|

Người Tầu

 

Trước đây, trong bài viết về chuyến đi Hàn Quốc vào cuối tháng 9 năm 2011, tôi có nêu nhận xét về tính cách của người Hàn Quốc qua hiện tượng lặng lẽ xếp hàng cả tiếng đồng hồ trước giờ lên máy bay. Vừa rồi, trong chuyến bay từ Bangkok đến Bắc Kinh, tôi thấy một hiện tượng khác hẳn. Khi đến phòng đợi, tôi đã thấy rất đông người ngồi la liệt trên ghế hoặc dưới đất nói chuyện ồn ã hoặc ăn uống nhồm nhoàm. Hầu hết là người Trung Quốc. Nét nổi bật nhất là cường độ âm thanh trong giọng nói của họ. Hiếm khi tôi thấy cảnh nào ồn ào đến như vậy. Tôi muốn mở laptop ra để đọc hay viết một cái gì đó nhưng không có cách gì tập trung được.

Khi nhân viên báo tin đã đến giờ lên máy bay, tất cả mọi người đều đứng bật dậy và hối hả chạy ra giành chỗ vào cửa. Họ chen lấn nhau, xô đẩy nhau, thậm chí, la hét chửi bới nhau. Cuối cùng, mọi người cũng lên được máy bay. Trên máy bay lại diễn ra cảnh giành giật các chỗ để hành lý. Thường, máy bay nào cũng hạn chế số lượng và kích thước hành lý cầm tay. Thế nhưng không hiểu sao người ta lại có thể mang hành lý nhiều và cồng kềnh đến như vậy. Công việc cất hành lý đáng lẽ chỉ diễn ra trong vài phút, đằng này, nó kéo dài khá lâu, làm không khí trên máy bay nhốn nháo hẳn lên.

Khi đã ngồi vào ghế, người ta bắt đầu mở miệng hoặc để chuyện trò hoặc để cãi cọ. Như một cái chợ. Đến độ tôi hoàn toàn không nghe được lời chào hoặc thông báo gì đó của phi hành đoàn. Tuyệt đối không nghe. Mãi đến cả một, hai tiếng sau, có lẽ do thấm mệt, âm thanh trong máy bay mới bắt đầu giảm để đến lúc máy bay hạ cánh lại diễn ra cảnh giành nhau lấy hành lý. Lại cãi cọ. Lại ồn ào.

Trên máy bay, tôi mở laptop ra định viết bài cho blog. Đang viết, nhìn vào màn ảnh trên laptop, thấy thấp thoáng có mặt người. Tôi quay lại, bắt quả tang một anh Tàu ngồi hàng ghế sau đang nhoài đầu ra phía trước nhìn vào màn ảnh laptop của tôi. Anh bẽn lẽn ngả người ra sau. Tôi quay lại tiếp tục viết. Nhưng lại thấy khuôn mặt của anh phản chiếu trên màn ảnh. Tôi quay lại nhìn. Anh ta lại ngả người ra sau, ngó ra ngoài cửa, nhưng không còn lộ vẻ gì bẽn lẽn nữa. Cứ thế, mỗi lần tôi viết, anh ta lại nhoài người lên dòm. Tôi không nghĩ anh ta là công an. Làm công an, được huấn luyện để theo dõi người khác, không ai lại vụng về đến như vậy. Tôi chỉ nghĩ có lẽ anh ta là một người tò mò một cách thô bỉ vậy thôi. Nhưng không thể kiềm được sự khó chịu, tôi tắt laptop. Cả gần bốn giờ bay, do đó, chỉ ngồi thừ người nghĩ ngợi bâng quơ. Chả làm được gì cả.

