|

Ý niệm về sự trị vì của luật pháp trong thời đại toàn cầu hóa [2]

Tiếp theo phần I

 

Litigation-11
3. Luật Trị Trong Thời Đại Toàn Cầu Hóa

Đối với nhiều người –nhất là ở các nước độc tài — nếu nguyên tắc luật trị hội đủ những yếu tố mà các tác giả kinh điển đưa ra thì quả là gần đạt đến lý tưởng rồi. Tuy nhiên, qua một số nhà phê bình, chúng ta lại thấy lóe ra một khía cạnh khác của nguyên tắc này: đó là khía cạnh thực chất (substantial aspect). Trong vài thập kỷ nay, cả hai khía cạnh càng ngày càng được nghiên cứu sâu rộng hơn. Tại Hoa Kỳ, Hiệp Hội Triết Lý Chính Trị và Luật Pháp (American Society for Political and Legal Philosophy, ASPLP) đã có 2 hội nghị thường niên về nguyên tắc luật trị. Lần đầu tổ chức vào tháng Giêng năm 1992 mà kết quả cụ thể là quyển The Rule of Law, xuất bản năm 1994. Lần thứ hai tổ chức vào tháng Giêng năm 2010, với quyển Getting to The Rule of Law ra đời năm 2011.

Viện Nghiên Cứu Về Việc Quốc Tế Hóa Luật Pháp Hague (The Hague Institue for the Internationalisation for Law, HiiL) cũng đã tổ chức 2 hội nghị quốc tế. Lần đầu năm 2009, cho ra đời quyển Rule of Law Dynamics: In An Era of International and Transitional Governance ra đời năm 2012. Lần sau, năm 2012 với quyển The Rule of Law at National and International Levels xuất bản năm 2016.

Ngoài ra, còn có hằng chục công trình nghiên cứu khác mà tựa đề thường có nhóm chữ “The Rule of Law” kèm theo. Nhiều tác phẩm về chính trị, luật pháp, kinh tế, phát triển, trị quản (governance) xuất bản trong những năm gần đây hâu như không thiếu những chương hay mục bàn về nguyên tắc luật trị và ảnh hưởng của nó đối với lãnh vực nghiên cứu liên hệ.

Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, các chính phủ Hoa Kỳ, Canada, Úc, một số nước trong Liên Âu, cùng nhiều tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc đã dồn không ít công của để cổ vũ, huấn luyện và tổ chức giúp các nước Cộng Sản cũ, cũng như các nước đang phát triển, cải tiến guồng máy chính trị, hành chánh, kinh tế dưới ngọn cờ nguyên tắc luật trị.

Dưới đây là một số quan điểm về luật trị qua các nghiên cứu vừa kể.

Theo Joseph Raz, “Một hệ thống luật pháp không

dân chủ dựa trên sự phủ nhận nhân quyền, sự nghèo đói tràn lan, sự phân biệt chủng tộc, sự bất bình đăng về giới tính, và sự thù ghét về tôn giáo, có thể, về nguyên tắc, phù hợp với những đòi hỏi của nguyên tắc luật trị, hơn cả những hệ thống luật pháp của các nền dân chủ tiến bộ Tây phương … Nó sẽ xấu xa khôn lường, nhưng nó sẽ vượt trội về một phương diện: nó phù hợp về hình thức (conform) với nguyên tắc luật trị … Một đạo luật […] có thể hình thành chế độ nô lệ mà vẫn không vi phạm nguyên tắc luật trị.” (The International Rule of Law Movement, hiệu đính bởi David Marshall, do Human Rights Program Harvard Law School xb năm 2014, trang 6). Nói khác đi, nếu chỉ được chuyên chú khía cạnh hình thức thuần túy, thì người ta có thể tước đoạt nội dung của nguyên tắc luật trị.

· Donal Dworkin đề nghị một phương pháp lý luận

mới về luật pháp, và gọi đó là một hình thức lý luận luân lý (a form of moral reasoning). Ông cho rằng “Không gì bảo đảm rằng luập pháp chúng ta [Anh Quốc] sẽ công bằng (just). Điều đó không có nghĩa là chúng ta tách rời mối liên hệ giữa luật pháp và luân lý; mà điều đó có nghĩa là chúng ta làm phức tạp thêm sự liên hệ giữa luật pháp và luân lý.” Trong quyển Justice for Hedgehogs, ông cho rằng cái lớn lao của đời người là giá trị, mà nội dung là các câu trả lời cho các câu hỏi như: sự thực là gì, đời sống có ý nghĩa gì, những đòi hỏi về luân lý là những gì, đòi hỏi công lý được định nghĩa ra sao.

