|

Tồn Tại – ước nguyện muôn đời

“Xin lỗi mẹ, con đã dấu vệt máu bầm trên vai
Chẳng biết từ dùi cui hay nắm đấm
Nhưng mẹ ơi! khi bị kéo lê trên đất
Là lúc con nhìn thấy được cả bầu trời xanh
Là lúc con cảm nhận nỗi tủi nhục của dân mình
Nếu hôm nay con không có mặt

(Hương Giang)

 

Những câu thơ trên nhắc tôi nhớ đến lời chào tạm biệt vào cuối cuộc phỏng vấn của một nhà hoạt động: “chúc mọi người sáng suốt, vững vàng để chúng ta cùng tồn tại.” Cùng tồn tại là điều mà nhiều nhà hoạt động hôm nay đang vô cùng lo lắng, nhất là khi mỗi ngày phải nhìn thấy hình ảnh xác cá chết trắng dọc theo bờ biển từ Hà Tĩnh đến Huế. Xác cá hay xác của dân mình trên một mảnh đất đã khô kiệt từ tài nguyên đến linh hồn con người! Nhìn quanh, đâu đâu cũng toàn nỗi hoang mang; những câu hỏi cứ treo lơ lửng không tìm thấy câu trả lời. Liệu dân tộc mình còn tồn tại được bao lâu giữa một rừng hóa chất độc hại trong thức ăn, trong nước uống hàng ngày? Liệu dân mình có nhìn thấy hiểm họa trước mắt? Làm thế nào để đánh thức nhau, để vượt qua sợ hãi khi đất nước đang ngắc ngoải từng ngày trong tay những tên thái thú và gã hàng xóm hung bạo?

***

Đất không còn lành nên chim không đậu cho dù đó là mảnh đất của ông cha mình. Mốc điểm của những ngày tháng này làm người ta nhớ đến lớp người đã âm thầm rời bỏ đất nước hơn 40 năm trước. Nếu xưa ta đau đớn biết bao thì nay hoàn toàn ngược lại; người Việt đang ước ao, khao khát tìm mọi cách để thoát khỏi Việt Nam. Không ai có thể sống bình yên khi nhìn Cửu Long giang khô hạn, chín con rồng không còn ôm những cánh đồng lúa chín mênh mông; xã hội bất ổn dẫy đầy bất công; chính phủ nhũng lạm, gian dối; người dân đói nghèo sẵn sàng thuốc chết nhau bằng thực phẩm độc hại; lãnh đạo khiếp nhược tiếp tục dập đầu trước mẹ ghẻ Bắc Kinh …

Nhiều lúc chúng ta vẫn tự thầm hỏi có hay không những tấm lòng, có hay không những giọt lệ nhỏ xuống trước những tai ương nối tiếp tai ương? Các thế hệ tương lai, con cháu chúng ta sẽ sống ra sao? Ai đã làm gì đất nước này? Chúng ta đã làm gì đất nước này? Đâu phải ai ai cũng có điều kiện dễ dàng để rời bỏ Việt Nam ngoại trừ thiểu số giàu có, hay các quan chức CS và con cháu của họ. Để tồn tại, để sống còn là chuyện của tất cả chúng ta, của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam.

050216 Bieu tinh 2

Các cuộc biểu tình vào những ngày cuối tuần của tháng Năm đã cho thấy khá rõ suy tư của nhiều người dân thầm lặng. Với sự kiên cường lạ lùng trước các trấn áp tàn bạo của đội ngũ công an, dân phòng, … đã lần đầu tiên cho thấy khát vọng tồn tại của dân ta. Có rất nhiều những khuôn mặt trẻ, rất nhiều những khuôn mặt lạ lần đầu tiên xuất hiện. Đã có đánh đập, đã có đổ máu nhưng hình ảnh người mẹ trẻ với khuôn mặt sưng húp ôm chặt lấy con chị trong vòng tay đã nói lên thật nhiều điều. Nếu nhìn về mặt tích cực, thái độ hung hãn – bất chấp người dân, đánh cho sợ – của lãnh đạo đảng đã thực sự giúp cho nhiều người thức tỉnh. Im lặng không còn là an toàn. Im lặng là chấp nhận cho chính mình và các thế hệ tương lai chết dần trước những tai hoạ do sự tham lam của lãnh đạo CS đem lại.