Suốt 10 ngày ở Trung Quốc, ở đâu tôi cũng gặp hai nét tính cách ấy: chen lấn và sẵn sang xâm phạm vào sự riêng tư của người khác. Có thể nói ở Trung Quốc, ở chỗ nào có đông người chỗ ấy có chen lấn. Mà hình như ở Trung Quốc không nơi nào không đông người nên cảnh chen lấn dường như xuất hiện ở khắp nơi. Ngay ở các địa điểm du lịch, nơi đáng lẽ người ta cần sự thảnh thơi thoải mái và nhàn nhã, người Trung Quốc cũng chen lấn nhau. Đi dọc theo bờ Hồ Tây ở Hàng Châu, bên cạnh cảnh sông nước và cây cối tuyệt đẹp và đầy thơ mộng, mỗi vật đều gợi nhớ đến lịch sử và văn chương vốn được mọi người ngưỡng mộ cả hàng ngàn năm, họ cũng chen lấn. Ở khu phố cổ ở Thượng Hải (Miếu Thành Hoàng), nơi đáng lẽ cần sự yên tĩnh để ngắm nghía phong cách kiến trúc độc đáo truyền thống, người ta cũng chen lấn xô đẩy nhau kịch liệt. Tôi quan sát, thấy, khi đi bộ, người ta thường không bao giờ chú ý đến người khác. Họ cứ đi thẳng. Ai nhường đường, mặc, họ không một lời cám ơn. Không nhường đường thì bị họ dùng vai đẩy dạt ra. Dĩ nhiên cũng không một lời xin lỗi. Trên chiếc thuyền chở du khách chạy dọc sông Hoàng Phố (黄浦江) ở Thượng Hải, nhóm chúng tôi an phận ngồi trên một dãy ghế ở tầng hầm, nơi tầm nhìn bị hạn chế rất nhiều. Nhưng cũng không yên. Một lúc nào đó, hình như ở tầng trên quá lạnh, nhiều người lại ào ào chạy xuống tầng hầm và giành ghế của người khác. Chỉ cần đứng dậy là có người chĩa đít vào giành ngay ghế của mình. Bạn nói đó là ghế bạn đang ngồi ư? Họ mặc kệ, ngó đi chỗ khác và tiếp tục ngồi. Nhóm chúng tôi gồm 10 người bị cướp mất năm hay sáu ghế. Cuối cùng, mọi người đành đứng.

Ở Trung Quốc, sự riêng tư không bao giờ là một giá trị. Về chính trị, nhà cầm quyền trố mắt theo dõi mọi người ở mọi nơi và mọi lúc. Trong xã hội, ở đâu người ta cũng lom lom dòm vào người khác. Bạn đứng chụp hình ư? Rất có khả năng một người nào đó dí mắt nhìn vào màn ảnh của bạn. Không phải bạn chụp hình ở nơi nào trọng yếu hay có ý nghĩa quân sự gì đâu. Ngay cả khi bạn đứng trên chiếc du thuyền chạy dọc theo bờ sông và chỉ chụp cảnh phố xá hai bên, người ta cũng nhìn. Có lẽ chỉ vì tò mò thôi.

Đến Bắc Kinh, tôi tham gia vào một tour du lịch khá đông, khoảng 60 người. Hầu hết là người Hoa sinh sống ở nước ngoài, nhiều nhất là ở Mỹ, Canada và Úc. Có người đi từ Trung Quốc, từ Hong Kong và cũng có một số người đi từ Việt Nam, đặc biệt từ Móng Cái, vùng giáp biên giới Việt-Trung, trong những năm 1978-79. Điều đặc biệt nhất là tất cả, kể cả thanh niên sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, đều nói tiếng Quảng Đông rất giỏi. Suốt cuộc hành trình, nói chuyện với nhau, tất cả đều dùng tiếng Quảng Đông. Nhóm của tôi có mấy thanh niên khoảng 30 tuổi, sinh ở Móng Cái, đến Mỹ lúc mới 2 hay 3 tuổi, hoàn toàn quên tiếng Việt, nhưng lại nói tiếng Quảng Đông rất trôi chảy. Và có vẻ rất thích nói tiếng Quảng Đông với bạn bè trong nhóm. Dường như người ta có chút tự hào khi nói tiếng Tàu. Đó là điều tôi ít thấy trong cộng đồng người Việt. Trẻ em Việt Nam ở hải ngoại, ngay cả khi có thể nói tiếng Việt lưu loát, vẫn có khuynh hướng dùng tiếng Anh hơn tiếng Việt.

