|

Dân chủ hóa: vài bài học quốc tế và kịch bản khả dĩ cho Việt Nam[2]

Tiếp theo phần I

 

pobrane (1)

3. Vài kịch bản dân chủ hóa cho Việt Nam


Một cảnh cáo đáng giá cũng từ Rustow, “Không hai nền dân chủ hiện tồn nào đã trải qua một cuộc đấu tranh giữa cùng các lực lượng về cùng các vấn đề và với cùng các kết cục định chế. Vì thế, có vẻ không chắc rằng bất kể nền dân chủ tương lai nào sẽ đi theo các bước chân chính xác của bất kể nền dân chủ nào trước.” Rồi ông khuyên, “Tích cực hơn, Hirschman và các nhà kinh tế học khác đã cho rằng một nước có thể lao tốt nhất vào một pha tăng trưởng không phải bằng bắt chước mù quáng tấm gương của các quốc gia đã công nghiệp hóa rồi, mà đúng hơn bằng việc đạt được nhiều nhất từ các nguồn lực tự nhiên và con người cá biệt của nó và bằng việc làm cho các nguồn lực này ăn khớp chính xác với sự phân công lao động quốc tế. Tương tự, một nước chắc đạt được dân chủ không phải bằng sao chép các luật hiến pháp hay các tập quán nghị viện của nền dân chủ trước nào đó, mà đúng hơn bằng sự đối mặt thành thật với các xung đột riêng của nó và bằng nghĩ ra hay thích nghi các thủ tục hữu hiệu cho việc dàn xếp chúng.” [L. Anderson, tr. 28]

Như thế đầu tiên phải “đối mặt thành thật với các xung đột riêng của” Việt Nam và “nghĩ ra hay thích nghi các thủ tục hữu hiệu cho việc dàn xếp chúng.”

3.1 Những xung đột ăn sâu trong xã hội Việt Nam hiện nay là gì?

Có thể thấy mấy xung đột kéo dài và nổi bật ở Việt Nam trong mấy chục năm qua. Trước hết là xung đột giữa những người lao động và những người sử dụng lao động như có thể được minh họa bằng số cuộc đình công tăng nhanh trong 20 năm qua.

Hình 3. Số cuộc đình công 1995-2014 ở Việt Nam;

Hình 3. Số cuộc đình công 1995-2014 ở Việt Nam;

Nguồn: Yeoung Yoo Kyung (1995-2010), Tạp chí Lao động & Xã hội, (2011-14) tác giả tổng hợp từ các nguồn khác nhau.
Với sự tiến triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa số cuộc đình công tăng nhanh, nhất là từ 2004 (với 125 cuộc), nhảy lên 720 cuộc trong năm 2008 (rồi sau đó với sự siết chặt của nhà nước số vụ đình công giảm xuống 422 cuộc trong 2010 nhưng lại vọt lên 978 cuộc trong 2011 (lại do nhà nước tăng cường các biện pháp chống đình công nên) số các cuộc lại giảm xuống 539, 351 và 286 trong các năm 2012, 2013 và 2014. Những cuộc bạo loạn xảy ra giữa 2014 ở nhiều nơi từ Bình Dương, Đồng Nai, Hồ Chí Minh và Hà Tĩnh có nguyên nhân khác. Năm 2015 cuộc đình công biến thành biểu tình của khoảng 90 ngàn công nhân chống lại chính sách bảo hiểm xã hội của nhà nước là một mốc hết sức đáng chú ý buộc Quốc hội phải điều chỉnh Luật Bảo hiểm xã hội trước khi nó có hiệu lực hơn 5 tháng. B. J. T. Kerkvliet (2010) cho những phân tích sâu về các cuộc phản kháng của công nhân cho đến 2008.

Xung đột giữa nông dân và chính quyền (và/hoặc doanh nghiệp) cũng là một xung đột dai dẳng. Cuộc nổi dậy của nông dân Thái Bình cuối tháng Sáu 1997 (Tương Lai, 1997) là hết sức đáng chú ý. Từ đó những vụ khiếu kiện của nông dân với quy mô khác nhau liên tục xảy ra. Nổi bật là các vụ Đoàn Văn Vươn ngày 5-1-2012 ở Tiên Lãng Hải Phòng, vụ Đặng Ngọc Viết nổ súng chiều ngày 11-9-2013 làm 3 cán bộ bị thương và 1 người chết rồi sau đó ông Viết nổ súng tự sát tối hôm đó. Những vụ làm dư luận nhức nhối khác là vụ chính quyền điều hàng ngàn cảnh sát đủ loại cưỡng chế thu hồi đất hết sức tàn bạo ở Văn Giang Hưng Yên cho công ty tư nhân xây dựng khu đô thị Ecopark ngày 24-4-2012; việc khiếu nại đã từ lâu và sau vụ cưỡng chế 24-4-2012 tình hình nông dân ở mấy xã của huyện Văn Giang với chính quyền và nhà đầu tư hết sức căng thẳng. Vụ cưỡng chế đất ở Dương Nội, Hà Đông cho công ty tư nhân Nam Cường phát triển khu đô thị có khiếu nại từ 2008, Thanh tra Chính phủ đã vào cuộc và đã có kết luận thanh tra dài hơn 100 trang thừa nhận chính quyền địa phương có sai (và nói dân cũng có cái sai), rồi từ ngày 22 đến 25 tháng 4-2014 chính quyền đã huy động lực lượng lớn cưỡng chế, đánh đập người dân để thu hồi đất và việc bà con dân oan Dương Nội kéo nhau đi biểu tình thường xuyên ở Hà Nội chống lại việc thu hồi đất đã diễn ra trong thời gian dài. Tương tự còn rất nhiều vụ cưỡng chế thu hồi đất bằng bạo lực đã diễn ra ở Kim Sơn, Quảng Ninh, Từ Sơn Bắc Ninh, đến Nghệ An, Cồn Dầu Đà Nẵng, Long An, đến Cà Mau. Không ở nơi nào không có xung đột của nông dân và dân cư nói chung với chính quyền hay doanh nghiệp liên quan đến đất đai.

Xung đột của dân cư với các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường cũng hết sức nhức nhối. Năm 2008 vụ Vedan gây ô nhiễm “giết” sông Thị Vải đã gây ồn ào dư luận, nhưng người dân không phản ứng mấy và chỉ đến khi các luật sư khuyên đòi bồi thường thì một số dân mới tham gia. Nhưng đến 2013 dân cư Thanh Hóa đã ứng xử khác trong vụ nhân dân ba xã Cẩm Vân, Cẩm Tâm (huyện Cẩm Thủy) và Yên Lâm (Yên Định), Thanh Hóa phản đối công ty Nicotex Thành Thái chôn thuốc trừ sâu cuối tháng 3-2013 và cho đến nay vẫn chưa được giải quyết thấu đáo. Nổi bật nhất là vụ nhân dân Bình Thuận chặn Quốc lộ 1 từ ngày 14 đến 15-4-2015 gây ùn tắc giao thông suốt 10 km đường để phản đối nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 của EVN phun bụi gây ô nhiễm là thí dụ rất nổi bật.

Xung đột tôn giáo cũng là xung đột kéo dài chủ yếu giữa chính quyền và các giáo phái tôn giáo xung quanh vấn đề tài sản (chủ yếu là đất đai mà điển hình là khu đất 42 Nhà Chung gần nhà thờ lớn Hà Nội cuối 2007, tại giáo xứ Thái Hà, Hà Nội 2008 và rất nhiều giáo phận khác), xung quanh vấn đề hành đạo mà điển hình là vụ tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc Lâm Đồng 2008 và vô số các vụ khác của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành và các giáo phái khác khắp từ Nam chí Bắc.

Xung đột giữa các sắc tộc ở Việt Nam không nghiêm trọng tuy nhiên xung đột giữa các sắc tộc với chính quyền do việc di cư của người Kinh lên vùng cao và sự phát triển kinh tế ở các vùng nơi các sắc tộc thiểu số vốn chiếm đa số, nhất là ở Tây Nguyên, đã và vẫn sẽ gây ra những xung đột hết sức gay gắt phải chú ý tới.

Chúng ta không bàn tới xung đột của các phong trào dân tộc chủ nghĩa với các thế lực ngoại bang mà đã ảnh hưởng rất lớn đến diễn tiến chính trị ở Việt Nam suốt hơn một thế kỷ qua (mà bây giờ có lẽ vẫn chưa kết thúc).

Trên đây là một số xung đột dễ nhận diện, dù chính quyền luôn tìm cách lảng tránh hay nói giảm bớt về những xung đột này. Tuy nhiên, một xung đột bao trùm, ăn sâu mà nhiều xung đột trên chỉ là những biểu hiện ở những mặt khác nhau của xung đột chính này: xung đột giữa nhân dân Việt Nam và giai cấp cầm quyền mới (Milovan Djilas 1957). Hãy để lịch sử phán xét về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1930 đến 1975. Nhưng có thể khẳng định từ 1975 đến nay (và từ 1954 ở miền Bắc) ở Việt Nam đã hình thành giai cấp thống trị mới theo đúng nghĩa của Djilas.

3.2 Vài cách tiếp cận đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam

Bài này không có tham vọng phân tích cuộc đấu tranh gay go, gian khổ và kéo dài cho dân chủ ở Việt Nam (kể cả cuộc đấu tranh trong nội bộ giới cầm quyền), thay vào đó chúng tôi tóm tắt vài nhận xét của Gs. Benedict J. Tria Kerkvliet (2015a) trong nhiều bài viết của ông nhất là tiểu luận sắp được công bố, “Regime Critics: Democratization Advocates in Vietnam, 1990s-2014.” [Phần chính vừa được công bố tại Critical Asian Studies, 2015, Vol. 47, No. 3, pp. 359-387].

Theo khung khổ của Rustow, Việt Nam chưa có chuyển đổi dân chủ và vẫn đang ở trong pha chuẩn bị. B. J. T. Kerkvliet đã phân biệt bốn cách tiếp cận đến dân chủ hóa ở Việt Nam trong pha này dựa trên những thông tin công khai sẵn có về những phát ngôn và hành động của những người phê phán chế độ. Tuy vậy, do muốn khái quát hóa một chút chúng tôi đưa vào đoạn lạc đề sau đây trước khi quay lại tình hình Việt Nam.