Điều đáng kể là đã có nhiều bậc cha mẹ đem theo con nhỏ trong các cuộc biểu tình này. Một số người bị bắt ném lên xe buýt đã run rẩy lo sợ khi các con nhỏ của họ bị bỏ lại trên đường phố. Bài học đầu đời cho các bé không êm ái như những trẻ em của các quốc gia khác. Người mẹ trẻ Ubee đã trao cho con gái chị bài học về quê hương có cả dùi cui và nước mắt. Tôi chắc bé Saphie sẽ nhớ mãi ngày hôm ấy.

Cách đây không lâu, tôi được xem một đoạn phim ngắn (video clip) của một bé gái Nhật Bản. Em chỉ độ bảy tám tuổi thôi, nhưng hành động của em chắc đã khiến nhiều người phải suy ngẫm về những giá trị cốt lõi của công dân tí hon này. Em bé mặc một bộ đồng phục áo trắng, váy xanh, đeo ba lô bình thường như bao cô bé tiểu học khác. Em đang trên đường đến trường. Đến một đoạn băng qua đường thì có một chiếc xe đậu lấn vào làn ranh dành cho người đi bộ. Với thái độ rất tự nhiên, bé gái dừng lại trước đầu xe, em chỉ cao hơn mũi xe một cái đầu. Em dơ hai ngón tay ra hiệu cho ngưới tài xế phải lùi lại, khi xe đã lùi một quãng, em lại bước thêm vài bước nữa để buộc xe lùi đúng lằn qui định. Lúc ấy đèn xanh bật lên, nhiều xe khác đã chạy qua nhưng chiếc xe nọ vẫn phải dừng vì em còn đứng đó. Chờ cho đến khi xe đậu vào đúng vị trí cho phép, em từ từ quay lại lằn ranh dành cho người đi bộ rồi lon ton chạy qua đường.

Chỉ với sự nhắc nhở của một bé gái, tôi đoan chắc là từ giây phút ấy trở về sau, người tài xế kia sẽ không bao giờ đậu xe lấn vào lằn ranh dành cho người đi bộ. Ý thức của một công dân đã được các bậc cha mẹ phả vào tâm hồn của bé gái ấy ngay khi còn thơ bé. Ý thức và nền tảng ấy quan trọng vô cùng, khi chỉ ra cái sai trái của người tài xế, bé gái ấy đã chứng tỏ sự hiện hữu của mình.

Chúng ta có hơn 90 triệu dân nhưng chúng ta đã khước từ sự hiện hữu đó. Khi mất Ải Nam Quan, đa số dân ta không dám lên tiếng. Khi lãnh đạo dâng nhượng lãnh thổ và lãnh hải cho Trung Quốc, ta im lặng. Ta cam chịu ngay cả khi Trung Quốc bắn chết 9 ngư dân ở Thanh Hóa lần đầu tiên. Để rồi kể từ ấy đến nay, trong tay lãnh đạo CS, đất nước phải gánh chịu hết thảm họa này đến thảm họa khác. Kịp đến khi ta nhận ra thì Cửu Long đã khô hạn, cá chết, muối nhiễm độc… kẻ thù và sự diệt vong đã đứng hẳn trong nhà.

***

Một điều mà xưa nay dân tộc ta luôn ghi nhớ : để được tồn tại đến ngày hôm nay, bên cạnh một đất nước bá quyền từng chinh phạt và muốn nuốt chửng cả thế giới – chưa hề là một phép lạ. Không phải chỉ ngày hôm nay mà hàng nghìn năm trước, rất nhiều lần Trung Quốc đã mong muốn nô lệ hóa và bóp chết dân tộc ta. Nhưng sự hung hãn của quân xâm lược phương Bắc ngày trước cũng chính là thước đo lòng ái quốc của quân dân Đại Việt. Cũng như vậy, sự đàn áp hung bạo của lãnh đạo cộng sản những ngày qua đang là thước đo sức mạnh trỗi dậy của người dân hôm nay.

