|

Võ Văn Kiệt và Võ Văn Kẹt

VovanKiet

(Góp vài chi tiết với « Linh – Kiệt và món bê thui » của Trần Hồng Tâm trên Đàn Chim Việt)

Sách « Bên Thắng Cuộc » của Huy Đức kể lại nhiều chuyện bí ẩn trong hàng ngũ cộng sản mà người ngoài, nhứt là người miền Nam, ít ai biết. Một số chuyện liên hệ tới giới chức miền Nam cũ trong cải tạo và vượt biên dưới thời ông Võ văn Kiệt. Tác giả kể hấp dẫn nhưng không đúng sự thật bởi chính người trong cuộc đọc qua chuyện của mình đã phải ngạc nhiên. Nhưng dầu sao « Bên Thắng Cuộc » vẫn có giá trị thông tin khá hơn nhiều sách khác của người cộng sản viết.

Dân Nam kỳ cũng kỳ

Trong lúc làm việc ở Sài Gòn, ông Kiệt được cảm tình của một số trí thức miền Nam thua cuộc. Họ chụp ông Kiệt như cái bụp dừa để bám, không phải để lội qua sông, mà để khỏi chết chìm. Ông Kiệt lúc làm Thành ủy Sài gòn đã dám mời một số trí thức miền Nam, sau thời gian học tập, giúp ông giải quyết những khó khăn kinh tế xã hội do chánh sách bao cấp theo cách quản lý xã hội chủ nghĩa gây ra để kịp tránh cho Việt Nam khỏi bị sụp đổ. Khi nghe tin trí thức miền Nam vượt biên bị bắt và ở tù, ông lập tức cho người đi lãnh ra và giữ họ làm việc với ông. Bày tỏ sự cởi mở với anh em miền Nam và niềm tin tình hình Việt Nam sẽ khả quan, ông vui vẻ nói: “Mấy anh ở lại làm việc. Năm năm nữa mà Việt Nam không khá thì tôi để mấy anh đi tự do”.

Một anh thưa: “Nếu năm năm nữa mà Việt Nam không khá, thì ông ra đi, để cho tụi tui làm việc. Chớ sao tụi tui lại ra đi?” Thế là cùng cười với nhau. Người phát biểu câu này còn sống ở hải ngoại.

Ở Sài Gòn trước 75, giới thương gia vải sợi đều biết ông Phạm văn Hai, biệt danh cậu Hai An Nhơn, chủ lò nhuộm. Màu đen là do ông khám phá ra từ trái mạc nưa. Màu đen của ông chế tạo rất tốt, đen nhánh, càng giặt càng đen, không phai màu. Lảnh mỹ a, vải ú đen, lụa đen,… đều nhuộm bằng màu đen mạc nưa. Sự tìm ra màu đen của ông đã tiết kiệm được cho chánh phủ Sài Gòn hằng năm một số ngoại tệ khá lớn vì khỏi nhập màu đen.

Sau 75, ông giao sự nghiệp của ông cho nhà cầm quyền cộng sản để phủi tay. Nhưng họ từ chối, bảo cái gì của ông, ông cứ giữ. Cách mạng không lấy cây kim sợi chỉ của ai. Ông ở lại làm gác-gian cho kho hàng và cơ sở kỹ nghệ của ông. Những bành tơ sợi, thuốc nhuộm, bị bỏ lăn lóc ngoài sân dưới mưa nắng. Ông xót ruột, phải tự đem vào kho cất.

Cán bộ Ban Khoa học cộng sản lấy hết tài liệu về nhuộm và bắt ông hướng dẫn cách thực hành, rồi đem đem ra Hà nội. Nhưng họ không áp dụng được nên phải trở vào Sài gòn gặp lại ông và yêu cầu ông ra Hà nội làm việc nhưng phải nói là do Đảng lãnh đạo mà ông thành công. Ông từ chối và nói rõ công trình đó vẫn là của ông nhưng ông cho, ai muốn sử dụng sao cũng được.

Ông Hai là bạn cỡi trâu với ông Kiệt ở nhà quê Vũng Liêm. Con nhà nghèo chỉ mới đi học trường làng. Lúc vừa trưởng thành, có nhà điền chủ nhờ ông dẫn hai người con trai qua Pháp du học. Ông nhận lời. Ở Paris, có sẵn chỗ ăn, chốn ở. Ngoài công việc dẫn hai công tử đi học, ông rảnh rang. Ông đi học thêm ở Conservatoire National des Arts et Métiers, trường dành cho người lớn tuổi tới học đủ ngành nghề thực dụng tùy theo khả năng mình. Điều kiện vào học rất dễ nhưng thi lên lớp mới khó nên bằng cấp của trường có giá trị không thua nhiều trường kỹ sư có thi tuyển. Ông tốt nghiệp kỹ sư Hóa học, về Sài gòn lập lò nhuộm An Nhơn.