Tuy nhiên ngay cả người Hoa ở ngoại quốc về cũng bị kỳ thị. Khi đoàn du lịch đến ở khách sạn, hầu hết là khách sạn thật sang, thuộc loại 5 sao, tôi để ý thấy tất cả các tủ lạnh trong phòng đều bị khoá chặt. Hỏi, người ta đáp: Sợ bị ăn trộm. Buổi sáng, theo kế hoạch, đoàn thường lên đường vào lúc 7 giờ. Khách sạn đòi mọi người phải trả chìa khoá trễ nhất là lúc 6 giờ. Lý do: khách sạn cần khoảng một tiếng để kiểm tra phòng xem có bị mất trộm gì không. Nhiều người kể, ở khách sạn, hở cái gì là mất ngay cái ấy. Rượu bia để trong tủ lạnh: mất. Đồng hồ báo thức để trên đầu giường: mất. Có khi cả điện thoại cũng bị mất. Khách sạn đành áp dụng chiến thuật cẩn tắc vô áy náy: Khoá tủ lạnh và đuổi khách ra khỏi phòng một tiếng để kiểm tra trước khi để họ rời khỏi khách sạn.

Thú thực tôi không có số liệu về nạn trộm cắp ở Trung Quốc. Có điều, trong suốt chuyến du lịch, điều hướng dẫn viên dặn dò nhiều nhất, dặn đi dặn lại, là phải coi chừng bị mất trộm. Túi xách của phụ nữ phải đeo trước bụng, không được kè kè bên hông. Giấy tờ và ví tiền phải để chỗ kín đáo, không được để túi quần sau, rất dễ bị móc.

Trong các nhà vệ sinh công cộng, người ta không dám để giấy vì sợ trộm, đã đành. Trong hầu hết các nhà hàng, ngay cả những nhà hàng có vẻ rất sang trọng và nghe nói rất nổi tiếng, cũng không có khăn giấy trên bàn. Khi dọn thức ăn, người ta mới phát cho mỗi người một cái khăn giấy nhỏ xíu và mỏng lét. Có nơi còn đòi tiền: một miếng khăn giấy là một đồng nhân dân tệ.

Không phải tại khăn giấy khan hiếm. Chỉ tại người ta sợ ăn cắp: để ra bao nhiêu là mất bấy nhiêu.

Nói đến người Tàu, tự nhiên tôi sực nhớ một đồng nghiệp cũ. Chị có bằng tiến sĩ, dạy đại học, nghe nói dạy khá giỏi, nhưng tính nết thì rất quái gở: Lúc nào chị cũng nghi ngờ người khác. Chị thường xuyên khiếu nại hay than phiền là có ai đó lén vào phòng chị, lục lọi computer của chị. Có lần, tôi muốn vào phòng chị để bàn bạc một số công việc trong Khoa. Tôi gõ cửa. Có tiếng mở cửa lách tách, tôi biết là chị khoá bên trong. Tôi vừa bước vào, chưa kịp ngồi xuống ghế, đã thấy chị nhoài người ra ngoài, nhìn quanh, rồi khoá hẳn cửa lại. Tôi hơi giật mình. Thường, ở đại học, không ai khoá cửa kiểu như vậy. Ngay cả việc khép cửa cũng hoạ hoằn. Sau đó, tôi kể cho một số đồng nghiệp nghe. Mọi người cười ầm: Họ cũng từng có kinh nghiệm y như vậy. Và người ta cố tìm lời giải thích: có lẽ là do ảnh hưởng từ thời cách mạng văn hoá, lúc mọi người tìm cách hãm hại nhau. Và không ai tin ai cả.
Kể những điều trên, tôi không có hàm ý miệt thị người Tàu. Không. Tôi biết trong lịch sử có vô số người Tàu vĩ đại. Vĩ đại về trí tuệ. Vĩ đại về tài năng. Và vĩ đại về tính cách. Hiện nay, chắc chắn cũng có vô số người Tàu ưu tú và khả kính, tạo thành một tầng lớp tinh hoa không thua kém ở bất cứ đâu khác. Những nhận xét ở trên, thật ra, chỉ giới hạn trong tầng lớp những người bình thường mà ai cũg có thể gặp gỡ hang ngày. Ở mọi nơi.