Chỉ từ hơn một tháng qua, chúng ta mới dám hi vọng về sự tồn tại của dân tộc mình trước sự xuất hiện của Lòng Dân qua những khuôn mặt rất trẻ, rất vững vàng trong đoàn biểu tình. Nhưng muốn tồn tại, chúng ta cần phải có Số Đông một dạ một lòng. Số Đông của những bậc cha mẹ thương yêu con cái và biết cách âu lo cho tương lai của chúng; của thanh niên thiếu nữ biết quên nỗi sợ áo cơm mà nhớ đến nỗi sợ diệt vong; của kẻ sĩ tỉnh thức thấy rõ cái danh hão là nhục, cái khôn lỏi là hèn. Và sau cùng, của tầng lớp công an hung ác đang tiếp sức cho hệ thống bạo lực; sớm biết dừng lại vì hiểu rõ hiểm nguy của chính mình trong tình trạng đất nước chạng vạng sắp tới bình minh.

Để thể hiện sức mạnh hiện hữu thực sự, Số Đông ấy cần học cách đứng sát cạnh nhau để bù đắp những khiếm khuyết và bảo vệ nhau trong lúc nguy nan. Hãy sáng suốt và bao dung cất giữ vào quá khứ tất cả những lỗi lầm của nhau hôm qua, để kẻ thù không thể tiếp tục tung hoả mù khiến chúng ta hao tổn sức lực đánh nhầm vào anh em. Số Đông ấy lúc đó mới thực sự là con dân của 4000 năm, của Lý Thường Kiệt, của Trần Hưng Đạo, của Quang Trung Nguyễn Huệ,… tự tin, vững vàng, bước tới giành lại sự tồn tại mà ông cha ta đã gìn giữ suốt bao đời.

Những cuộc biểu tình vừa qua đã cho thấy rõ khát vọng tồn tại của dân ta. Nhưng đó chỉ mới là những đốm lửa nhỏ, chúng ta cần kiên trì tiếp lửa cho nhau để tạo thành số đông, đủ sức giải quyết bằng được những vấn nạn của đất nước. Biển chết, muối nhiễm độc, đất ngập mặn… tổ quốc đang lâm nguy từng ngày. Số phận Việt Nam nằm trong tay của người dân Việt Nam. Hãy chọn lựa chỗ đứng của chính mình. Cùng lúc, lãnh đạo CS cũng muốn tồn tại. Họ muốn trở thành Theinsein hay ra đi như Gaddafi là chọn lựa của họ. Chúng ta muốn duy trì Việt Nam hay trở thành Tây Tạng thứ nhì là chọn lựa của chính chúng ta./.

© Đàn Chim Việt

 

1 Phản hồi cho “Tồn Tại – ước nguyện muôn đời”

  1. CHUYỆN KHÔNG HỀ NHỎ

    Bất kỳ người Việt Nam nào chỉ cần giở đọc lại Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi hay Hịch Tướng Sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đều thấy được ý chí kiêu dũng của dân tộc Việt Nam ngày xưa thế nào và lòng thương nước thương dân của người lãnh đạo đất nước ngày ấy ra sao trước mọi đại họa xâm lăng của Trung Quốc. Hay cả bài Nam Quốc Sơn Hà của danh tướng Lý Thường Kiệt, được coi như bản tuyên ngôn độc lập ngàn đời của đất nước cũng thế. Ngày nay chỉ những người dốt nát, không biết chữ, hay không có ý thức, tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc phải có mới không biết đến hay không từng đọc những văn kiện đầy hào hùng, dũng mãnh của người xưa như thế.

    Nhưng từ khi cách mạng tháng tám 1945 đến nay, qua những ngày chiến tranh liên miên, người ta chỉ thấy mọi tàng lớp thanh thiếu niên hầu như chỉ được học về ý thức hệ vô sản quốc tế, học về chủ nghĩa vô sản quốc tế, học về ca ngợi và ca ngợi tình hữu nghị đồng chí anh em giữa các nước cộng sản, như thế cũng có nghĩa tinh thần và ý thức dân tộc đã từng một thời lu mờ hay mai một, nó dường như không còn mặn mà như xưa nữa, cũng chẳng mấy ai quan tâm đến. Chỉ trừ ít trường hợp khi chiến tranh biên giới nổ ra mới được nhắc đến, nhưng cũng chỉ giai đoạn, thoáng qua, rồi cũng lại đâu vào đó.