Sau vài năm sống với cộng sản, ông quyết định tìm cách đi khỏi xứ. Ông vượt biên nhiều lần đều bị bắt và mỗi lần bị bắt, thì được ông Kiệt can thiệp thả ra. Lần sau cùng, trước khi đi, ông viết thư để lại: « Chuyến đi này là hoàn toàn do tôi quyết định. Vợ con tôi chỉ nghe lời tôi đi theo. Nếu tôi bị bắt, cứ giết tôi nhưng hãy thả gia đình tôi. »

Ông bị bắt. Võ văn Kiệt một lần nữa can thiệp, và lần này, ông Kiệt nói với ông: «Tôi ký giấy cho anh đi chánh thức qua Thụy sĩ. Anh ở  đây có ngày tụi nó giết anh». Khi làm thủ tục xuất cảnh, công an dằn mặt ông: «Anh tưởng chúng tôi cần những thứ ngụy như anh à? Chúng tôi xây dựng xã hội chủ nghĩa hai mươi năm nữa cũng được. Miễn là chính chúng tôi làm và thành công».

Qua thời kỳ đổi mới, ông Phạm văn Hai trở về Sài Gòn gặp ông Kiệt. Ông Hai tìm hiểu về đá saphir của Việt Nam. Theo ông, Thái Lan qua mua đem về, mài lại, bán ra, hằng năm thu về 600 triệu đô-la. Ông nói với ông Kiệt là nếu để ông mua saphir và trau dồi tại Sài gòn, mỗi năm ông có thể thu về cho Việt Nam tới cả tỷ đô-la. Ông Kiệt đồng ý. Có ngay ba ngân hàng tham gia. Ông Hai trở về Los Angeles học nghề với một nhà kỹ nghệ saphir ở Los Angeles vốn là người kế nghiệp của nhà kỹ nghệ Thụy Sĩ tại Genève. Về mặt kỹ thuật, ông thành công qua vài cuộc triển lãm saphir ở Huê kỳ.

Ông về Sài gòn với những viên saphir sản phẩm của ông. Ông nhận tiền ngân hàng mở Labo đào tạo một lớp chuyên viên. Khi những hột saphir bắt đầu bán ra thị trường thì cũng là lúc Đảng ra tay phát huy quyền làm chủ cơ sở của ông. Thế là ông chạy trở về Mỹ. Ông Kiệt cũng “kẹt” lắm, không làm gì giúp người bạn thời niên thiếu đầy thiện chí.

Bạn bè trách ông cứ để cho bọn cộng sản gạt. Ông thản nhiên nói “Anh em biết tánh tôi mà. Tôi chỉ cần cho thấy là tôi thành công, còn ai giựt thì cứ giựt. Nhưng giựt rồi có làm được hay không? ”.

Ông Võ văn Kiệt trước sau vẫn là người cộng sản mà với người cộng sản thì “áo làm sao mặc qua khỏi đầu” được? Nên người ta đặt cho ông Kiệt cái tên phù hợp với ông “Võ Văn Kẹt”. Nhờ biết giữ thế “kẹt” mà ông leo lên tới ghế Thủ tướng và sống giàu sang tới 85 tuổi với bà vợ trẻ Phan Lương Cầm, biệt danh là « Bà 10% »  khi xây dựng đường dây cao thế Bắc-Nam. Bà Cầm có thời du học về môn Hóa học ở Hòa lan. Khi cưới Bà cầm, ông Kiệt đã có tuổi nên dân chúng Sài gòn hát tặng ông:

« Cụ Kiệt cưới cô Cầm
Cái cô Cầm cần, cụ Kiệt cóc có
Cái cụ Kiệt có, cô Cầm cóc cần

Vì chuyện gia đình, ông Phạm văn Hai thường qua Paris. Một hôm, tình cờ gặp lại ông TVB lúc đang bán sữa đặc có đường, ông bảo ông TVB hãy làm chả giò bán kiếm lời nhiều hơn. Ông cho bí quyết làm chả giò giữ giòn được lâu. Ông thương TVB vì lúc ở Sài gòn, ông thấy ông B là một thanh niên có tài buôn bán vải.  Ông B nắm trong tay một khúc vải, vò vò rồi buông ra, có thể cho biết khá chính xác thành phần vải có bao nhiêu phần trăm coton, polyester …Từ đó ông TVB phất lên làm «vua chả giò» (cũng là vua chớ bộ !) và ngày nay cũng là Đại gia ở Sài Gòn nhờ biết cách làm ăn theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vả lại ông TVB là người gốc Tàu thì chỗ nào có dưỡng khí là sống được để theo đuổi triết lý « lượm bạc cắc ». Mà bạc cắc thì xưa nay là thứ xuyên quốc gia và không có mùi, cả mùi cộng sản.