Dựa vào ý tưởng của Kerkvliet, chúng ta có thể coi bốn cách tiếp cận này như cách đấu tranh của xã hội ­đối với chế độ (độc đoán hay toàn trị) và xem xét chúng theo vài khía cạnh khác nhau:

· Xem xét những cách tiếp cận theo thời gian (về tính khả thi [khả năng có thể thực hiện] của chúng trong các pha khác nhau của dân chủ hóa; về tác động của chúng đối với các nhà đương quyền, hay chế độ);

· Tác động của những cách tiếp cận này với phương thức chuyển đổi dân chủ;

· Tác động của những cách tiếp cận này với các triển vọng củng cố dân chủ, vân vân.

Hy vọng trong xem xét như vậy có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các khái niệm cũng như hiểu kỹ hơn về các quá trình liên quan.

Chúng ta sẽ dựa vào Benedict J. Tria Kerkvliet để mở rộng phạm vi của bốn cách tiếp cận này:

1) (ĐL – Đương chức Lãnh đạo-incumbents-led): là cách tiếp cận dựa trên ý tưởng rằng quá trình dân chủ hóa do những người đương quyền (những người cộng sản, các nhà chuyên quyền độc đoán đang cai trị) dẫn dắt; các nhà đương chức có nguồn lực và phương tiện để làm việc này và đó là cách ít tốn kém nhất. Cũng có thể gọi cách tiếp cận này là từ trên xuống (top-down) hay “tự diễn biến”.

2) (ĐĐ – Đối Đầu-Confrontal): Cách tiếp cận đối đầu tập trung vào việc xây dựng các tổ chức để huy động sức mạnh nhân dân nhằm đối đầu với và tháo dỡ (giải thể, phá hủy) chế độ, nhanh chóng thiết lập hệ thống dân chủ đa đảng; những vấn đề của tương lai như thiết lập hệ thống dân chủ ra sao, củng cố nó thể nào ít được quan tâm.

3) (TD – Tham Dự-Engagement): Tham dự với chính quyền ở mọi mức (ứng cử vào lập pháp địa phương, trung ương và tham dự vào các hoạt động nhà nước khác) và khi sự phát triển của đất nước gia tăng sẽ dẫn đến dân chủ hóa; nhưng tránh (nói công khai đến việc thành lập các tổ chức) khi giao thiệp với các quan chức;

4) (XhDs-Xã hội dân sự-Civil Society): Cách tiếp cận dựa trên việc mở rộng và tăng cường các tổ chức xã hội dân sự, mở rộng không gian của xã hội dân sự (trong mọi lĩnh vực của cuộc sống kể cả nhân quyền, tôn giáo và dân chủ), cổ vũ người dân thực thi quyền của mình (trực tiếp hay qua các tổ chức xã hội dân sự) trong việc tham dự với (và gây sức ép lên) chính quyền ở mọi mức. Cách tiếp cận này thoạt nhìn có vẻ như từ dưới lên (bottom-up) nhưng không phải vậy, nó cũng cổ vũ cả sự cải biến (tự diễn biến) của những người đương chức.

Lưu ý rằng ranh giới của bốn cách tiếp cận này không rõ ràng và có sự chồng lấn (thậm chí đáng kể như TD và XhDs) và sự phân biệt ở đây chỉ là tương đối và có thể được coi như những công cụ để phục vụ cho việc xem xét thế giới thực phức tạp hơn nhiều. Cũng lưu ý rằng đây là những cách tiếp cận trong cuộc đấu tranh ở pha chuẩn bị và không lẫn lộn với các phương thức chuyển đổi đã được thảo luận ở trên. Chúng ta cũng không xem xét cách tiếp cận đối đầu bạo lực nhằm lật đổ chế độ (theo kinh nghiệm ở tất cả các nước đã dân chủ hóa thành công trong làn sóng thứ ba và cả làn sóng thứ hai [sau Chiến tranh Thế giới II] thì tất cả các nước theo cách tiếp cận đối đầu bạo lực, hay cách mạng, đã đều thất bại, không xây dựng được nền dân chủ mà chỉ thay chế độ độc tài này bằng chế độ độc tài khác mà thôi).

Điểm lưu ý cuối cùng, đối với một cá nhân đấu tranh cho dân chủ việc họ thay đổi cách đấu tranh theo thời gian là rất có thể (nói cách khác như một đấu thủ thay đổi chiến lược trong một trò chơi lặp lại). Thí dụ, việc một số người cụ thể có thể chủ trương tham dự (TD), nhưng do không có kết quả có thể chuyển sang phương thức đối đầu (ĐĐ) hay (XhDs) là chuyện thường gặp, cũng tương tự như những người từ bỏ bạo động để theo phương thức bất bạo động.

Với những hạn chế và do dự như vậy chúng ta sẽ xem xét bốn cách tiếp cận trên theo thời gian (khả năng thực hiện chúng cũng như tác động của chúng lên chế độ trong từng pha), xem xét mối quan hệ của chúng với các phương thức chuyển đổi dân chủ và tác động có thể của chúng lên sự củng cố dân chủ khi sự chuyển đổi đã diễn ra.

3.2.1 Bốn cách tiếp cận trong các giai đoạn khác nhau

Khung khổ thời gian được định một cách tương đối bởi các pha khác nhau của quá trình dân chủ hóa: pha chuẩn bị, pha chuyển đổi, và pha củng cố dân chủ (Rustow, Anderson) và có thể tóm tắt như sau:

Về phía những người chủ trương các cách tiếp cận này thì a) những người hô hào elite cai trị khởi xướng và dẫn dắt quá trình dân chủ hóa (ĐL) có thể làm việc này trong cả các pha chuẩn bị, chuyển đổi, và củng cố dân chủ (những người đương quyền có thể là rất khác nhau); b) cách tiếp cận đối đầu (theo định nghĩa) chỉ có thể tiến hành trong pha chuẩn bị chứ không thể trong pha củng cố (vì lúc đó đối đầu với chế độ dân chủ từ phía những người đấu tranh cho dân chủ là phi lý), nó thể có ý nghĩa lúc đầu nhưng trong pha chuyển đổi cũng thế; c) trong chế độ chuyên quyền không có khả năng tham dự cho người dân, nhưng trong các pha chuyển đổi và củng cố dân chủ là có thể; d) phương thức XhDs có thể (và cần được) thực hiện trong cả ba pha. Như thế, khả năng thực hành của các cách tiếp cận trên theo thời gian (theo pha chuẩn bị, chuyển đổi, củng cố (1: có thể; 0: không), nhìn từ phía các nhà hoạt động có thể tóm tắt như sau (Hình.4)

 

Hình 4. Khả năng của bốn cách tiếp cận trong các pha khác nhau của dân chủ hóa
Tác động của các cách tiếp cận trên theo thời gian lên các pha chuẩn bị, chuyển đổi và củng cố dân chủ (1: có tác động; 0: không), có thể tóm tắt trong Hình 5.

Hình 5 tác động khả dĩ lên những người đương chức (có thể khác nhau ở mỗi giai đoạn)
Lưu ý rằng một cách tiếp cận chỉ có thể có tác động nếu nó có thể thực hiện được, nhưng việc có thể thực hiện được lại chưa chắc có tác động, nói cách khác các ô đỏ của Hình 4 chắc chắn là đỏ trong Hình 5 song các ô xanh của Hình 4 chưa chắc đã xanh ở Hình 5.

Đối với chế độ: cách tiếp cận ĐL không có tác động chừng nào chế độ còn là chế độ chuyên chế, và có tác động khi chuyển đổi chế độ và củng cố dân chủ; cách tiếp cận đối đầu có tác động trong pha chuẩn bị, nhưng không thể có trong hai pha tiếp theo; cách tiếp cận tham dự không có tác động (xét cả về lý luận lẫn kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới) trong pha chuẩn bị, nhưng có trong hai pha sau; cách tiếp cận XhDs có tác động trong cả ba pha. Lưu ý chúng ta chưa bàn đến cường độ và sự hiệu quả của tác động ở đây.

Một lưu ý tiếp, xét cả tính khả thi lẫn tác động của các phương thức không hề có ý đánh giá cách tiếp cận nào hay hơn cách tiếp cận nào (đặt câu hỏi như vậy là cách đặt vấn đề sai: chỉ có thể đánh giá khi nhìn lại và ngay cả khi đó do tính phức tạp của vấn đề chuyển đổi dân chủ có thể không có câu trả lời cho câu hỏi được đặt sai đó). Tuy nhiên, có thể xem xét (ít nhất về lý luận và phần nào đó xem xét kinh nghiệm quốc tế) các mối quan hệ của bốn cách tiếp cận này với các phương thức chuyển đổi dân chủ (ĐL-do elite cầm quyền dẫn dắt [Đài Loan, Bulgary, Chile], cải cách đoạn tuyệt [Tiệp Khắc, Argentina], thương lượng giữa elite đương quyền và đối lập [Hungary, Ba Lan, Nam Phi, Tây ban Nha, Philippines, Hàn Quốc, Indonesia, Mông Cổ và Đài Loan với hai trường hợp sau cùng khá gần với trường hợp ĐL vì các elte đương quyền đóng vai trò lớn nếu không nói là chi phối trong thương lượng]).

3.2.2 Tác động khả dĩ của các cách tiếp cận trong pha chuẩn bị đến phương thức chuyển đổi.

Tất nhiên một cách tiếp cận không khả thi trong pha chuyển đổi ít có khả năng tác động đến bản thân phương thức chuyển đổi (tuy có thể tác động một chút đến nhận thức của những người đương quyền, song vì những người đấu tranh cho dân chủ chủ trương can dự muốn tham chính ngay trong chế độ độc tài, một điều những người đương chức nhất quyết phản đối, trừ phi họ đồng ý tham gia làm cảnh cho chế độ độc tài).