    Ngày nay nguyên tắc bốn tốt và mười sáu chữ vàng, hầu như trong xã hội ít ai được biết tới, nhưng đó là ý nghĩa có thật, mọi cán bộ cấp trên hay những người đang nắm quyền đều biết, mọi người nào vào mạng toàn cầu đọc đều biết. Nhưng trong thực tế, chiến tranh biên giới đã diễn ra thế nào, kéo dài trong bao lâu, các hậu quả và thiệt hại trong và sau chiến tranh ra sao, đến nay trong toàn dân cũng chưa có ai được biết một cách cụ thể và chi tiết. Chỉ có biết chung chung là Việt Nam chiến thắng trước Trung Quốc, giống như trong hai lần chiến tranh khốc liệt trước đó vậy thôi. Đó là thói quen chỉ có lãnh đạo biết tất cả còn dân không biết gì cả. Đó cũng là sự khác nhau giữa những nước có tự do báo chí và không có tự do báo chí, hay nước dân chủ và độc tài là thế.

    Chỉ trừ ra ngày nay mọi người dân ở các địa phương đều biết rõ và chứng kiến những tệ trạng người Trung Quốc vào đất nước ta ra sao, những nơi nào biển đảo bị xâm lấn hay cưỡng đoạt, các ngư trường nay bị thu hẹp thế nào, người TQ ngược đãi, bắt bớ ngư dân ta bất kỳ khi nào họ muốn ra sao, rồi chuyện cá chết trắng biển, chuyện những vùng định cư của họ không người Việt Nam nào được vào chính trên đất nước ta đều hoàn toàn không còn là chuyện nhỏ nữa. Những sự việc như thế cứ càng ngày càng diễn ra, càng gia tăng cường độ và tần suất cũng như tệ trạng, đó là những điều ngày nay nhiều người VN ở khắp nơi băn khoăn không ít.

    Thế nhưng trước đây phía VN, cầm quyền cũng như báo chí, chỉ biết nói đến ”tàu lạ” đâm chìm tàu ta và bắt đi ngư dân ta mà không hề dám nói đích danh Trung Quốc, thế thì điều ấy thế nào. Có phải sự ngại ngùng, sự sợ hãi chiến tranh, sự khuất phục, sự dưới cơ, sự nhẫn nhục và nhục nhã chịu đựng cái được gọi là tình hữu nghị láng giềng anh em môi hở răng lạnh, hay vì ngổn ngang bao lý do nào khác ? Cái lợi và cái hại của việc cấm đoán thông tin, bưng bít thông tin hầu như đã luôn trở thành một thói quen, một chính sách chủ trương luôn có như thế, thì thử hỏi cuối cùng ai có lợi, chính Trung Quốc có lợi, nhà cầm quyền VN có lợi, hay nhân dân và đất nước nói chung có lợi ?

    Đặc biệt từ lâu nay đã râm ran trong dân cũng chỉ một số ít và chỉ vài nơi về Hiệp ước Thành Đô mà toàn dân hầu như mù tịt và hầu như ít có ai biết tới, thế thì chuyện này có thực hay không, cả chính giới cầm quyền cao nhất qua nhiều lớp rồi có biết thật hay không ? Đó đều là những câu hỏi chua chát và hiểm nguy mà cả báo chí cũng không hề được phép nói và cũng chẳng bao giờ được công khai nói tới. Thế thì quyền lực tối cao của đất nước ngày nay là ở đâu, do ai quyết định, và quyết định ra sao cũng đều hoàn toàn mù mờ chẳng có ai hiểu rõ đầu đuôi thế nào cả. Tất cả những điều đó trong quá khứ, trong hiện tại, cũng như cả trong tương lai thuộc trách nhiệm những ai, trách nhiệm đó có thật lả vinh quang hay nhục nhã, và ngay như người dân có quyền nói lên thực chất tự lòng mình, đó là vinh hay nhục được không, đó là đúng hay sai được không, quả thật đó là những điều trớ trêu nhất mà ngày nay hầu như cả đất nước chỉ biết tới đâu hay đấy mà không hề biết trước chính xác, hay cũng không hề được quyền tự lo liệu chung về điều gì cả, chuyện không hề nhỏ tự nhiên ngày nay chính nó là thế.

    ĐẠI NGÀN
    (01/8/16)

Phản hồi