Mười bốn năm trước, đang dự tính đi qua Miên tìm saphir làm nữa vì vùng có saphir lúc đó không còn dưới sự kiểm soát của Khờ-me đỏ nữa, ông đột ngột qua đời, viết thiệp chúc Noel bạn bè chưa kịp gởi đi.

Không có người cộng sản khác hơn

Nguyễn văn Linh, tự Mười Cúc, gần như suốt đời hoạt động trong Nam. Ông phải hiểu tâm tình người Nam hơn ai hết. Các bà già trầu Nam kỳ đều thương ông vì thấy ông chỉ có một thân một mình đi kháng chiến. Ông sống sót để leo lên tới tột đỉnh danh vọng trong hệ thống cộng sản là nhờ gáo nước, nồi cơm của đất Nam kỳ. Nhưng khi có quyền, không chỉ vô ơn bạc nghĩa theo bản chất người cộng sản, mà ông còn tìm cách ám hại, triệt tiêu những đồng chí miền Nam, như Hồ Chí Minh đã hạ Nguyễn văn Cừ giữ quyền lãnh đạo Đảng cho Miền Bắc, sát hại tất cả những người yêu nước chân chính thời kháng chiến để cướp công kháng chiến cho Đảng. Vì bản chất thật của người cộng sản là « mục tiêu ». Mục tiêu giờ đây sẽ không phải là mục tiêu của lát nữa. Tình cảm, ơn nghĩa, có trước, có sau …là những thứ sản phẩm của tư sản, không phải đạo đức cách mạng của cộng sản thứ thiệt.

Tháng 3 năm 1988, Thủ tướng Phạm Hùng đột ngột qua đời. Theo Hiến pháp thì ông Kiệt sẽ lên thay cho đến khi Quốc hội bầu ra người mới. Tháng 6 cùng năm, Quốc hội nhóm họp đã bầu Đỗ Mười mặc dù rất nhiều đoàn đại biểu đề nghị ông Kiệt. Hơn nữa, ai cũng biết Đỗ Mười dốt đặc cán mai và còn mang bịnh tâm thần trầm kha, đêm từng leo lên cây bàng cạnh bệnh viện hát nghêu ngao «Ai yêu Bác Hồ hơn …. »

Ông Linh cho tới lúc hấp hối vẫn hô hào hạ bệ ông Kiệt khỏi những chức vụ lãnh đạo tối cao. Giữa năm 1995, chính phủ ông Kiệt gặt hái được nhiều thành tích, uy tín của ông lên cao. Khi đó Tổng bí thư Đỗ Mười đã ở tuổi 80. Ông Kiệt trở thành một ứng cử viên nặng ký cho chức tổng bí thư vào kỳ Đại hội VIII.

Điều này đã làm cho Ba Tàu Bắc Kinh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, và đặc biệt là ông Linh trở nên quyết liệt hơn, tàn nhẫn hơn đối với ông Kiệt. Ông Linh tung ra trận đánh tổng lực với nhiều chiến thuật khác nhau. Vừa triệt hạ uy tín ông Kiệt, vừa tìm cách cô lập và loại ông Kiệt ra khỏi Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị. Ông Kiệt không được tham dự vào các quyết định quan trọng nữa.

Đồng thời, ông Linh lôi kéo Nguyễn Hà Phan khi Phan được ông Kiệt cất nhắc ra Hà nội làm phó cho ông năm 1986. Ở đây, Phan tưởng tương lai sẽ rộng mở cho mình nên cấu kết với nhóm bảo thủ Bắc kỳ của Ông Linh nhằm hạ bệ ông Kiệt để giựt chiếc ghế Thủ tướng.

Nhờ thành tích tấn công ông Kiệt, tháng 1/1994, nhân Hội nghị giữa nhiệm kỳ, Phan được kết nạp vào Bộ Chính trị. Trước thế lực mới và âm mưu thâm độc của đối phương, ông Kiệt kỳ này sẽ thật sự bị kẹt và suy vong. Nhưng nhờ một cựu cán bộ đảng ở Cà Mau tố cáo tội lỗi của Nguyễn Hà Phan vừa cứu nguy ông, vừa giành lại chiếc ghế Thủ tướng cho cánh Nam kỳ của ông cho tới ngày nay.