Họ chỉ là đám bình dân. Có điều, bình dân bao giờ cũng đông đảo. Chính họ tạo nên diện mạo của một xã hội.

Để trở thành một siêu cường thực sự, điều Trung Quốc cần làm đầu tiên và cũng mất nhiều thời gian nhất chính là cải tạo cái khối bình dân đông đảo ấy. Có lẽ chính quyền Trung Quốc cũng ý thức được điều ấy. Ở đâu tôi cũng thấy bảng hiệu nhắc nhở người ta làm người văn minh và có văn hoá.

Nhưng nói là một chuyện. Làm được hay không lại là chuyện khác.

Cũng như ở Việt Nam vậy thôi.

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

 

8 Phản hồi cho “Người Tầu”

  1. Vũ duy Giang says:

    Tác giả của bàii viết còn quên”thói quen”nổi tiếng của Tầu Quen(TQ),là “khạc nhổ”từ thời lập quốc, khi bão cát từ sa mạc Gobi(Mông Cổ)bay qua cả”Vạn Lý trường thành(China Wall) vào TQ(mà ngay bây giờ bầu trời Beijing cũng có khi bị phủ tối),khiến dân Tầu phải khảc nhổ cát ra khỏi cổ họng.

    Họ giữ”tập tục”này,và mang ra cả nước ngoài(cũng vì vậy mà Singapore phải phạt người khạc nhổ ngoài đường).Khi TT.Nixon sang thăm Mao,thì TV cho thấy ống nhổ được bầy ở”đại sảnh”tiếp khách ở Cấm Thành Beijing.Có vẻ thời Đặng Tiểu Bình mới dẹp những ống nhổ này đi!?

    Gần đây du khách đi cruise từ Shanghai thăm 1 đảo Nam Hàn,và 1 đảo Nhật,kể rằng du khách TQ(loại có tiền)cũng vẫn khạc nhổ trên tầu,ăn nói to,và thô lỗ!Đúng là dân TQ có tiền”làm trưởng giả”, nhưng khó “học làm sang”trong 1,hay 2 thế hệ, và nếu chỉ học ở ngay trên đất nước TQ!?

  2. BaWa says:

    NgườiTầu, ngườiViệt, ngườita
    Người gì thì cũng một cái túi da để đựng đồ!
    Đựng gì? Cơm, cá, khoai, ngô,..
    Cũng tức là phân thúi, chờ… mang vô nhà mồ!!!

    Hô hô hô…

  3. Tuấn Anh says:

    Có gì lạ đâu. Cộng Sản là loài khỉ vượn mà. Hơn nửa thế kỷ lãnh đạo Trung Quốc đại lục, Đảng CSTQ đã đào tạo những thế hệ người dân TQ trở thành loài khỉ vượn giống như họ.

    Thảo nào dân Hồng Kông (dù đã sát nhập lại với Trung Hoa đại lục) cũng không chịu nổi bản năng hoang dã của dân TQ (sống dưới chế độ CS).