Theo ông, mỗi người đều có trách nhiệm về cuộc đời quý báu của mình, và có bổn phận tôn trọng những điều kiện mà theo đó những kẻ khác có thể thể hiện trách nhiệm của họ. “Đó là ý nghĩa của ‘uy tín con người’ (human dignity) đối với mình, và nó yểm trợ cả những nguyên tắc về trách nhiệm (the principles of responsibility), vốn rất quan trọng về khía cạnh công bằng mà con người may mắn có, lẫn những nguyên tắc về tương kính (the principles of mutual respect) được đại diện trong nguyên tắc luật trị. (Ronald Dworkin: An Appreciation do Jeremy J. Waldron đọc ngày 6/5/2013 tại London, nhân Lễ Tưỏng Niệm Dworkin). Nói cách khác, uy tín này bao gồm sự tôn trọng chính mình và sự đề phòng việc đối xử tùy tiện của kẻ khác đối với mình; và đó chính là ý nghĩa thực chất của nguyên tắc luật trị. (Getting to The Rule of Law, tr. 53-61).

Quan điểm của Dworkin quả đã làm sáng tỏ và làm phong phú thêm triết lý chính trị của luật pháp nói chung, và của nguyên tắc luật trị nói riêng. Nó cần phải đưọc cổ vũ trong mọi xã hội, và phải được coi là nền tảng, là bước bắt đầu cho mọi công cuộc cải tổ pháp lý và hành chánh, nhất là tại những quốc gia mà chính quyền độc tài và toàn trị. Tại các nước dân chủ, nếu quần chúng không nhận ra được rằng nhà cầm quyền đã hành xử tùy tiện, thì các tổ chức xã hội dân sự, các luật gia, các nhà trí thức, thậm chí các công dân bình thường sẽ tức khắc lên tiếng qua các phương tiện truyền thông, thậm chí phương tiện pháp lý, khiến nhà cầm quyền phải chùn bước và kiểm điểm lại hành động của mình. Trong khi đó, tại các nước độc tài, độc đảng, người dân vốn đã được giáo dục nhồi sọ từ nhỏ rằng lãnh tụ, rằng đảng cầm quyền luôn luôn lãnh đạo tài tình sáng suốt, không bao giờ sai, cho nên một mặt họ cảm thấy mình bé nhỏ, ít hiểu biết, do đó “phải” tuân lệnh nhà cầm quyền. Mặt khác, họ còn sợ hãi vì sự bất tuân hay chống lại dễ dẫn đến sụ trù dập, tù tội v.v. Trong những năm gần đây, tại Việt Nam cũng như tại nhiều nước khác, tình thế này được cải tiến một phần nhờ các phương tiện truyền thông, cũng như nhờ sự dũng cảm của một số nhà tranh đấu dân chủ, luật sư, bloggers –những đốm sáng trong các xã hội tăm tối. Mặc dầu một số những người này đã và đang bị đàn áp, tù đày, nhưng nhờ họ đưa tin và hướng dẫn, mà người dân bình thường đã bớt mặc cảm thấp bé, cảm thấy tự trọng và cảnh giác về cách hành xử bất hợp pháp của nhà cầm quyền, không những đối với mình, mà còn đối với những thành viên khác trong cộng đồng nữa. Đó là bước đầu tốt cho một xã hội luật trị.

Ronald Dworkin còn đi xa hơn nữa khi bàn về quyền vi phạm luật pháp. Theo ông, con người có bổn phận phải tuân theo luật pháp, nhưng đồng thời cũng có quyền hành động theo lương tâm của mình khi luật pháp xung đột với bổn phận. Ông chủ trương chính quyền phải có hành động cụ thể chứng tỏ rằng mình tôn trọng các quyền tự do cá nhân của công dân. Khi chính quyền không tôn trọng luật pháp, thì những cố gắng nhằm tái lập sự tôn trọng luật pháp sẽ khó đưa đến kết quả hữu hiệu. (Taking Rights Serioulsly, Contemporary Political Philosophy: An Anthology, 1997, tr. 328-340)