Cũng lưu ý rằng do cách tiếp cận đấu tranh có ảnh hưởng đến phương thức chuyển đổi, mà phương thức chuyển đổi lại ảnh hưởng đến bản thân sự chuyển đổi và sự củng cố dân chủ sau đó, cho nên những cách tiếp cận đấu tranh khác nhau có thể ảnh hưởng đến sự chuyển đổi và sự củng cố dân chủ, nhưng trong bài này chúng ta không bàn sâu về những phân tích có vẻ lý thuyết đó, tuy có thể rất đáng nghiên cứu.

Chúng ta thấy cả ba cách tiếp cận từ trên xuống do những người đương chức lãnh đạo (ĐL), đối đầu (ĐĐ) và xã hội dân sự (XhDs) đều có tác động đến các phương thức chuyển đổi. Cách tiếp cận TD về lý thuyết không có tác động, nhưng vẫn có thể có tác động gì đó đến những người đương chức (mũi tên màu xanh nhạt). Ở đây chúng ta chưa bàn đến tính hiệu quả hay cường độ của sự tác động. Như thế tất cả những người chủ trương các phương thức đấu tranh khác nhau đều quan trọng và chúng tôi khuyên họ nên tránh phê phán chỉ trích lẫn nhau (nên tôn trọng các ý kiến khác nhau, nếu không thì không còn là người chủ trương dân chủ nữa, vì một đặc trưng quan trọng của dân chủ là khoan dung, tôn trọng ý kiến khác nhau kể cả ý kiến thiểu số).
19

 

Cũng có thể đưa ra các chiến lược (giả định) của các elite đương quyền và phân tích theo kiểu tương tự như trên, nhưng chúng ta không làm việc đó ở đây và quay lại tình hình Việt Nam.

3.2.3 Thực trạng của đấu tranh dân chủ ở Việt Nam

Phần này chúng tôi dựa vào các bài viết đã được nhắc tới của B. J. T. Kerkvliet mà ông phân biệt bốn cách tiếp cận đến dân chủ hóa ở Việt Nam dựa trên những thông tin công khai sẵn có về những phát ngôn và hành động của những người phê phán chế độ.

1) Cách tiếp cận do Đảng CSVN lãnh đạo (ĐL)

Đây là cách tiếp cận mà chúng tôi đã khái quát hóa như cách tiếp cận ĐL-do những người đương quyền dẫn dắt ở trên. Lập luận chính của những người theo cách tiếp cận này là:

· Việt Nam đã có những nhiều đặc tính dân chủ mà nếu được sử dụng thích hợp có thể đưa đất nước vào tiến trình dân chủ hóa thêm và đồng thời tăng tốc phát triển.

· Đảng CSVN là tổ chức có vị trí tốt nhất để dẫn dắt quá trình đó, nó đã tạo ra một hệ thống dân chủ trong các năm 1945-46 và nhiều đảng viên biết rằng Đảng chịu trách nhiệm về những thiếu sót và họ muốn dân chủ hóa.

· Các nhà lãnh đạo ĐCSVN có thể nhanh chóng khởi động quá trình dân chủ hóa: sửa hiến pháp, đảm bảo các quyền con người (kể cả quyền lập đảng), dân chủ hóa bản thân đảng.

Kerkvliet coi hai người điển hình của cách tiếp cận này là các ông Trần Độ và Trần Huỳnh Duy Thức.

2) Cách tiếp cận đối đầu (ĐĐ)

Những người theo cách tiếp cận này thấy ít hay không thấy bằng chứng nào rằng ĐCSVN có thể cải biến hệ thống thành một nền dân chủ. Theo họ, không có các định chế dân chủ thì Việt Nam không thể phát triển về mặt kinh tế, giáo dục, văn hóa và chính trị. Họ chủ trương bất bạo động nhưng phải vận động ngay việc thành lập các đảng và tổ chức để đối đầu với ĐCSVN. Nhiều người theo cách tiếp cận này coi sự ủng hộ của Việt kiều là cốt yếu, một số thậm chí cho rằng các nhà lãnh đạo phải ở bên ngoài Việt Nam cho đến khi phong trào đã đủ mạnh, những người khác lại cho rằng phong trào phải dựa vào người và nguồn lực trong nước là chính.

Nổi bật trong cách tiếp cận này là sự ra đời của Khối 8406 (với Tuyên bố về Tự do và Dân chủ ngày 8 tháng 4 năm 2006). Kerkvliet đưa hai người làm điển hình cho cách tiếp cận này là ông Đỗ Nam Hải và luật sư Nguyễn Văn Đài. Họ muốn tổ chức và huy động càng đông người càng tốt để dùng sức mạnh nhân dân đẩy ĐCSVN ra ngoài để xây dựng nền dân chủ và thậm chí không sợ sự phẫn nộ công chúng tuột khỏi sự kiểm soát như những người theo cách tiếp cận ĐL lo ngại.

3) Cách tiếp cận tham dự (TD)

Thay cho đối đầu, những người theo cách tiếp cận này chủ trương biến đổi hệ thống bằng cách can dự vào nó (tham gia quốc hội, tham gia chính quyền). Nhiệm vụ trước mắt không phải là loại bỏ ĐCSVN hay lập hệ thống đa đảng. Kerkvliet đưa hai thí dụ điển hình của những người theo cách tiếp cận này là ông Lê Hồng Hà và luật sư Cù Huy Hà Vũ (Kerkvliet cho rằng Cù Huy Hà Vũ có thể không công khai tán thành cách tiếp cận can dự, nhưng theo những việc làm và các bài viết của ông trước khi ông bị bắt khiến Kerkvliet xếp ông vào loại này).

4) Cách tiếp cận xã hội dân sự-XhDs*

Những người theo cách tiếp cận này gắn việc mở rộng xã hội dân sự với dân chủ hóa. Những người này giống những người theo cách tiếp cận tham dự cho rằng ĐCSVN có một vai trò trong dân chủ hóa, không phải vai trò lãnh đạo như những người theo cách tiếp cận ĐL nghĩ, mà là như một trong nhiều người tham gia. Cũng giống những người theo cách tiếp cận tham dự, nó thúc giục nhân dân dùng mọi hình thức hợp pháp để phê phán các chính sách sai và thúc đẩy cho những sự cải thiện trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nó khuyến khích và kêu gọi người dân biết quyền của mình (từ các quyền dân sự và chính trị đến các quyền về kinh tế và văn hóa) và cứ thế thực thi các quyền đó mà không đợi ai ban phát hay cho phép. Lập ra các tổ chức xã hội dân sự, tham gia vào hoạt động của chúng trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội là cách tốt nhất để thúc đẩy dân chủ hoá, thông qua tham gia, tranh luận, lắng nghe và thỏa hiệp. Theo họ đấy là cách vừa thúc đẩy sự đấu tranh trong giai đoạn chuẩn bị, tạo thuận lợi cho giai đoạn chuyển đổi và nhất là giai đoạn củng cố dân chủ vì nhân dân đã được tập làm quen với nhiều thực hành dân chủ ngay từ pha chuẩn bị (qua tranh luận, tham gia, lắng nghe, khoan dung, thỏa hiệp, tôn trọng ý kiến khác, nhất là ý kiến thiểu số) và như thế sẽ tạo điều kiện tốt cho pha củng cố dân chủ và sự phát triển tiếp của một xã hội dân sự lành mạnh rất cần thiết trong mọi nền dân chủ. Cách tiếp cận này, theo Kerkvliet, bắt đầu khoảng từ 2007 và ông nhắc tới hai thí dụ điển hình là Tiến sĩ Phạm Chí Dũng và người viết những dòng này.

Kerkvliet cũng nhắc đến những phong trào đấu tranh dân chủ từ 1975 đến cuối các năm 1980, từ câu lạc bộ những người kháng chiến cũ (mà để dẹp bỏ và vô hiệu hóa nó chính quyền đã lập ra Hội Cựu Chiến Binh). Ông cũng so sánh với Nhân Văn Giai Phẩm cuối những người năm 1950 và so sánh phong trào dân chủ Việt Nam với các phong trào đấu tranh ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trong những năm 1970 và 1980 cũng như ở Cộng Hòa Việt Nam (1954-75) và ông phát hiện ra những nét tương đồng và dị biệt. Có lẽ một sự khác biệt làm nhiều người bi quan về xã hội dân sự ở Việt Nam bất ngờ khi Kerkvliet cho rằng “Các tổ chức và các đảng chính trị trực tiếp thách thức sự cai trị cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô đã ít và chỉ đến vào cuối các năm 1980, trước sự sụp đổ chế độ chẳng bao lâu, không như ở Việt Nam, trong những năm đầu của phong trào dân chủ hóa.”

So sánh với các nước Đông Âu thời các năm 1980, Việt Nam hiện nay (2015) có vài thuận lợi lớn hơn nhiều là: a) các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu thời đó đã phải chuyển đổi cả chính trị lẫn kinh tế còn Việt Nam bây giờ về cơ bản chỉ cần tiến hành chuyển đổi chính trị và như thế sự chuyển đổi ở Việt Nam có phần giống với sự chuyển đổi ở Hàn Quốc và Đài Loan hơn xét về 2 khía cạnh này; b) công nghệ thời các năm 1980 không tạo thuận lợi cho việc truyền bá thông tin và tổ chức như bây giờ với Internet và các mạng xã hội.

3.3 Vài kịch bản chuyển đổi dân chủ ở Việt Nam

Phần này là những gợi ý dễ rút ra từ những bài học chung nhất của hàng chục nước đã chuyển đổi dân chủ thành công trên khắp thế giới với những sự khác biệt khổng lồ về lịch sử, văn hóa, kinh tế và xã hội trải từ châu Âu, châu Phi, Mỹ Latin đến khu vực Đông và Đông Nam Á của chúng ta. Đây không phải là những dự đoán mà chỉ là những gợi ý để tranh luận, thảo luận, học hỏi và định hướng hành động nếu có thể.

Tất cả phụ thuộc vào chính chúng ta, những người Việt Nam. Nếu chúng ta thụ động, không tham gia tích cực để thúc đẩy dân chủ hóa, sẽ không có dân chủ ở Việt Nam.

Chúng ta vẫn còn trong giai đoạn chuẩn bị và cuộc đấu tranh còn gian khổ và có thể kéo dài nhưng không đối mặt chân thật với xung đột ăn sâu của chính xã hội chúng ta, không tìm mọi cách để đẩy mạnh quá trình chuẩn bị, thì còn lâu dân chủ hóa mới bước vào giai đoạn chuyển đổi.