  4. Mike says:

    Chệt = Ăn ở dơ dáy, ăn nói ồn ào chốn công cộng, chuyên môn làm hàng giả hàng dỏm không cần biết tác hại (sữa trẻ con pha độc chất), hay ăn cắp bản quyền (in sách lậu, sang băng đĩa lậu,…), tư tưởng bành trướng (tưởng ai cũng dễ ăn hiếp như CS bắc Việt),…Còn nhiều thứ khác nữa. Ông Quốc chỉ mới nói nhẹ nhàng vài cái thôi. Bọn bắc cộng tiêm nhiểm khá đậm, nay đã trải đều lên khắp đất Việt. Sau này phải mất 20,30 năm mới có thể tẩy rửa được.

  5. Tu Le says:

    Nguyễn Hưng Quốc cho một cái nhìn rất rõ về người : “lạ” mà quá đổi quen thuộc , ở ngay nước “lạ”, nơi sản xuất 16 chữ vàng rất “lạ” các bạn à !

  6. NGÀN KHƠI says:

    NGƯỜI TRUNG QUỐC VÀ NGƯỜI VIỆT NAM

    Người Việt Nam và người Trung quốc có nhiều điểm giống nhau mà cũng có nhiều điểm khác nhau. Điểm giống nổi nổi bật nhất là tính cách châu Á và tính cách Đông Nam Á. Truyền thống Trung Quốc nói cho cùng là truyền thống Khổng mạnh và tính chất của người Việt cơ bản cũng như thế. Nhưng khác nhau cơ bản nhất là tính Hán tộc của người TQ và tính Việt tộc của người dân Việt. Tính Hán tộc là tính vừa bành trướng vừa co cụm như thế nào thì mọi người đều biết rồi. Tính Việt tộc là tính linh hoạt, tính chịu đựng, nhưng cũng là tính tự trọng và quật khởi nói chung thì ai cũng rõ. Chính tính Việt tộc như vậy của người Việt ở phương Nam hoàn toàn khác với tính Hán tộc ở phương Bắc, nên sự xung khắc hay sự khác biệt cơ bản đó làm Trung Quốc không thể nào thôn tính hay đồng hóa được Việt Nam trong nhiều ngàn năm lịch sử. Trong thời hiện đại, ít nhất cũng là gần cuối thế kỷ trước, tức là sau năm 1975, Việt Nam và Trung Quốc cùng giống nhau ở thể chế xã hội mác xít hay xã hội cộng sản. Mọi sản phẩm của chủ nghĩa Mác trên toàn thế giới từ trước cho đến nay đều giống hệt ở mọi nơi, điều đó không có gì để phải tranh luận, ngạc nhiên hay bàn cãi. Song đó thật sự chỉ là hiện tượng. Không thể căn cứ vào đó để cho rằng ngày nay người Việt Nam và người Trung Quốc đều hoàn toàn giống nhau chỉ vì thể chế chính trị xã hội hay kinh tế giống nhau. Chính sự khác nhau cơ bản về dân tộc tính như nói trên vẫn làm cho mọi điều giống nhau ở bên ngoài đều thật sự cũng không thể giống nhau ở bên trong được. Cái tự nhiên và cái không tự nhiên tất nhiên không bao giờ có thể đồng nhất hay phủ chụp lên nhau. Thế nên mọi hiện tượng giống nhau về cung cách xã hội bên ngoài trong hiện tại như bài báo
    “Người Tàu” mà tác giả Nguyễn Hưng Quốc nói đến giữa người Việt và người Trung Quốc hiện nay về tính lộn xộn, bình dân, tầm thường trong một số khía cạnh nào đó chính là do kết quả văn hóa nhất thời mà không thuộc bản chất truyền thống. Đó chính là hiện tượng ít học, hơi kém văn hóa của đa số tầng lớp bình dân nói chung, do hoàn cảnh kinh tế nhất thời mà không do ý nghĩa dân tộc tính sâu xa nào cả. Cho nên so với tính trật tự, tính biết tôn trọng người khác nói chung của người châu Âu, người Nhật Bản hay người Hàn Quốc hiện nay, tính cách bình dân yếu kém hiện tại của phần lớn người Trung Quốc và người Việt Nam hiện tại phản ảnh khá thường xuyên và đầy đủ về điều đó. Chính sự nghèo nàn về kinh tế dẫn đến sự nghèo nàn về văn hóa, sự nghèo nàn về văn hóa dẫn đến sự nghèo nàn về ý thức xã hội và cung cách xã hội không giống như những dân tộc sung túc, phong phú khác, đó quả thật là điều tự nhiên và rất đáng tiếc. Nhưng đáng tiếc nhất chính là các thế hệ đi trước, các thế hệ lãnh đạo đất nước của cả hai đã không hoàn thành hay thể hiện tốt được chân giá trị cầm đầu về kinh tế, văn hóa, giáo dục xã hội của họ. Bởi vì nhân dân thực chất nói chung chỉ là sản phẩm còn chính người cầm quyền mới là tác nhân chính thức hay quyết định mọi chất lượng của sản phẩm làm ra đó. Điều đó cũng chẳng khác những sản phẩm mộc được làm ra của người thợ mộc, sản phầm kim khí được làm ra bởi người thợ kim khí, sản phâm vải được làm ra bởi người thợ dệt vải v.v… Cứ nhìn vào sản phẩm thì đánh giá được các tác nhân làm ra nó. Đây không phải chỉ là sản phẩm nhất thời chốc lát nào mà là sản phẩm dài ngày thì mọi tác nhân hay tác giả của nó không thể chạy trốn ở đâu được. Không ai có thể tự vẽ bùa để đeo. Cho nên cái thận trọng nhất hay cái sáng suốt nhất kể cả cũng là tài năng của người cầm quyền, là khi mới chân ướt chân ráo lên cầm quyền cần phải nghĩ ngay đến mọi thành quả dấu ấn xã hội văn hóa của mình sau này. Nên thay vì chứng tỏ được hiệu quả lại không chứng tỏ được điều đó hoặc chỉ chứng minh được điều ngược lại, thì hỡi ơi, chính những tác già, những tác nhân đó hoàn toàn hết mọi cơ hội lịch sử để tự biện minh gì cho họ được cả. Đó là điều mà không những trong hiện tại như cả trong tương lai dài về sau chính lịch sử nói chung sẽ luôn luôn đánh giá, kết luận hjay phán xét.