· Nguyên tắc luật trị được chủ trương áp dụng không

những trong phạm vi quốc gia, mà còn trong phạm vi quốc tế nữa. Trước năm 2012, theo Liên Hiệp Quốc, một nền luật pháp tôn trọng nhân quyền khi nó tôn trọng nguyên tắc tối thượng của luật pháp, sự bình đẳng trước pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật, công bằng trong việc áp dụng, tam quyền phân lập, nhân dân được quyền tham dự vào việc làm ra luật, tính chắc chắn của luật pháp, tránh hành động tùy tiện, minh bạch về thủ tục và pháp lý. (United Nations Secretary General 2004). Nói khác đi, tôn trọng khía cạnh hình thức của nguyên tắc luật trị là đủ bảo đảm nhân quyền.
Tuy nhiên đến năm 2012 thì quan điểm của LHQ đã thay đổi, chú trọng cả khía cạnh nội dung. Theo Tuyên Ngôn về Nguyên Tắc Trị Vì Của Luật Pháp của LHQ (The 2012 Declaration on The Rule of Law), thì giữa các quyền con người, nguyên tắc luật trị và dân chủ liên kết nhau và hỗ tương củng cố cho nhau. Louise Arbour, cựu Uỷ Viên Nhân Quyền LHQ (UN High Commissioner for Human Rights (2012), lý luận như sau về luật trị:

“Nguyên tắc luật trị chính hiệu là phần thực chất và bao trùm những đòi hỏi về quyền con người. Nó phản ảnh ý tưởng bình đẳng về thực chất: không phải chỉ có nghĩa là không ai được đứng trên luật pháp, mà còn có nghĩa là mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và chịu sự chi phối của pháp luật, và đuợc quyền hưởng sự bảo vệ và các lợi lộc một cách bình đẳng….Với sự hiểu biết có tính cách thực chất này, luật pháp phải phục vụ cho một mục tiêu cao hơn là chỉ điều hành đơn thuần và trật tự về cách cư xử của con người; luật pháp phải tăng tiến tự do, an ninh và công bằng, và phấn đấu đạt được sự quân bình toàn hảo giữa luật pháp và công lý.” (The International Rule of Law Movement, trang 7-8)

Vì LHQ có nhiều bộ phận thi hành, bảo vệ và cổ súy nguyên tắc luật trị, nên LHQ chia các hoạt động liên hệ đến nguyên tác này thành 3 nhóm sau đây nhằm mang lại hiệu quả, hiệu năng và trách nhiệm cho các cơ quan thuộc 3 nhóm đó:

(1) Luật trị ở mức độ quốc tế, gồm các hoạt động liên hệ đến Hiến Chương LHQ, các hiệp ước đa phương, các cơ chế giải quyết các tranh chấp quốc tế, công lý tội phạm quốc tế, san định và huấn luyện luật quốc tế, v.v.

(2) Luật trị với nội dung liên hệ đến tình trạng xung đột và hậu xung đột, gồm các hoạt động liên hệ đến công lý tại các quốc gia chuyển đổi chế độ; tiến trình tư vấn; các định chế nhân quyền trong nước, v.v.

(3) Luật trị với nội dung liên hệ đến sự phát triển dài hạn, gồm có các hoạt động tăng cường các định chế pháp lý và tư pháp; cảnh sát; cải tổ hình phạt; chống tham nhũng; tội phạm và lậu chuyển xuyên quốc gia; yểm trợ an ninh; giáo dục về pháp lý, v.v.

Trong các chương trình đào tạo và huấn luyện về nguyên tắc luật trị tại các quốc gia hậu Cộng Sản hay các chế độ giao thời khác, các cơ quan thuộc 3 bộ phận kể trên cũng như các quốc gia Liên Âu, Hoa Kỳ, Canada, Úc v.v. sử dụng một trong 2 phương pháp sau đây:

Phương Pháp Cải Tổ Từ Trên Xuống (Top-Down Reform), dựa trên các giả định là (1) Nhà nước và các định chế là trung tâm quyền lực; (2) Các định chế pháp lý và an ninh độc quyền sử dụng quyền lực; (3) Các định chế phục vụ nhân dân; (4) Luật pháp chế ngự các hoạt động của nhà nước và trách nhiệm của công dân (nguyên tắc luật trị).