Chúng ta vẫn đang ở pha chuẩn bị, thế thì bàn đến pha chuyển đổi và củng cố dân chủ để làm gì? Cần bàn đến các pha sau vì nó ảnh hưởng đến tư duy của người dân và những người cầm quyền: bàn về tương lai tác động đến hành vi hiện tại (thúc đẩy người dân tham gia, cải biến những người chống đối) và điều đó có thể rút ngắn quá trình hay giảm bớt chi phí chuyển đổi.
Một vấn đề quan trọng chúng ta không thảo luận trong bài này là mối quan hệ Việt-Trung và ảnh hưởng của nó đến chuyển đổi dân chủ ở Việt Nam. Đây là đề tài quan trọng cần có sự tham gia của nhiều người am hiểu. Thay cho việc đó tôi xin trích A. Michnik khi bàn về mối quan hệ Ba Lan Liên Xô và dân chủ hóa ở Ba Lan.

Theo quan điểm quy ước, các lợi ích của Liên Xô và các lợi ích của xã hội Ba Lan đối lập nhau một cách không thể sửa đổi được trên mọi lĩnh vực. Thế nhưng Michnik đã đi đến một kết luận khác gây sửng sốt từ năm 1976: “Khi ta phân tích độ phức tạp của các mối quan hệ Ba Lan-Soviet, phải lưu ý trên hết rằng những lợi ích của ban lãnh đạo chính trị Soviet, ban lãnh đạo chính trị Ba Lan, và phe đối lập dân chủ Ba Lan về cơ bản là nhất trí. Đối với cả ba bên, một sự can thiệp quân sự Soviet vào Ba Lan sẽ là một thảm họa chính trị. Đối với ban lãnh đạo Ba Lan, một sự can thiệp như vậy sẽ biểu thị sự truất ngôi hay sự giảm địa vị lãnh tụ của một quốc gia ba mươi tư triệu người, với quyền chủ quyền hạn chế, xuống địa vị của cảnh sát hành động nhân danh đế quốc Soviet. Các nhà lãnh đạo Soviet, tuy vậy, chắc chắn nhớ những hậu quả của những cuộc can thiệp của họ vào Hungary và Tiệp Khắc, cũng như quyết tâm của công nhân Ba Lan trong tháng Mười Hai 1970 và tháng Sáu 1976. Nếu chúng ta cũng tính đến cả những tình cảm chống-Nga truyền thống của những người Ba Lan, và thiên hướng của họ để chiến đấu đến cùng do sự tuyệt vọng hoàn toàn (như được chứng minh, thí dụ, trong Khởi nghĩa Warsaw năm 1944), thì chúng ta có thể kết luận rằng một quyết định bởi các nhà lãnh đạo Soviet để can thiệp quân sự vào Ba Lan sẽ tương đương với việc chọn chiến tranh với Ba Lan. Nó sẽ là một cuộc chiến tranh mà Ba Lan sẽ thua trên chiến trường nhưng Liên Xô sẽ thua về mặt chính trị. Một cuộc chiến tranh Soviet thắng lợi với Ba Lan sẽ có nghĩa là một cuộc tàn sát dân tộc đối với những người Ba Lan, nhưng đối với những người Soviet nó sẽ là một thảm họa chính trị. Đấy là vì sao tôi tin các nhà lãnh đạo Soviet, cũng như ban lãnh đạo của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan, sẽ rất thành công để tránh một cuộc xung đột như vậy. Sự miễn cưỡng này phác họa phạm vi của thủ đoạn chính trị chấp nhận được; sự liên kết này về các lợi ích xác định phạm vi của sự thỏa hiệp khả dĩ.” [A. Michnik tr. 143]

Chúng ta có lẽ cần một phân tích thấu đáo quan hệ Việt-Trung về mặt lịch sử, kinh tế, văn hóa, chính trị nhằm xây dựng một mối quan hệ láng giềng lành mạnh với Trung Quốc hạn chế tối đa khả năng can thiệp của Trung Quốc vào công cuộc chuyển đổi dân chủ ở Việt Nam, song đó không phải là nội dung của bài viết này. Tuy vậy, theo tôi trong chính sách đối ngoại nói chung các lực lượng dân chủ nên đề ra chính sách rõ ràng với Trung Quốc nhằm đảm bảo sự độc lập chính trị của Việt Nam đồng thời giữ mối quan hệ tốt với Trung Quốc, đảm bảo các lợi ích hợp pháp của Trung Quốc (giống như của tất cả các nước khác) tại Việt Nam, có chính sách bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam trong đó có người Hoa. Việc đó làm giảm thiểu khả năng can thiệp của nhà cầm quyền Trung Quốc khi Việt Nam tiến hành chuyển đổi dân chủ. Khi đó chắc có thể đưa ra trước kết luận: a) nếu có chuyển đổi dân chủ ở Trung Quốc thì chắc chắn có chuyển đổi dân chủ ở Việt Nam; nhưng ngược lại b) Việt Nam vẫn có thể có chuyển đổi dân chủ trước Trung Quốc mà không sợ sự can thiệp cản trở thô bạo của nhà cầm quyền nước láng giềng.

Chúng ta sẽ xem xét bốn khả năng với ba kịch bản chuyển đổi khả dĩ để thảo luận.

3.3.1 Chưa sớm có chuyển đổi (hay vẫn là status quo)

Kerkvliet (2015) phân tích sáu nhân tố có thể dẫn một nước từ chế độ độc đoán sang dân chủ xem chúng hiện diện ở Việt Nam ra sao và ông đi đến kết luận rằng “hệ thống chính trị của Việt Nam không chắc chuyển mau thành một nền dân chủ thủ tục.” Sáu nhân tố được tác giả này đề cập là: F1-các elite chính trị (các lãnh đạo cao cấp của ĐCSVN, gồm các quan chức chóp bu của chính phủ, quân đội, công an và các cơ quan nhà nước khác) có thái độ thế nào với dân chủ hóa; F2- tính chính đáng của hệ thống (thành tích đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân,…); F3-các giai tầng xã hội-kinh tế (nông dân, công nhân, tầng lớp trung lưu: thái độ của họ với hiện trạng); F4- xã hội dân sự (mức độ phát triển, nhất là các tổ chức xã hội dân sự vận động); F5-Ý thức hệ (chủ nghĩa Marx Lenin, chủ nghĩa dân tộc) và F6-các điều kiện quốc tế (ảnh hưởng của những biến động lớn về dân chủ hóa trên thế giới hay khu vực tác động thế nào đến Việt Nam). Rất nên tham khảo phân tích sâu sắc của Kerkvliet về sáu nhân tố trên (dù chúng ta có thể chưa đồng ý với đánh giá này nọ của ông). Ông thấy: F1-các elite chính trị không ủng hộ dân chủ đa đảng và giữ vững sự lãnh đạo của ĐCSVN mà không có mấy chia rẽ về vấn đề này; F2-tính chính đáng bị sứt mẻ nhiều và nhiều người cho rằng hệ thống không có tính hính đáng nhưng đa số người Việt Nam có lẽ chấp nhận tính chính đáng; F3-tầng lớp trung lưu là những người được lợi và có lẽ phần lớn họ chấp nhận hiện trạng, công nhân chủ yếu đấu tranh vì quyền lợi vật chất như lương và phúc lợi và nhà nước phản ứng khá mềm dẻo với những đòi hỏi đó, nói chung đời sống nông dân được cải thiện và các cuộc đấu tranh chủ yếu xoay quanh vấn đề đất đai; F4-xã hội dân sự khá sôi động, các tổ chức xã hội dân sự vận động còn ít và bị đàn áp, sách nhiễu; F5-ý thức hệ Marx Lenin chẳng còn mấy ý nghĩa, nhà nước cũng sử dụng chủ nghĩa dân tộc được nhiều người Việt Nam chia sẻ nhưng trong quan hệ với Trung Quốc có thể chủ nghĩa dân tộc lại hóa ra bất lợi cho hệ thống; F6-người Việt không nhạy cảm lắm với những biến động dân chủ hóa trên thế giới và khu vực (từ những biến động ở Đông Âu, Liên Xô cuối các năm 1980 đầu các năm 1990 đến biến đổi Myanmar gần đây).

Ông nhận thấy chỉ có nhân tố F5 hiện diện rõ ràng, nhân tố F4 hiện diện vừa phải còn các nhân tố khác không thuận lợi cho chuyển đổi dân chủ và ông đi đến kết luận rằng “hệ thống chính trị của Việt Nam không chắc chuyển mau thành một nền dân chủ thủ tục” Kerkvliet (2015, tr. 437). Tuy vậy, ngay sau đó trong đoạn kết của bài phân tích Kerkvliet bảo: “But, who knows? Ai mà biết được? Vì sự tiên đoán là rất khó khăn và vẫn có nhiều khả năng khác xảy ra. Và, bản thân nhận xét này của Kerkvliet cũng có thể gợi ý cho chúng ta những định hướng hoạt động: phải đẩy mạnh công tác “đảng vận” để tác động đến F1, vạch ra và chứng minh tính không chính đáng của hệ thống F2, vận động các tầng lớp xã hội nhất là kết nối trí thức với công nhân và nông dân F3, phát huy các điều kiện quốc tế F6 và tất nhiên phải tiếp tục phát triển xã hội dân sự F4. Nếu chúng ta hoạt động tích cực, kiên trì, không mệt mỏi thì chắc chắn có thể rút ngắn cái không mau này, hay biến những khả năng khác thành kịch bản khả dĩ hoặc thậm chí sự thực trong thời gian tới, tức là rút ngắn cái không mau đó nhưng đừng bao giờ nóng vội trong hành động. Để diễn đạt những gợi ý này hãy biểu diễn sáu nhân tố mà Kerkvliet đưa ra dưới dạng trực quan sau đây:

Nhằm làm nổi bật sự định hướng hành động mà chúng ta nói tới ở đây, có lẽ nên trình bày các ý tưởng này (có thể hiểu như cái khung của không gian chính trị) dưới dạng khác đi một chút, trực quan hơn qua đồ thị để dễ hình dung, chẳng hạn như ở hình sau với sự đánh giá của mỗi nhân tố (với giá trị của mỗi nhân tố từ 0 đến 1 về mức độ tạo thuận lợi cho dân chủ hóa). Lưu ý ở đây chúng ta đừng quan tâm đến các giá trị cụ thể như năm 2015 và 2020 hay các giá trị của các nhân tố F1 đến F6 (chúng chỉ mang tính minh họa để tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội).