Võ văn Kiệt là người cộng sản đặc sệt, gốc Nam, tranh đấu gần như trọn đời ở trong Nam, hẳn phải hiểu rõ hai điều: Một, lý do di cư 54 khi cộng sản về Hà Nội, và cuộc vượt biển sau 1975 khi cộng sản Hà Nội chiếm được miền Nam. Hai, lịch sử xuyên suốt của cộng sản, đối với đối phương, là cướp đoạt chánh quyền bằng bạo lực và dối trá; đối với đồng chí, là thẳng tay hạ nhau để trèo lên.

Cộng sản bạc đầu, ông Kiệt phải lao mình vào trò chơi tương quan lực lượng theo qui luật biện chứng “ai thắng ai”. Ông muốn làm Võ văn Kẹt mà!

Ông Kiệt là người miền Nam, nhưng không có chất Nam kỳ thứ thiệt vì ông không phải nông dân mà cũng không phải tiểu tư sản, vì hai thứ này mới làm cho con người ta thật lòng lên đường làm kháng chiến giành độc lập dân tộc.

© Nguyễn Thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

7 Phản hồi cho “Võ Văn Kiệt và Võ Văn Kẹt”

  1. DâM TiêN says:

    Võ Văn Kiệt là Võ Văn KẸT — hay hay!

    Tiên phong đổi mới giữa một bầy đàn Bắc Trung Kỳ,
    ông Kiệt bị Kẹt, chỉ mở đường đến thế thôii…

    Nhường cho những đàn em ( dấu tên) tiếp bước.

    Ông Xuân Oánh đóng một vai trò Advisor quan trọng.

    Cho nên, Mỹ đi rồi Mỹ lại v à à ào, Ngụy lại v ê ề ề..

  2. Nguyen Quang says:

    Bài viết có những chi tiết về ông Phạm văn Hai rất lý thú .

  3. TTLân-Paris says:

    Bài viết này của cô Nt Cỏ May thật là hay.. Một bài viết hay, đọc một lèo không ngưng được.
    Cám ơn t/g.

  4. Hồ Thẩm Du says:

    “Trái thơm trăm mắt” là hình ảnh mà cán bộ cộng sản Việt Nam thường đem ra để hăm dọa răn đe những người tù trong trại tập trung, với cả dân chúng, đồng bào, vì họ cho rằng, không có gì che giấu hay thoát khỏi những con mắt nhòm ngó, rình mò của người khác, những người chỉ điểm, lập công mà họ gọi là nhân dân: “Nhân dân như trái thơm trăm mắt, không có gì qua khỏi con mắt nhân dân.”

    Ðảng cộng sản nhân danh nhân dân để đàn áp nhân dân. Với chế độ công an trị, công an khu phố, công an phường để theo dõi hành động và tư tưởng của quần chúng chưa đủ, họ còn tạo ra một màng lưới chỉ điểm, tố cáo những người mà họ cho là nguy hiểm cho chế độ. Trong chế độ cộng sản, sự sợ hãi bao trùm, ai cũng nghĩ mình đang bị nhòm ngó, tố cáo, và bản năng sống còn lại đi nhòm ngó tố cáo người khác. Ðó là những người chỉ điểm không công, vì nghĩ rằng mình không tố cáo người khác, thì cũng bị người khác, dò xét, tố cáo mình. Những người này dưới chế độ cộng sản có thể là vợ chồng, anh em, bạn bè. Họ tỉnh táo trong khi bạn say, ghé tai qua vách lá hay đang chui dưới gầm giường của bạn. Cũng có thể họ là các em “khăn quàng đỏ,” “thiếu nhi Bác Hồ” đã được đào tạo, vinh danh thành những thần đồng chỉ điểm.