Chủ trương cải tổ từ tên xuống bị chỉ trích từ nhiều lý do. Trước hết, một sự cải tổ sâu rộng như thế sẽ đòi hỏi nhiều công sức, và nhất là phải mất nhiều năm mới thấy được kết quả. Những người đang làm việc trong cơ chế sẽ bị biến mất hay cải tổ nhiều, cũng như những công dân hưởng lợi lộc nhờ cơ chế đó, thường phản đối và bất hợp tác. Kế đến, những chính trị gia, các quan chức ngành tư pháp và cảnh sát cảm thấy uy tín và quyền hành bị tước đoạt. Nói một cách tổng quát, người ta sẽ viện dẫn lý do văn hóa, cũng như sự chưa chuẩn bị về dân trí, chính trị để chống đối, bất hợp tác, trì hoãn hay chỉ hợp tác chiếu lệ với sự thay đổi mà những ý niệm, định chế bị họ coi là “áp đặt, “ngoại lai” hoặc cả hai. Công cuộc cải tổ tại Nga, và một số nước trước đây thuộc Liên Bang Xô Viết, và một số nước Đông Âu là những cải tổ tương đối không thành công theo phương pháp này. Cuộc cải tổ tại Iraq sau khi Sadam Hussein bị lật đật đổ là một trường hợp điển hình.

Phương Pháp Cải Tổ Từ Dưới Lên (Bottom-Up Reform)

Ở một nước chưa có một nền tảng về nguyên tắc luật trị, hay chưa có một ý chí chính trị vững chắc cho công cuộc cải tổ, thì làm sao phổ biến nguyên tác luật trị theo phương pháp “từ trên xuống” khi mà nhân dân không thể chờ đợi?

Những người chủ trương phương pháp “từ dưới lên” cho rằng nền tảng căn bản của nguyên tắc luật trị là các mối liên hệ. Các mối liên hệ quan trọng nhất ở cấp địa phương là mối liên hệ với nhau giữa cơ quan hành chánh địa phương, tòa án địa phương, công an cảnh sát địa phương, đại diện đảng cầm quyền địa phương vv. và đặc biệt là với nhân dân địa phương. Một điều khoản được long trọng ghi trong hiến pháp, một đạo luật được quốc hội thông qua, một văn kiện dưới luật được các phủ bộ hay địa phương ban hành lại được chính quyên địa phương giải thích một cách tùy thiện, bất nhất và áp dụng khắc nghiệt đối với nhân dân thì họ sẽ nghĩ ngay rằng những văn kiện này không tôn trọng nguyên tắc luật trị về hình thức lẫn nội dung. Tuy nhiên, nếu sự thi hành chỉ được nghiêm chỉnh thực hiện sau khi có sự tham khảo ý kiến rộng rãi giữa các cơ quan chính quyền với nhau, nhất là với các tổ chức xã hội dân sự, tôn giáo, và ý kiến của mọi tầng lớp nhân dân, thì nhân dân mới có thể xem đấy là nền tảng của nguyên tắc luật trị và từ đó các cải tổ “từ dưới lên” mới có cơ hội thành công.

· Ngày nay, với sự lan tỏa của hiện tượng toàn cầu

hóa, qua sự lớn mạnh của các tổ chức trực thuộc Liên Hiệp Quốc, qua sự tăng gia các tổ chức chính trị kinh tế vùng, qua nhiều hiệp định đa phương, thì ngay cả tại những quốc gia vốn có một nền tảng pháp lý truyền thống lâu dài và vững chắc, nguyên tắc luật trị của họ cũng chịu ít nhiều ảnh hưởng của các nguyên tắc luật trị, về phương diện hình thức lẫn nội dung, của LHQ và của các nước khác. Ngược lại ý niệm về nguyên tắc luật trị của họ cũng như của các luật gia cũng ảnh hưởng đến LHQ và các nước đối tác. Sự ảnh hưởng hổ tương của nguyên tắc luật trị của một quốc gia và thế giới bên ngoài là điều khó phủ nhận. Tuy nhiên, sự vận dụng nguyên tắc luật trị được nghiên cứu và đề nghị bởi các cơ quan LHQ và các học giả nổi tiếng để thay đổi nội dung và hình thức nguyên tắc luật trị trong nước đã bắt đầu từ nhiều năm nay và tại nhiều quốc gia; nhưng sự thiết lập nguyên tắc luật trị phổ quát (a universal rule of law) ở mức độ quốc tế, thì chỉ mới bắt đầu chưa tròn thập kỷ nay.