Hình 7. Minh họa chiến thuật trong “nống” ngoài “kéo”

Hình 7. Minh họa chiến thuật trong “nống” ngoài “kéo”

Cần lưu ý thêm vài điểm. Đầu tiên, tất cả các nhân tố này biến động theo thời gian (có thể tăng hay giảm) và như thế có thể giúp chúng ta hình dung về động học của sự thay đổi. Các lực lượng trong nước phải nỗ lực hết sức để “nống”, để nới rộng không gian chính trị này ra, và kết hợp với các áp lực quốc tế kéo từ bên ngoài để cùng mở rộng không gian chính trị đó.
Kết hợp khéo chiến thuật trong “nống” ngoài “kéo” thì có thể hình dung ba kịch bản sau đây.

3.3.2 Kịch bản chuyển đổi do những người đương chức dẫn dắt (cách mạng từ trên hay cải cách từ dưới trên Hình 2). Có thể xảy ra tình huống đột xuất (khủng hoảng, sự thay đổi ở bên ngoài) và dưới áp lực từ bên trong, một số người đương chức có thể thấy phải thay đổi nếu không muốn sụp đổ, họ có thể chủ động loại những kẻ bảo thủ để khởi xướng và tìm cách dẫn dắt sự chuyển đổi vì chính lợi ích của họ.

Không có áp lực mạnh mẽ từ dân chúng, không có sự vận động hữu hiệu những người đương quyền, khả năng này không xảy ra. Áp lực càng mạnh và sự thuyết phục càng hiệu quả thì khả năng của kịch bản này càng cao. Vì thế những cách tiếp cận nêu trước đều có vai trò và công tác đảng vận rất quan trọng để tạo ra các khuyến khích cho họ hay để thuyết phục họ hiểu rõ những khuyến khích mạnh mẽ đó khiến họ tiến hành dân chủ: thí dụ khuyên những người đương chức rằng “các vị đủ giàu rồi, nhân dân chắc sẽ bỏ qua lỗi lầm của các vị nếu các vị tiến hành dân chủ, làm thế các vị còn để lại di sản tốt cho con cháu, cho họ hàng mình, còn có thể để lại tiếng thơm trong lịch sử thay cho bị lịch sử lên án là những tội đồ.” Trường hợp Bulgaria, hay Chile phải là bài học cho tất cả chúng ta, nhất là những người CSVN. Hoặc trường hợp như Mông Cổ và Đài Loan nơi những người Cộng sản Mông Cổ và lãnh đạo Quốc Dân Đảng ở Đài Loan đã rất chủ động để tiến hành chuyển đổi, tuy phương thức chuyển đổi của họ là giao dịch nhưng những người đương chức có vai trò chủ động và kiểm soát được sự chuyển đổi. Cách chuyển đổi này có thể không chỉ là kết quả của cách tiếp cận ĐL trong pha chuân bị, mà có thể là kết quả của cả bốn cách tiếp cận (Hình 6).

Khả năng này nhỏ nhưng không phải bằng không như kinh nghiệm quốc tế cho thấy và chúng ta không nên loại bỏ phương thức chuyển đổi này. Công việc thúc đẩy “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến” mà những người chủ trương cách tiếp cận xã hội dân sự công khai cổ súy có thể thúc đẩy kịch bản này. Không làm cho những người cộng sản lo sợ “mất sổ hưu”, sợ bị trả thù, bị khủng bố, và những kinh nghiệm về những người cộng sản đã “cải đạo” thành dân chủ xã hội (như ở Hungary, Ba Lan, Mông Cổ) vẫn có cơ hội nắm quyền và đã thực sự nắm quyền* trong nền dân chủ mới với sự cạnh tranh lành mạnh của các đảng chính trị, có thể khuyến khích một số đảng viên ĐCSVN “tự diễn biến” như các đồng chí của họ ở ba nước xã hội chủ nghĩa trước kia, hay như các đảng viên Quốc Dân Đảng ở Đài Loan. Và trên tinh thần ấy hãy tôn trọng những người theo cách tiếp cận ĐL, những đảng viên ĐCSVN ký “Thư ngỏ 61.”

3.3.3 Kịch bản cải cách qua đoạn tuyệt (Hình 2).

Chỉ có những biến động lớn xảy ra và chế độ cộng sản trên bờ vực sụp đổ, thì có thể xảy ra phương thức chuyển đổi này ở Việt Nam. Kịch bản này có lẽ còn ít khả năng hơn kịch bản 3.3.1 ở trên. Tuy vậy xác suất của kịch bản này cũng không bằng không và chúng ta không được coi thường mà nên chuẩn bị để sẵn sàng chớp lấy. Chế độ độc tài quân sự Archentina thực sự sụp đổ, mất hết tính chính đáng sau thất bại thảm hại của chiến tranh Falklands/Malvinas với Anh và để cho đối lập dẫn dắt sự chuyển đổi. Ở Tiệp Khắc, sau các sự kiện chấn động ở Ba Lan, Hungary và sau khi tường Berlin sụp đổ, những người cộng sản Tiệp khắc đầu hàng dưới sức ép của các cuộc biểu tình quần chúng và đẩy các những người khởi xướng Hiến chương 77 lên vị trí lãnh đạo trước sự ngạc nhiên của chính họ. Và kịch bản này có thể diễn ra không chỉ như kết quả (của những biến cố lớn và) của những người theo cách tiếp cận đối đầu (ĐĐ) mà cả của những người theo cách tiếp cận ĐL và XhDs nữa (Hình 6), cho nên hãy chuẩn bị và nhất là không nên chỉ trích lẫn nhau (nhà cầm quyền thích điều đó lắm!)

3.3.4 Kịch bản thương thuyết hay giao dịch (Cải cách qua giải thoát và giao dịch Hình 2)

Đây là kịch bản chuyển đổi mà cả những người đương quyền lẫn nhân dân (đối lập) đều điều chỉnh (và kết hợp đối đầu và điều chỉnh), cả hai bên đều chủ động thương lượng, đàm phán nhằm tạo dựng các định chế cơ bản của dân chủ bằng cách đối mặt chân thành với xung đột ăn sâu trong xã hội chúng ta. Trên Hình 2 chúng ta thấy 10 nước trong số 14 nước đã chuyển đổi thành công đã đi theo kịch bản này. Nếu tính cả Hy Lạp, Bồ Đào Nha và nhiều nước Mỹ Latin khác cũng ít nhiều theo kịch bản này chúng ta thấy tuyệt đại bộ phận các nước đã chuyển đổi dân chủ thành công đã đi theo kịch bản này.

Số đảng viên ĐCSVN hiện nay cỡ 3,6 triệu. Tôi tin tuyệt đại đa số họ muốn dân chủ hóa, con số những người cố thủ bám quyền lực chắc không nhiều. Nếu tính mỗi đảng viên ĐCSVN có 3 người thân (vợ, chồng, con cái,..) thì số người liên quan cỡ 11triệu người! Không thể không tính đến họ. Những người mong muốn dân chủ thực sự chắc chắn phải thấm nhuần tư tưởng khoan dung, hòa giải và tôn trọng ý kiến thiểu số dẫu là ý kiến cộng sản. Cho nên tìm cách thuyết phục họ, gây áp lực và sức ép để buộc họ cùng thương lượng cho một sự chuyển đổi yên bình, văn minh, giữ được sự ổn định và đỡ tốn kém nhất cho đất nước và dân tộc phải là mệnh lệnh. Tất cả chúng ta, những người theo cách tiếp cận từ trên xuống (ĐL), cách tiếp cận tham dự (TD), cách tiếp cận đối đầu (ĐĐ) và cách tiếp cận xã hội dân sự hãy thảo luận, bàn bạc, lắng nghe nhau, tôn trọng nhau và ủng hộ nhau (hay chí ít không đả kích nhau) thúc đẩy cho sự chuyển đổi dân chủ ở Việt Nam, đấy là cách thúc đẩy nhanh nhất sự chuyển đổi dân chủ ở nước ta.

Nhanh hay chậm là ở chính chúng ta và tất nhiên cũng phụ thuộc vào các elite đương chức (và thái độ và hành xử của họ cũng phụ thuộc vào hoạt động của chính chúng ta). Và việc dùng mọi cách tiếp cận để gây sức ép, để vận động họ (công tác “đảng vận” nếu chúng ta mượn cách nói của họ) là một việc quan trọng. Tuy nhiên, phải hiểu rằng dân chủ hóa là một quá trình gay go, gian khổ và kéo dài, không thể nóng vội. Và sự tìm hiểu, tranh luận về quá trình này, rút ra những bài học (để dùng hay để tránh), chuẩn bị các phương án khác nhau cho bản thân sự chuyển đổi và sự củng cố dân chủ trong tương lai là bổ ích, quan trọng và nên làm.

LỜI CẢM ƠN

Tác giả cảm ơn các góp ý và bình luận quý báu của một số thành viên Nhóm 23, của một số nhà hoạt động trẻ, một số người tham dự Hội thảo Hè (Berlin 24-25/7/2015), của một số trí thức và doanh nhân tại Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Czech và Cộng hòa Ba Lan, của Gs. Kerkvliet và Ts. Vũ Quang Việt đã giúp làm rõ một số điểm và làm cho bài viết được sáng sủa và dễ hiểu hơn.

© Nguyễn Quang A

 —————————————————————————

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bàn Tròn Ba Lan: Những Bài Học, Kỷ yếu Hội thảo nhân kỷ niệm 10 năm Bàn Tròn Ba Lan, 7-10/4/1999, Đại học Michigan, Hoa Kỳ (bản tiếng Việt, 2013).
Cynthia Bautista (2008), “Democratic Consolidation and the Challenge of Poverty in the Philippines” trong Hsin-Huang Michael Hsiao (2008) (ed.); được nhắc tới như Bautista: Hsiao (bản tiếng Việt)
Thomas Carothers, “The End of the Transition Paradigm,” Journal of Democracy 13 (January 2002): 5–21.

