Sau khi đọc xong bài viết này của Bác, tôi Ngộ ra Rất Nhiều :
    1.- Ở Đâu có sự Lãnh Đạo của ĐCS là ở Đó Có các Loại HTX , GHETTO …
    2.- Những Nhà Báo, Nhà Văn ở Các HTX Tư Tưởng Giỏi Thật, các Bác Biến Hóa Khôn Lường – Lúc (nói) thế này , Lúc (nói) thế kia … Có lẽ nhờ Duy Vật Biện Trứng ! Hình như Muốn Leo Cao thì Đều Phải Thế !!!
    3.- Sức Chịu Đựng của các Bác phải nói là PHI THƯỜNG … Những bằng ấy năm – nay mới Xịt ra được ! ( Đàn Ông mà Xịt ra được là lên Đỉnh đấy! ) – Xịt thường xuyên, bên Y Khoa họ bảo là Xả Xì-Trét … Rất tốt nhé , rất có lợi cho Sức Khỏe !
    4.- Các Bác phát hiện ra cái HTX đang Phá Sản, Cái ghetto Chật Hẹp,Mục Ruỗng sao không hợp sức lại phá cho Tan đi để Xây Dựng cái Mới ! Con Tàu (Tư Tưởng) sắp chìm, Thuyền Trưởng thì không nói , nhưng còn các Thuyền Viên, những người cùng Hội với các Bác… Chả lẽ, thấy Chết mà không Cứu Họ sao ? …
    5.- Các Bác , xin đừng chê trách Dân VN Ù Lì, Cam Chịu … Cũng như Các Bác thôi , họ đang chịu đựng và vì họ là Dân Ngu nên họ không thể Tự Tìm Đường để đi !

  4. Lê Thị Chính says:

    Chất “TNT” trong văn phong, bút pháp của ông càng ngày càng đậm đặc, lẫm liệt; lý luận dẫn chứng càng ngày càng hùng biện, chính xác, thật nức lòng !
    Xin mạo muội sửa hai lỗi chính tả :(1) “không sót một ai” thay vì “không xót một ai” (thực ra “không xót một ai” cũng có nghĩa, nhưng có lẽ không nằm trong văn cảnh này) và (2)”sỉ nhục” thay vì “xỉ nhục” .
    ltc

  5. Hồng Tâm says:

    Bác Tiến ơi! Trong bài này, bác có viết một đoạn về thần đồng Trần Đăng Khoa, nhưng không thấy bác kể về câu chuyện chiếc bật lửa. Tiếc qúa, theo tôi đó mới chính là một giai thoại tuyệt hảo của thần đồng.
    Hồng Tâm

    • LNguyen says:

      Nếu bác Hồng Tâm biết giai thoạ “chuyện chiếc bật lửa” của Trần Đăng Khoa thì kể cho mọi người đọc coi, Tôi tò mò muốn biết quá.

      Cảm ơn trước!

  6. hoài nguyễn says:

    Phản hồi này có vẻ hơi lạc đề một chút nhưng khổ nỗi từ lâu tôi vẫn thắc mắc là những lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản như nông đức mạnh , nguyễn tấn dũng hay ” ngôi sao đang lên ” đinh thế huynh ….. , họ đều đã có gia đình , có con cái , ở một lúc nào đó , nếu họ bắt gặp con của họ nói những lời dối trá hay ăn cắp chẳng hạn , tôi không biết họ sẽ phản ứng như thế nào ? họ sẽ bảo con của họ như một người bình thường khác là con không nên dối trá , không nên ăn cắp vì dối trá, ăn cắp … xấu lắm , không xứng đáng là một con người hay là họ sẽ mừng rỡ kêu lên :” Ô , may qúa , con …. giống cha là nhà có phúc ” !

  7. Trần-Huỳnh says:

    Kẻ gian,thường thì hay…sống lâu cho đến khi gần hạ màn mới ngủm,tay Đinh-thế-Huynh nầy,theo Tưởng-tiên-sinh ,hắn ta là người gian.
    Mới vừa sắm tuồng,sưả bộ lúng ta,lúng túng mặt mày đỏ kè bước ra khúm-núm chào kính khán-giả mà kẻ gian sắp phải thọ nạn thì e-rằng phần thiệt có nghiêng về gã ta quá không?.
    Nầy nhe!
    Công trình chạy chọt thiếu-điều hụt hơi,mất thở;vàng và đô-la xanh lót đường không biết là bao nhiêu mới lọt vào cửa quan vừa có tiền,vừa có tên-tuổi vừa có quyền hành nầy mà không nhẽ nào lại”hụt-hẫng” đến thế sao?.
    Chưa gở-gạt được gì sất!

Phản hồi