Tuy nhiên ảnh hưởng qua lại đó chỉ mới là hình thức. Sự tương tác về nội dung mới là quan trọng. Trong Phần Giới Thiệu quyển The Rule of Law xb 2016 đã đề cập ở trên, André Nollkaemper giải thích rằng “Quyển sách được hình thành là vì càng ngày sự chồng lấp lên nhau về nội dung giữa luật quốc tế và luật quốc gia càng tăng, đã khiến cho có mối tương tác giữa các định chế quốc tế và quốc gia. Luật quốc tế và các định chế quốc tế mô tả các tiêu chuẩn liên quan chẳng hạn đến nhân quyền, tội phạm, thương mại, và đầu tư, tất cả được qui định giống như bởi luật quốc nội. Sự thi hành các tiêu chuẩn này ở trong nước được xem xét lại bởi các định chế quốc tế, chẳng hạn như các tòa án về nhân quyền, tòa án hình sự, tòa hòa giải về đầu tư, và các bộ phận giám sát không có tính cách xử kiện (trang 5). Tổng Thư Ký LHQ Annan trong phúc trình lên phiên họp cao cấp của Đại Hội Đồng năm 2012, trước hết đề cập đến “sự tuân thủ” (compliance) luật quốc tế như là bước đầu để tăng cường nguyên tắc luật trị quốc tế (international rule of law). Sự giúp sức của các tòa án và các cơ quan phán xử đặc biệt quốc tế (international courts and tribunals) cho thấy rõ sự quan trọng của “sự tuân thủ”, được coi là yếu tố cốt lõi của pháp lý và nguyên tắc luật tri.

Tuy nhiên, trên thực tế, có không ít quốc gia tranh biện (contest) bằng cách tránh né, giải thích lại, tái xét, hay bác bỏ luật quốc tế hay qui định quốc gia thi hành luật quốc tế. Nói cách khác, nguyên tắc luật trị quốc tế còn đang thời kỳ phôi thai, chưa được lý thuyết hóa chặt chẽ, chưa thuyết phục được các quốc gia có chủ quyền phải tuân theo. Chúng ta không quá lạc quan là một ngày gần đây, nó được hoàn toàn tôn trọng; nhưng với sự phát triển của các tổ chức pháp lý, và sự tương tác giữa luật pháp quốc nội và luật pháp quốc tế, với sự hợp tác càng ngày càng tăng về kinh tế, thương mại, y tế, khí hậu v.v., các quốc gia sẽ thấy lợi hơn nếu tôn trọng nguyên tắc này – dĩ nhiên phải được hiện đại hóa và được chấp nhận.

4. Đo Lường Nguyên Tắc Luật Trị

Như đã nói, luật trị là một ý niệm trừu tượng, có tính cách qui phạm với những yếu tố mà các luật gia mong muốn nó có. Từ những yếu tố — đôi khi mang tên khác nhau –được khá nhiều các luật gia đồng ý rằng nếu hội đủ, thì nguyên tắc luật trị đáng được coi là mẫu mực. Hiện nay trên thế giới có khoảng 10 tổ chức hằng năm đưa ra những nghiên cứu của mình về luật trị. Lâu đời nhất có lẽ là Vera Innstitue of Justice, thành lập 1961 tại Hoa Kỳ, chuyên nghiên cứu về tình hình pháp lý tại Hoa Kỳ. Năm 2008, Vera hợp tác với tổ chức World Justice Project — một sáng kiến của America Bar Association—mới ra đời 2 năm trước đó– để đưa ra dự án Vera-Altus Indicators Project nhằm bổ sung Rule of Law Index hiện hành bằng cách thích ứng các tiêu chuẩn pháp lý (de jure standards) với những biện pháp thực tế (de facto measures), và được sử dụng trong các cuộc thăm dò tại 4 thành phố lớn: New York City (Mỹ), Santiago (Chile), Lagos (Nigeria) và Chandigarh (Ấn Độ). Sau đó, Vera hợp tác với Liên Hiệp Quốc (bộ phận duy trì Hoà Bình) để nghiên cứu nguyên tắc luật định dưới khía cạnh an ninh trật tự tại Haiti, Liberia và South Sudan, và đưa ra cẩm nang UN-backed Guide for Rule of Law Indicators mà khi công bố ngày 6/7/2011, Ivan Sinomovic, Phụ Tá Tổng Thư Ký Đặc Trách Nhân Quyền, đã tuyên bố: “Nguyên tắc luật trị là điều kiện tiên quyết nhằm đạt được 3 mục tiêu trụ cột lớn của Liên Hiệp Quốc –hòa bình và an ninh, phát triển và các quyền con người.” (The Rule of Law is a pre-condition for achieving the three pillars of the United Nations –peace and security, development and human rights.).