Paul J. Carnegie (2010), The Road from Athoritarianism to Democratization in Indonesia (Con Đường từ Chủ nghĩa Độc đoán đến Dân chủ hóa ở Indonesia, 2015)
Hyo-Je Cho (2008), “Human Rights as a Qualifier and a Catalyst for Korea’s Democracy” trong Hsin-Huang Michael Hsiao (2008) (ed.); được nhắc tới như Cho: Hsiao (bản tiếng Việt)
J. M. Colomer, Game Theory and the Transition to Democracy – The Spanish Model, Edward Elgar, 1995, Lý thuyết Trò Chơi và Chuyển đổi sang nền Dân chủ – Mô hình Tây Ban Nha (2014)
Larry Diamond, Facing Up to Democratic Recession, Journal of Democracy, January 2015, Vol. 26, No. 1., pp. 141-155
Milovan Djilas, Giai cấp Mới, Phạm Nguyên Trường dịch, NXB Giấy Vụn (2010)
Alessandro Franquelli (2013), Mongolia: A Success Story? An Analysis of the Democratization Process. Department of Politics, Birkbeck College, University of London.
Stephan Haggard and Robert R. Kaufman, “The Political Economy of Democratic Transitions” Comparative Politics 29, no. 3 (April 1997), trong Lisa Anderson (ed.), Chuyển đổi sang Dân chủ (2015) tr. 141-167
Carolina G. Hernandez (2008), “Rebuilding Democratic Institutions: Civil-military Relations in Philippine Democratic Governance” trong Hsin-Huang Michael Hsiao (2008) (ed.); được nhắc tới như Hernandez: Hsiao (bản tiếng Việt)
Hsin-Huang Michael Hsiao (2008), “Civil Society and Democratization in Taiwan:1980-2005” trong Hsin-Huang Michael Hsiao (2008) (ed.); được nhắc tới như Hsiao (bản tiếng Việt)
Hsin-Huang Michael Hsiao (2008) (ed.), Asian New Democracies: The Philippines, South Korea and Taiwan Compared, Taiwan Foundation for Democracy & Center for Asia-Pacific Area Studies, RCHSS, Academia Sinica, Taipei, Taiwan (Các nền Dân chủ Á châu Mới: So sánh Philippines, Hàn Quốc, Đài Loan 2015)
Evelyne Huber, Dietrich Rueschemeyer, and John D. Stephens, “The Paradoxes of Contemporary Democracy: Formal, Participatory, and Social Democracy”, Comparative Politics 29, no. 3 (April 1997), trong Lisa Anderson (ed.), Chuyển đổi sang Dân chủ (2015) tr. 168-192
Benedict J. Tria Kerkvliet, “Workers’ Protests in Contemporary Vietnam (with Some Coparisons to Those in the Pre-1975 South), Journal of Vietnamese Studies, Vol. 5, No. 1 (Winter 2010), pp. 162-204.
Benedict J. Tria Kerkvliet, “Regime Critics: Democratization Advocates in Vietnam, 1990s-2014.” bản thảo (2015a). Bản rút gọn vừa được công bố tại Critical Asian Studies, 2015, Vol. 47, No. 3, pp. 359-387
Benedict J. Tria Kerkvliet, “Democracy and Vietnam”, in Routledge Handbook of Southeast Asian Democratization, edited by William Case (2015)
Heinz Klug (2000), Đàm phán các Chế độ Pháp lý Mới: Bàn Tròn Ba Lan và Cách mạng được Dàn xếp của Nam Phi, trong Negotiating Radical Change: Understanding and Extending the Lessons of the Polish Round Table Talks Michigan University Press, 2000: Thương lượng sự Thay đổi Cơ bản: Hiểu và Mở rộng các Bài học của các cuộc Đàm phán Bàn Tròn Ba Lan, bình luận về Hội thảo nhân dịp kỷ niệm 10 năm Bàn Tròn Ba Lan, (bản tiếng Việt tr. 133-149.
János Kornai, Hungary’s U-Turn: Retreating from Democracy, Journal of Democracy, June 2015, Vol. 26, No. 3., pp. 34-48
Yeoung Yoo Kyung (1995-2010), Thực trạng và đặc điểm vấn đề đình công trong khu vực FDI ở Việt Nam 13/9/2013 Tạp chí Lao động & Xã hội
Tương Lai (1997), Báo cáo sơ bộ về cuộc khảo sát xã hội học tại Thái Bình cuối tháng 6, đầu tháng 7 năm 1997
Steven Levitsky, Lucan Way, The Myth of Democratic Recession, Journal of Democracy, January 2015, Vol. 26, No. 1., pp. 45-58
Chia-Lung Lin and I-Chung Lai (2008), “Taiwan’s Party Realignments in Transition” trong Hsin-Huang Michael Hsiao (2008) (ed.); được nhắc tới như Lin-Lai: Hsiao (bản tiếng Việt)
Adam Michnik (1976), A New Evolutionism, trong A. Michnik, Letters from Prison and Other Essays, University of California Press, 1985 (Bản tiếng Việt, Những Lá Thư từ Nhà tù và các Tiểu luận khác, 2014, tr. 135-148). Một Chủ nghĩa Tiến hóa mới (1976) của A. Michnik phân tích tiếp ý tưởng của Leszek Kolakowski “Tezy o nadziei i beznadiejnosci – các luận đề về hy vọng và sự tuyệt vọng” Kultura 6 (1971) tr. 3-21 (Bản dịch tiếng Anh xuất hiện với tiêu đề “Hope and Hopelessness”, Survey, Summer 1971, tr. 37-52), sau đó được bổ sung bởi tiểu luận chính trị năm 1978 của Vaclav Havel “Moc bezmocných” (The Power of the Powerless- Quyền lực của người không có quyền lực do Phạn Nguyên Trường dịch) tạo thành ba tiểu luận cung cấp nền tảng tư tưởng cho cuộc đấu tranh dân chủ ở các nước cộng sản. Có bản tiếng Việt của cả ba tiểu luận.
Một Năm Hội nghị Diên Hồng Hungary, chọn lọc những tài liệu liên quan đến Bàn Tròn Hungary 1989, Nguyễn Quang A lựa chọn và dịch, 2005.
Gerardo L. Munck and Carol Skalnik Leff, “Modes of Transition and Democratization: South America and Eastern Europe in Comparative Perspective” Comparative Politics 29, no. 3 (April 1997), trong Lisa Anderson (ed.), Chuyển đổi sang Dân chủ (2015) tr. 193-216
Kie-Duck Park (2008), “Political Parties and Democratic Consolidation in Korea” trong Hsin-Huang Michael Hsiao (2008) (ed.); được nhắc tới như Park: Hsiao (bản tiếng Việt)

Shelley Rigger, “Democratic Transition and Consolidation in Taiwan”, Taiwan’s Future in the Asian Century: Toward a Strong, Prosperous and Enduring Democracy Conference, American Enterprise Institute, Washington, DC, November 10, 2011, được nhắc tới như Rigger: Hsiao (bản tiếng Việt)
Temario C. Rivera (2008), “The Crisis of Philippine Democracy” trong Hsin-Huang Michael Hsiao (2008) (ed.); được nhắc tới như Rivera: Hsiao (bản tiếng Việt)
Dankwart A. Rustow, “Transitions to Democracy: Towards a Dynamic Model”, Comparative Politics 2, no. 2 (April 1970) p. 337-63, trong Lisa Anderson (ed.), Chuyển đổi sang Dân chủ (2015) tr. 14-41.
Don Chul Shin (2008), The Third Wave in East Asia: Comparative and Dynamic Perspectives, Asean Barometer Conference on The State of Democtratic Governance in Asia, June 20-21, 2008, Taipei
Ezra Suleiman, Bureaucracy and Democratic Consolidation: Lessons from Eastern Europe, Comparative Politics 29, no. 3 (April 1997), trong Lisa Anderson (ed.), Chuyển đổi sang Dân chủ (2015) tr. 14-41
Cao Huy Thuần, Dân chủ? Vẫn là mơ thôi? Thời Đại số 33 Tháng 7, 2015, tr. 1-12

 

14 Phản hồi cho “Dân chủ hóa: vài bài học quốc tế và kịch bản khả dĩ cho Việt Nam[2]”

  1. Minh says:

    Không biết dưa vào đâu mà ông Nguyễn Quang A lại có thể ngang nhiên khẳng định cho con số “không” hay số “một” trong hình bốn và hình năm của mục : “3.2.1 Bốn cách tiếp cận trong các giai đoạn khác nhau.”

    Nếu ông Nguyễn Quang A chỉ dựa vào quan điểm của một vài nhà hoạt động dân chủ mà ông quen biết tới lui thì kết luận của ông là bịp bợm vì còn cả triệu người cờ Vàng đang đấu tranh khác chưa được hỏi ý đến.

    Thông thuờng, những kết luận của hình bốn hình năm của mục 3.2.1 thường phải được dựa trên “population count” khỏang trên 100 ngàn người thì mới thể hiện rõ, phản ánh rõ bản chất thực sự của xã hội.

    Dân chủ không cần kịch bản- dân chủ cần lòng can đảm đối đầu với bạo quyền. Không có một nền dân chủ nào được xây dựng trên sự sợ hãi cả .

    Hãy treo cờ Vàng từ Bắc chí Nam đối kháng trực diện với Cộng láo- hãy đốt sạch các đồn công an và hãy lôi cổ bọn cán cộng láo ra xét xử.

    Muốn có dân chủ hóa trọn vẹn, chúng ta phải lật đổ chế độ Cộng Sản láo trước, thiết lập chính thể Việt Nam Cộng Hòa- Người Cày có ruộng và từ đó , tiến trình dân chủ hóa từng bước cải thiện hoàn thiện chính quyền mới có thể bắt đầu.

    Chưa nhìn thấy cờ Vàng phất phới trên mổi nóc nhà Việt Nam , đừng hòng nhìn thấy dân chủ hay Xã hội dân sự.