    Ngày trước, trong những vùng xôi đậu, ngày là quốc gia, đêm là cộng sản, họ triệt để khai thác việc tố cáo nhau, làm tê liệt ý chí, gây đòn cân não trong quần chúng, tạo ra một sự sợ hãi bao trùm, và không thiếu gì người đã yếu đuối, sợ sệt quy hàng, đi tố cáo người khác. Do đó, trong họ hàng thân thích, giữa vợ chồng, anh em đều nghi kỵ và sẵn sàng tố cáo, điềm chỉ nhau. Và chính sách giết lầm hơn tha lầm bắt đầu, như là một đợt khủng bố quy mô, làm tê liệt sự đối kháng bất bình của người dân đối với đảng và nhà nước. Một người chỉ than phiền, thốt ra một lời chỉ trích Việt Minh trong một số bạn bè nhỏ là đêm đó bị chém đứt lìa cổ vứt ngoài bờ ruộng. Một người dân khác, trong phạm vi gia đình chỉ vì mắng con “theo cộng sản thì có cạp đất mà ăn!” thì sáng hôm sau người ta thấy ông chết bên ngõ nhà, miệng bị nhét đầy đất cát! Hầu hết các nước bị cộng sản, hay các chế độ độc tài, đều áp dụng lối tố cáo lẫn nhau để kiểm soát những ai có tư tưởng, lời nói và hành động chống lại nhà nước, lãnh tụ. Công khai thì có những buổi họp phê bình, kiểm thảo cả đám đông tập thể tại chỗ, trong bóng tối thì có đảng khuyến khích chỉ điểm, tố giác, bằng thư rơi. Không cần phải lập tòa án, cũng không cần phải tự biện hộ, minh oan, một lời tố cáo vu vơ của ai đó cũng đủ yếu tố cho một bản án chung thẩm…
    HUY PHUONG.

  5. Thanh Pham says:

    Bất Hạnh

    Bất hạnh cho đất nước
    Vận mệnh cả dân tộc
    Nằm trong tay bọn người
    Thất học và tàn độc!

    Từ tên thái thú Hồ
    Đến cái đám vô lại
    Cam tâm làm tôi mọi
    Cho Tàu phù hiện nay

    Chúng chỉ biết thù hận
    Ngoài ra chỈ biết ăn
    Ăn cướp và bịnh hoạn
    Một lũ người lai căng!

    Tổ quốc đối với chúng?
    Nước Liên Xô vĩ đại!
    Tổ tiên của giống nòi?
    Mác Lê Nin Stalin!

    Bác của chúng đã dạy
    Suốt tám mươi năm dài
    Không gì ngoài bạo lực
    Đảng cộng sản độc tài!

    Muốn cứu sống dân tộc
    Khỏi tận cùng tang tốc
    Ta không thể chần chờ
    Phải diệt loài trùng độc

    T.Phạm

    http://sangcongpha1.wordpress.com/

  6. NGÀN TRĂNG says:

    HOAN HÔ CỎ MAY

    Đọc sao như chuyện thần tiên
    Cỏ May đúng một thuyền quyên ở đời
    Đọc vào tâm thức bồi hồi
    Một nghìn lẻ một chuyện đời hôm nay
    Hoan hô thật sự cỏ may
    Nương theo làn gió mà bay vạn ngàn
    Khác gì như sợi tơ vàng
    Thắt nơ lịch sử huy hoàng xiết bao !

    TRĂNG NGÀN
    (10/3/14)

  7. Nguyễn Thế Viên says:

    Trên thực tế nhóm CS miền Bắc (từ vĩ tuyến 17) không bao giờ tin người Miền Nam, kể cả đảng viên CS. Các CB miền Nam có thể đảm nhiệm một số vai trò mặt nổi và chuyên môn (td CT UBND, thủ trởng ngành, ban…), nhưng tuyệt đối các vị trí an ninh then chốt (mặt ngầm) là do CB miền Bắc nắm giữ. Hễ có rục rich gì thì khử ngay. Võ Văn Kiệt cũng nằm trong trường hợp này. Sở dĩ ông ta trụ được thời gian dài là nhờ trong giai đoạn “đổi mới” kinh tế (thật ra là trở về một số cái cũ cuả VNCH), đảng CS cần đến sự trợ giúp về chuyên môn cuả một số trí thức miền Nam còn sót lại (Nguyễn Xuân Oánh, Lâm Võ Hoàng v…v…). Võ Văn Kiệt là người có thể móc nối được thành phần này.
    Thời gian sau này, nhờ ảnh hưởng cuả kinh tế thị trường định hướng XHCN, cộng thêm sự khôn lanh trong việc sử dung “kinh tế” để mua chuộc, tạo vây cánh và đi đêm với Tàu, mà phe Nguyễn Tấn Dũng mới còn được tới nay. Tuy nhiên anh ta và bè cánh lúc nào cũng ngồi trên lò than. Sơ sểnh là bị bọn CS Bắc và Trung thịt ngay. Ngoài ra, cũng không bỏ qua tin đồn Nguyễn Tấn Dũng là con cuả Nguyễn Chí Thanh. Nếu vậy thí anh ta là CSBắc chớ đâu phải Nam.
    Nguyễn Thế Viên

Phản hồi