Ngân Hàng Thế Giới cũng có nghiên cứu về luật trị, nhưng trong khuôn khổ một đề tài rộng rãi hơn –chúng tôi tạm gọi là trị quản (governance), một lãnh vực được khai thác mạnh mẽ từ sau cuộc cải tổ hành chánh trên toàn thế giới khởi sự từ đầu thập niên 1990; bao gồm cai trị trong lãnh vực công và quản lý trong lãnh vực tư.

Sau đây, chúng tôi xin đề cập đến vài công bố hằng năm của World Justice Project. Với sự yểm trợ tài chánh ban đầu năm 2006 của Bill & Melinda Gates Foundation, hiệp hội các luật gia Mỹ American Bar Association nói trên, một tổ chức vô vị lợi, còn được sự trợ giúp của nhiều tổ chức, công ty cũng như cá nhân, bắt đầu nghiên cứu sự thi hành nguyên tắc luật trị, dưới cái tên World Justice Project (WJP). WJP phân chia nguyên tắc luật trị ra làm 4 nguyên tắc dưới đây:

1. Chính phủ và các viên chức, cơ quan thuộc quyền chịu trách nhiệm trước pháp luật;
2. Các đạo luật rõ ràng, được công bố, ổn định và công bằng, và bảo vệ các quyền căn bản, kể cả sự an toàn của con người và tài sản;
3. Thủ tục, theo đó các đạo luật được thì hành, quản lý và cưỡng hành, được tiếp cận một cách công bằng và có hiệu năng;
4. Các đạo luật được củng cố, và sự tiếp cận công lý được cung ứng bởi các viên chức cưỡng hành, luật sư, hay những người đại diện, những vị quan tòa tất cả đều có đủ khả năng, độc lập, và đạo đức, mà những người này phải đủ số, có nguồn gốc thích hợp, và phản ảnh được đặc trưng của cộng đồng mà họ phục vụ.

Bốn nguyên tắc trên, theo J. Heckman, R. Nelson & L. Cabatingan (Global Perpectives on The Rule of Law, tr.255) ) có thể xếp tương đương với 4 nguyên tắc ngắn gọn và quen thuộc do R.H. Fallon, Jr. đưa ra năm 1997, tuần tự như sau:
1. tính siêu đẳng của quyền lực pháp lý (legal authority) đối với công dân và các giới chức chính quyền ;
2. tính ổn định của các luật lệ,
3. tính hiệu quả của luật lệ, và
4. tính khả dụng (availability) của các định chế cưỡng hành không thiên vị.

Ngoài ra, Fallon còn thêm một nguyên tắc nữa mà WJP không có. Đó là nguyên tắc về khả năng của luật lệ, những tiêu chuẩn hay những nguyên tắc hướng dẫn con người trong cách xử sự.
Trở lại với WJP, người ta nhận ra rằng mỗi năm, 4 nguyên tắc lớn này lại được phân ra thành một số yếu tố (factors) để tiện việc thăm dò: 16 yếu tố vào năm 2009; 10 vào năm 2010; 11 vào năm 2011; 9 vào năm 2012 v.v. Đến năm 2016, thì 4 nguyên tắc đó được chia ra làm 8 yếu tố (lại còn được tế phân thành tổng cộng 48 chỉ số, indicators), và được áp dụng để nghiên cứu cho 113 quốc gia. Dưới đây là điểm số và thứ hạng của mỗi yếu tố cho trường hợp Việt Nam năm 2016.