    Đừng tin vào những gì mà bọn trí thức Xã Hội Chủ Nghĩa phán , hãy tin vào chính nhận thức và con tim của bạn , tiếp tục học hỏi điều nghiên Cộng Sản láo lếu tinh vi ra làm sao, điều nghiên tính chính nghĩa cứa Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng láo phun láo bôi nhọ ra làm sao ,từ từ , trái tim nhiệt huyết yêu nước cũng như nhận thức của bạn sẽ chuyển đổi và đến gần với cờ Vàng và bảo vệ sự thật, bảo vệ chính nghĩa của lá cờ này bằng cả tấm lòng bất chấp nguy nan .

    Việt Nam Cộng Hòa- Người Cày Có Ruộng Tự Do Dân Chủ Muôn Năm!

  2. Minh says:

    Ngày nào còn Cộng láo là ngày đó Việt Nam Cộng Hòa – Người Cày Có Ruộng còn bị bôi nhọ đủ mọi hình thức từ mọi giới vốn có hồn cộng sản giả dạng quốc gia Rân chủ lẫn thầy tu hay trí thức. Giống như yêu tinh thì biến hóa khôn lường , Cộng láo thì núp bóng muôn đường, muôn nẻo …nhưng cứ đem cờ Vàng ra mà đập tới tấp là lộ hết bóng dáng yêu tinh Cộng láo .

    Giới trí thức đừng tiếp tay với Cộng láo bôi nhọ Việt Nam Cộng Hòa nữa

    Việt Nam Cộng Hòa – Người CàY Có Ruộng muôn năm !
    ( tức quá phải không mấy cò Cộng láo )

    1. Hãy phát động phong trào treo cờ Vàng từ Nam chí Bắc, hay ” treo” trên facebook

    2. Hãy phát động phong trào đốt sạch mọi đồn công an , xông vào nhà cán Cộng và thân nhân , lôi cổ bọn nà ra xét xử , thậm chí nếu lôi ra chưa được thì đốt hết nhà bọn Cán Cộng này.

    Không có một kịch bản chính trị nào cho Việt Nam cả, chỉ có quyết tâm xóa bỏ sợ hãi mù quáng vị kỷ trong lòng chúng ta mà thôi . Khi xóa bỏ sợ hãi vị kỷ rồi, chúng ta sẽ thấy Việt Nam Cộng Hòa – Người Cày Có Ruộng thật sự muôn năm !

  3. Nguyễn Văn says:

    Bài lỳ thuyết và những đề cập trong bài chỉ là những lý thuyết mà đảng cộng sản đã áp dụng tuyên truyền kêu gọi đấu tranh mỵ dân để cướp chính quyền từ cách mạng mùa thu cướp chính quyền năm 1945 rồi kêu gọi đi giải phóng Miền Nam để cướp đất nước. Những phương thức trên không thể xảy ra trong chế độ cộng sản. Không bao giờ cộng sản để bất cứ cái gì hoặc điều gì đe dọa chế độ. Với cộng sản, chúng thà giết lầm hơn bỏ sót. Chế độ chỉ có hai giai cấp là giai cấp cầm quyền và người dân là nô lệ. Đừng mong cộng sản sẽ tự thay đổi khi người dân ở thế yếu và chúng vẫn ở thế mạnh cầm quyền. Đừng mong chúng cho người dân tham gia chính quyền lãnh đạo đất nước nếu không là người của chúng. Chỉ khi nào người dân ở thế mạnh mà chúng không đủ khả năng ra tay tàn sát thì chúng mới điều đình, và điều đình là người dân thất bại. Chỉ một việc tỏ lòng yêu nước chống Tàu, chống Tàu chứ chưa phải chống chế độ, mà chúng ra tay đàn áp và bắt bớ ra sao? Bao nhiêu người vẫn còn trong tù? Chỉ nói sơ vậy để hiểu rằng đừng mơ mộng mà phải đấu tranh thực tế, phải đoàn kết, chấp nhận hy sinh cùng nhau xuống đường mới mong chiến thắng được chúng.

    Sẵn đây xin góp ý việc bỏ Cờ Vàng. Ý kiến bỏ Cờ Vàng giống như con dao 2 lưỡi mà người dân trong nước nắm một đầu, người Việt tỵ nan cộng sản nắm một đầu, và đảng cộng sản nắm cán. Coi như Cờ Vàng hoàn toàn triệt tiêu và toàn dân trong ngoài nằm trong tay đảng. Không biết tương lai sẽ ra sao nhưng trước mắt là để chế độ tồn tại lâu hơn và cộng đồng người tỵ nạn cộng sản mất Cờ Vàng là thua hoàn toàn về chính trị. Tất cả nằm trong tay đảng. Ý kiến bỏ Cờ vàng hoàn toàn chỉ có lợi cho cộng sản.
    Giống như một tên cướp vào nhà bạn thì phải bắt nó, tống cổ nó ra khỏi nhà bạn để tránh mối nguy chứ không điều đình để tên cướp sống chung trong nhà với nạn nhân.
    Giống như Vietcong xâm lăng, vào Miền Nam đánh giết rồi năm 1973 ký Hiệp Định Ba Lê nhưng tiên quyết đòi vẫn đóng quân tại chỗ ở Miền Nam để chờ cơ hội chiếm. Lịch sử đã xảy ra và đau thương cho cả người dân hai miền bị đảng cộng sản VN lừa vẫn còn đó. Ông A có phải đang làm thuyết khách cho đảng cộng sản muốn triệt tiêu Cờ Vàng? Rõ ràng đây là đường lối lùa Ta vào tay Địch. Cộng sản đã cho nhiều nhân vật chống đối ra nước ngoài định cư sống chung với Cờ Vàng nhưng không chấp nhận Cờ Vàng. Họ kêu gọi tự do, dân chủ, nhân quyền mà vẫn tôn sùng Cờ Đỏ. Còn ông A thì sao? Có phải ông muốn tiếp nối những người đi trước? Cộng sản đang dùng thuyết khách kiến thức hơn để mong kéo dài chế độ khi đã mất niềm tin nơi dân? Nhưng tất cả đã hoàn toàn thất bại và cộng sản sẽ thất bại trước sức mạnh Cờ Vàng ngày nay.

    Đừng để mất Cờ Vàng. Mất Cờ Vàng thì còn ai chống cộng sản ở hải ngoại? Mất Cờ Vàng là chúng ta thua lần nữa, và lần này chính chúng ta thua chứ không phải Mỹ bỏ rơi, và tinh thần tự do, dân chủ của Miền Nam coi như kết liễu và Vietcong thắng dứt điểm một lần nữa mặt trận hải ngoại.

    Hãy thay đổi ngược lại, cho Cờ Vàng hiện diện trong nước và chúng tôi hứa sẽ không lật đổ đảng cộng sản thì liệu cộng sản có dám chấp nhận?
    Cộng sản là khắc tinh, là kẻ thù của tự do, dân chủ và nhân quyền!

    nv

  4. Minh says:

    Hãy đem nhà tù đến cho Cộng cán và đừng bao giờ để Cộng Cán kết án bỏ tù chúng ta. Hãy đốt sạch tất cả đồn công an tại địa phương, các trụ sở UBND Xã, Phường , Quận , vv

    Hãy cấm cờ Vàng biểu tượng của Việt Nam Cộng Hòa- Người Cày Có Ruộng trước cửa nhà thể hiện tấm lòng quyết tâm lật đổ Cộng sản của chúng ta.

    Nếu không cương quyết đối mặt với Cộng láo , chúng ta sẽ không bao giờ có thể lật đổ được Cộng láo .

    • Khổng Khuyết says:

      Không việc gì phải phát động phong trào Tổng Tuyệt Thực, hãy phát động phong trào cấm cờ Vàng, treo cờ Vàng bất bạo động ngay trước cửa nhà của mình là đủ thể hiện quyết tâm đòi dân chủ-tự do!

    • Minh says:

      “cắm cờ Vàng”

  5. Minh says:

    Lật đổ chế độ Cộng Sản, dựng lại chính thể Việt Nam Cộng Hòa là con đường ngắn nhất để Việt Nam có được Dân Chủ – Tự Do và người Cày có được ruộng!

  6. NÓI VỀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ KHOA HỌC XÃ HỘI

    Khoa học tự nhiên dựa trên những quy luật khách quan, tự nhiên. Đó là quy luật của vật lý, của sinh học, của suy lý (như toán học). Nói chung lô-gích của khoa học tự nhiên luôn là lô-gích của vật chất, tức của chất thể hay của hệ thống cơ chế máy móc tự nhiên.

    Khoa học xã hội hay nhân văn trái lại là khoa học dựa trên ý thức, hiểu biết, ý chí, ước vọng hay nguyện vọng tự nhiên của con người. Vật chất chỉ tác dụng trực tiếp đến vật chat nhưng lại chỉ tác dụng gián tiếp tới ý thức. Trong khi đó ý thức có thể tác dụng trực tiếp đến vật chat và tác dung trực tiếp giữa chúng (ý thức) với nhau.

    Từ đó cũng thấy rằng đấu tranh cho nền dân chủ tự do đúng nghĩa của một xã hội (như xã hội Việt Nam hiện tại chẳng hạn), vấn đề không phải lý luận suông, kiểu lô-gích suông, trừu tượng, mà là chính bằng các ý thức và tự duy cụ thể của từng cá nhân. Có nghĩa nền tảng chung vẫn là ý nghĩa dân trí, hay/tức nhận thức và ý thức riêng của mỗi cá nhân con người. Có nghĩa chính mọi con người cụ thể quyết định mà không ai khác.

    Nói cách cụ thể, chủ yếu đây không phải đấu tranh giữa thân xác, mà là đấu tranh giữa ý thức, nhận thức, ý chí và nguyện vọng chính đáng của mỗi con người. Dĩ nhiên số đông bao giờ cũng thắng lợi, vì đó là con đường dân chủ, con đường tiết kiệm, con đường it hao tốn nhất. Hay nói huỵch tẹt ra, khi mọi người đều hiểu bàn chất và hiệu quả thật sự của tự do dân chủ đúng nghĩa là gì, hiểu đúng nghĩa bản chất thật sự và những điều phi lý của ý thức hệ mác xít là gì, khi đó mọi sự đều trở thành sáng tỏ trong ý thức, nhận thức và hành động.