Các Yếu Tố Điẻm Số Thứ Hạng

(0 – 1.0) (trên 113)
1.Hạn chế đối với quyền
lực của chính quyền 0, 49 81
2. Không nhũng lạm 0, 45 67
3. Chính quyền cởi mở 0, 43 92
4. Các quyền căn bản 0, 54 68
5. Trật tự và an ninh 0, 79 35
6. Sư cưỡng hành luật lệ 0, 43 91
7. Công lý dân sự 0, 47 80
8. Công lý hình sự 0, 50 51

Nguồn: WJP Rule of Law Index 2016

Thật ra, điểm số, chỉ số, thứ hạng v.v. đối với một ý niệm trừu tượng và qui phạm như nguyên tắc luật định chỉ có giá trị tương đối, không giống như các độ đo trên hàn thử biểu. Khi đưa ra những nguyên tắc, những yếu tố và những chỉ số, các nhà nghiên cứu luôn cân trọng hai tính chất “mỏng” (thin) và “dày” (thick) của ý niệm luật định. Quá “mỏng” có nghĩa là chú trọng rất ít đến các yếu tố thuộc lãnh vực hình thức; quá “dày” có nghĩa là chú trọng quá nhiều đến các yếu tố thuộc lãnh vực nội dung. Văn hóa của một quốc gia, trong đó có phong tục, tập quán, tôn giáo, tình trạng dân trí, sắc tộc v.v. là một trong những tiêu chuẩn quan trọng dùng để cân trọng trong việc nghiên cứu và so sánh.

Kết Luận

Ý niệm luật trị được hồi sinh và phát triển chừng vài chục năm nay. Trong phạm vi quốc gia, nó được xem như là điều kiện căn bản để kiện toàn hệ thống luật pháp. Tính tiêu cực của nó là nhằm ngăn chặn sự tùy tiện, bốc đồng và vô lý của nhà cầm quyền; đặt vấn đề đối với tính chính đáng của nguồn gốc quyền lực. Kế đến nó còn nhằm bảo đảm mọi công dân được đối xử bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt đối xử. Khi nghiên cứu khía cạnh tiêu cực này, người ta có thể sẽ không lưu ý là nhiều khi luật pháp được áp dụng nhất quán và hợp lý, nhưng lại đưa đến hậu quả xấu, không như ý muốn của giới hữu quyền cũng như của công dân.

Trái lại, tính tích cực của nguyên tắc luật trị chú trọng đến nội dung và các cứu cánh mà nó phải phục vụ. Các cứu cánh này bao gồm nhân quyền, dân quyền, dân chủ, công lý, công bằng xã hội — quả là những phạm trù triết lý chính trị lớn lao. Vô hình chung, vì “nhân danh” các mục tiêu, hay vì quá hăng say lao về các mục tiêu chưa được xác định rõ ràng, mà nhà nước có thể xem nhẹ giá trị của nguyên tắc luật trị, cũng như các thủ tục xét xử, hay cả quyền lợi của thiểu số.

Hiểu được tính tiêu cực và tích cực của ý niệm về sự trị vì của luật pháp, người công dân bình thường cũng có thể rút ra những kết luận khách quan thích hợp về các hoạt động của chính quyền trong cả ba lãnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp từ cấp trung ương đến điạ phương. Vì thế truyền bá và giáo dục rộng rãi ý niệm này đến quần chúng –đặc biệt là tại các nước đang phát triển mà trình độ văn hóa và ý thức chính trị còn thấp– là bước đầu cần thiết và vững chắc để tạo dựng một xã hội trật tự, để từ đó đưa đến no cơm ấm áo.

Áp dụng nguyên tắc “luật trị quốc nội” đã khó, áp dụng nguyên tắc “luật trị quốc tế” lại càng khó hơn, vì những định nghĩa bất đồng, nhất là đối với những mục tiêu lớn như hòa bình, trật tự xã hội, công bằng nhân loại v.v. cũng như không có những phương thức cưỡng hành rõ ràng đối với những nước có chủ quyền, nhất là đối với những nhà nước ngang ngược, hai mặt (double standards) và thủ đoạn, chỉ biết sử dụng luật kẻ mạnh. Nguyên tắc luật trị quốc tế chỉ mới bắt đầu, và sự đồng thuận về hình thức lẫn nội dung còn đòi hỏi nhiều thử thách. Tuy nhiên, bắt đầu cũng có nghĩa là lóe lên những tia hy vọng.

Virginia, tháng 11 năm 2016

Lê Văn Bỉnh

———————————-

Tác giả là cựu sinh viên Đốc sự khóa 10, Cao Hoc 2 Ban Kinh Tế Tài Chánh, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Saigon .  Du học Hoa Kỳ (1972-74), xong M.A. (Economics).Về nước, phục vụ tại Khu Chế Xuất Saigon và dạy học tại Đại Học Kinh Thương, Đại Học Cửu Long v.v…

Ông từng có bài viết kinh tế, chính trị  đã đăng trên các báo Việt ngữ và các trang mạng hải ngoại.

3 Phản hồi cho “Ý niệm về sự trị vì của luật pháp trong thời đại toàn cầu hóa [2]”

  1. KHOA HỌC PHÁP LUẬT TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

    Thời đại toàn cầu hóa hiện nay thực sự chỉ là thực tế mở rộng của những khái niệm quốc gia trong quá khứ. Mà như đã nói, nếu ý nghĩa pháp trị là nguyên tắc tự do dân chủ đúng đắn hay khoa học khách quan đúng đắn trong mỗi quốc gia thì ở chỗ toàn cầu hóa nó cũng chỉ phải được nâng cấp và mở rộng ra như vậy.

    Thời đại toàn cầu hóa là thời đại đi vào phổ quát của toàn thế giới về mọi mặt, mọi phạm vi và lãnh vực. Như vậy có nghĩa tính khoa học, tính nguyên lý, tính khách quan, tính hiện thực phải là nguyên tắc được áp dụng mở rộng ra mọi phương diện toàn cầu mà không gì khác. Có nghĩa nền pháp tri đúng đắn của từng quốc gia nay phải đưa ra áp dụng đúng đắn trong nền pháp trị toàn cầu đó là điều hoàn toàn tự nhiên nhất.

    Nói cách cụ thể, ý nghĩa toàn cầu hóa là ý nghĩa khoa học trong chính trị xã hội một cách thực tế, không phải chỉ cảm quan, ý đồ hoặc sự tùy tiện nào đó. Khoa học là cái phổ quát thì nhân loại cũng phải đi đến chỗ phổ quát là như thế. Nhưng đi đến bằng chính đôi chân thực tế và bằng đầu óc sáng suốt, khoa học của mình, không phải đi đến như có thời kỳ trước kia bằng đôi chân xiềng xích, bằng ý thức hệ huyễn tưởng tượng tượng, bằng mơ mộng chủ nghĩa cộng sản hão huyền trên cơ sở cảm tính, giả tạo và ép buộc.

    Và nếu trong một nước, ý nghĩa pháp trị không cho phép bất kỳ cá nhân nào tùy tiện trong nền luật pháp phổ biến trên nền tảng khoa học khách quan chung, thì trong thời đại toàn cầu của toàn thế giới cũng thế, không bất kỳ đất nước nào được vượt rào, tùy tiện dùng luật rừng cho toàn thể thế giới nhân loại. Kiểu Bắc Triều Tiên hay Trung Quốc hiện nay chính là kiểu khuynh hướng như thế.

    Ngày xưa loài người còn lạc hậu về mặt nhận thức, cho rằng luật pháp chỉ áp dụng được trong từng quốc gia mà không thể áp dụng được trên toàn thế giới, bởi vì không có chủ thể pháp luật nào bao trùm lên cả thế giới được. Đó chính là thời kỳ thực tế của Đệ nhất Thế chiến, Đệ nhị Thế chiến, thời kỳ Chiến tranh lạnh ý hệ vửa qua trong thế kỷ trước mà mọi người đều biết. Đó thật ra chỉ là thời khoa học kỹ thuật chưa thật phát triển, nhận thức xã hội loài người chưa hoàn toàn phát triển.

    Ngày nay thời đại số hóa toàn diện trong mọi lãnh vực khoa học kỹ thuật, nhân loại đã tiến bộ vượt bậc và còn tiến bộ vượt bậc nữa trong tương lai. Vậy thì trong thời đại mới này, ngay luật pháp cũng được hiểu dưới dạng khách quan số hóa trong não trạng nhân loại, đó là nguyên lý tự do dân chủ phát triển không ngừng nhưng lại bất biến mặt ý nghĩa và giá trị phổ quát. Chính pháp trị, tự do dân chủ, nguyên lý hay ý nghĩa và giá trị khoa học phổ biến, cùng ý nghĩa toàn cầu hóa hoàn toàn thực tế và thực chất ngày nay là như thế. Nó sẽ đẩy lùi mọi thứ ý thức hệ giả tạo vu vơ tai hại nào đó trong quá khứ mà chính loài người đã từng được biết đến.

    ĐẠI NGÀN
    (29/01/17)

  2. dan chai luoi says:

    Nguoi doc duoc tieng anh ,dau can doc thu DICH.Nguoi dich/viet bai nay con do :”Uy tin con nguoi=Human dignity”

Leave a Reply to NHN