    Nên nói chung lại, ý nghĩa của sự chuyển hóa hay sự đấu tranh cho tự do dân chủ đúng nghĩa nơi xã hội nước ta hiện nay không ngoài chùm chìa khóa của sự nhận thức mọi mặt, sự ý thức mọi mặt và sự phân biệt giữa cái gì đúng đắn hay sai trái về mọi mặt, cái gì thật sự hiệu quả hay phi hiệu quả cho toàn xã hội và cho mọi cá nhân về mọi mặt. Bởi dĩ nhiên khoa học luôn luôn là điều gì hiệu suất và kết quả nhất mà không phải chỉ có thuần tình cảm hoặc cảm tính thuần túy đều luôn vẫn chỉ là những cái nhất thời và tạm bợ.

    Tôi thấy ông Nguyễn Quang A khi viết bài nói về kịch bản dân chủ hóa ở các nước cũng như ở VN ta hiện nay cần ý niệm sâu sắc hơn nữa về các khía cạnh và ý nghĩa của khoa học nhân văn và xã hội nên thấy cần phải nếu lên một số ý kiến ngắn về chính vấn đề như trên đây.

    ĐẠI NGÀN
    (18/8/15)

  7. Minh says:

    Nền chính trị Việt Nam đến nay ,vẫn còn cuộc xung đột gắt gao không khoang nhượng giữa Việt Nam Cộng Hòa & Cộng Sản Việt Nam. và đây chính là sự xung đột chính, mạnh hơn mọi sự xung đột khác . Chỉ có lực lượng người dân cờ Vàng ở Việt Nam mới đủ khả năng lật đổ Cộng Sản trong tương lai.

    • thanh says:

      Ông Minh có biết phó tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ gọi mấy ông cờ vàng là một lũ du côn không? Hô đáng đổ CS từ hơn 40 năm nay mà CS thì ngày càng mạnh lên. Hô khẩu hiệu mồm thì dễ, làm mới khó ông ơi! Cá nhân ông có làm được cái gi ha?

      • Minh says:

        @ Cò Cộng láo “thanh”

        1. Em cò Cộng láo bảo Anh đã làm được gì chưa …. sao em cò không vào bộ Công An moi hồ sơ ra xem? Em cò hỏi vớ vẫn thiếu ” trình độ chuyên môn” quá vậy em! Chẳng lẽ em cò cần Anh nhắc?

        2. Việt Nam Cộng Hòa hiện diện sớm hay muộn tại Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào hạng cộng láo như em ít hay nhiều.

        2a. Nếu hạng Cộng láo như em nhiều quá thì tốn thêm thời gian để trừ khữ , tốn thêm thời gian để thuyết phục, để giác ngộ.

        2b. Còn nếu Cộng láo như em ngày mổi ít đi do “nhận thức tốt” , biết rõ Cộng Sản là thãm họa nên ghét nên ghét nên bỏ thì Việt Nam Cộng hiện hiện diện sớm hơn.

        Đơn giản có vậy thôi mà em cũng không biết phải đợi Anh giải thích hay sao em?! Em làm cộng láo lâu ngày nên lú lẫn hả em?

        3 Nguyễn Cao Kỳ khi phỏng vấn báo chí Đức có trả lời là ông khinh miệt Cộng Sản, bảo Cộng sản chỉ là tàn bạo khủng bố và lừa dối… em còn nhớ đoạn phỏng vấn này không em cò?

        Thưa bà con cô bác lẫn mấy em nhỏ làm cò cộng láo ,

        Mọi kịch bản chính trị điều đổ vỡ nếu chúng ta còn sợ hãi. Chúng ta hãy vứt bỏ sự sợ hãi & hãy đem sợ hãi đến cho Cán Cộng Đảng Viên bằng cách :

        A. Hãy treo cờ Vàng biểu tượng của Việt Nam Cộng Hòa- Người Cày Có Ruộng trước cửa khắp mọi nơi

        B. Hãy đốt sạch các trụ sở công an , UBND phường huyện, ..

        C. Hãy xông vào nhà tất cả cán Công và thân nhân …. lôi cổ bọn này ra xét xử ; tịch thu hết tài sản kếch xù của cán cộng trả về cho quốc dân , trong đó có cả ruộng đất nhà cửa .

        VIỆT NAM CỘNG HÒA- NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG MUÔN NĂM !

      • Nguyen Quang says:

        Dư lợn viên t đọc nhá :

        Nguyễn phú Trong: “Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”?

        “Thế giới đại đồng” đâu cho đến nay chẳng thấy, chỉ thấy Tàu cộng rơi mặt nạ biến thành đế quốc trắng trợn quơ tay giật cướp biển, đảo của Việt Nam.

        “Thế giới đại đồng” đâu chẳng thấy , chỉ thấy bầy đàn Cộng sản Hà nội nay phải xin rúc vào cánh phượng hoàng Mỹ quốc .

        “Thế giới đại đồng” đâu chẳng thấy, chỉ thấy khối Cộng sản phút chốc sụp đổ tan tành, chỉ còn lại bè lũ tàn dư năm nước .

        “Thế giới đại đồng” đâu chẳng thấy, chỉ thấy Tàu cộng – Việt cộng- Miên cộng choảng nhau chí chạp.

        “Thế giới đại đồng” đâu chẳng thấy, chỉ thấy gần 5 triệu tên lính Quân Đội Nhân Dân chết trong các cuộc chiến tranh Đông Dương, Biên Giới và Kampuchea .

        “Thế giới đại đồng” đâu chẳng thấy, chỉ thấy hàng trăm ngàn người bị đấu tố chết thảm trong Cải Cách Ruộng Đất, 6000 người bị chôn sống dịp Tết Mậu Thân, hàng trăm ngàn người bị chết vì chạy giặc năm 75….

  8. Thức tỉnh says:

    Tuyệt ! Một kịch bản tổng hợp có giá trị dựa vào thực tế xã hội . Rất cần thiết cho các hội đoàn chống cộng và bản thân của những người không thích Cộng Sản lẫn không còn tin ở Cộng Sản suy ngẫm .

    Xin được góp ý với ba ý kiến :

    1. Người Việt Hải ngoại nên dùng cờ Quốc gia sở tại đang sinh sống làm sức mạnh chính trong các cuộc biểu tình nhằm đòi hỏi dân chủ cho VN . Lý do với lá cờ của quốc gia sở tại mình đang sinh sống sẽ được chú trọng , ủng hộ mạnh mẽ , hợp tình hợp lý ( không có nghĩa là loại bỏ hoặc không chấp nhận sự tham gia của màu cờ khác .

    2. Người Việt trong nước có thể dùng ngay chính Cờ đỏ để Dân chủ hoá để diễn biến hoà bình theo tinh thần của kịch bản này .

    3. Nếu được . Có thể thay từ Chống Cộng bằng từ Dân chủ hoá và Diễn biến hoà bình cho VN . Vì nó dể xử dụng kích thích tinh thần dân chủ , tự do , nhân quyền cho người Việt trong nước . Đồng thời nó kết nối được thoải mái giữa trong và ngoài nước về đấu tranh dân chủ , rút ngắn được thời gian bị độc tài cai trị đàn áp do CS gây ra .

    Tại sao có 3 đề nghị trên . Xin trả lời đơn giản :

    CSVN hiện nay chỉ sợ các nước có nhiều người Việt sinh sống , mà lá cờ của từng quốc gia này là đại diện chân chính hợp pháp nhất , dể hiểu nhất , được thừa nhận và ủng hộ dễ dàng nhất .

    Cộng Sản VN hiện nay sợ nhất là thành phần Tự diễn biến hay Diễn biến hoà Bình , dầu xác định được là X , nhưng cũng đành bó tay . Lấy cái nhược điểm nhất của CS kèm thêm với Dân chủ hoá gọi chung ” Dân chủ hoá , Diễn biến hoà bình cho VN ” chính là liều thuốc đấu tranh hữu hiệu kết hợp quần chúng giải thể chính quyền CS hiện nay , không sợ bị lệch hướng .

    Đây chỉ là ý kiến đóng góp . Nếu không đồng ý có thể chê trách , xin đừng chụp mũ CS hay thân Cộng .

    • TT says:

      Một góp ý rất là chí lý.
      Cộng sản là một loại đại lưu manh, khi ở thế yếu thì xin ngồi vô bàn để đàm phán, khi ở thế mạnh chúng sẽ không nhượng bộ. Khi toan tính xâm lăng miền Nam Việt Nam bọn Tàu chệt cho bọn Việt Cộng lập ra cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ( MTGPMN ) dưới lá cờ không phải là cờ máu ( cờ đỏ sao vàng) mà là lá cờ cũng sao vàng ở giữa và có một nửa là màu xanh, nửa kia đỏ!, sau khi chiếm trọn miền Nam thì cái cờ của cái gọi là MTGPMN chúng đã bắt phải biến mất! Số người Việt chạy trốn Việt Cộng hiện nay khỏang 3 triệu người sống rải rác trên thế giới , chúng rất mong lá cờ vàng biến mất nên bọn lưu manh này dùng mọi thủ đoạn để hạ lá cờ vàng này, bọn chúng đã dùng cả hồng y Phạm Minh Mẫn để lên tiếng về vấn đề dẹp cờ vàng dùng trong đại hội giới trẻ công giaó năm 2008 tại Sydney Úc Châu!
      Vì khi bọn chúng đàn áp những người dân trong nuớc chống Tàu chệt xâm lăng, chống chính quyền địa phương cho bọn Tàu khựa thuê rừng, thuê đất hay các phong trào đòi nhân quyền, dân chủ, đòi tự do tôn gi áo hay dân oan đi khiếu kiện vì bị cướp đất khi bị chúng đàn áp thì người Việt hải ngoại đoàn kết dưới là cờ vàng để xuống đường , tuyệt thực ủng hộ dân bị đàn áp và phản đối bọn cầm quyền gian manh khiến cho ch í nh quy ền các nước sở tại thấy rõ cái bộ mặt bất nhân của chúng vì vậy chúng rất sợ!

Phản hồi