    ĐẠI NGÀN
    (27/02/12)

  7. new chin houa says:

    ông Quốc còn không biết rằng người Tàu làm đến Đại sứ ở LHQ còn đi bắt trộm sò cơ đấy

  8. xoathantuong says:

    “Có lần, tôi muốn vào phòng chị để bàn bạc một số công việc trong Khoa. Tôi gõ cửa. Có tiếng mở cửa lách tách, tôi biết là chị khoá bên trong. Tôi vừa bước vào, chưa kịp ngồi xuống ghế, đã thấy chị nhoài người ra ngoài, nhìn quanh, rồi khoá hẳn cửa lại. Tôi hơi giật mình. Thường, ở đại học, không ai khoá cửa kiểu như vậy. Ngay cả việc khép cửa cũng hoạ hoằn.” (NHQ)

    Tôi đoán cô người Tàu này mới được ra ngoại quốc làm việc nên còn sợ. Chắc là trước khi ra đi cũng đã được cán bộ đảng khuyên nhủ, răn đe điều gì đó nên sợ: Người của đảng ở khắp mọi nơi, không thể che dấu những việc làm làm hại đến “tổ quốc”,… Thế cho nên cô ta phải “cẩn tắc vô áy náy”. Còn ông Quốc sống ở ngoại quốc, chắc là đã có quốc tịch rồi, nên chả sợ thằng Tây con Đầm nào; Vì đó là lẽ thường của mọi công dân sống ở những nước tự do và dân chủ.

    Tôi bật cười khi ông Quốc nói là cô ta khóa hẳn cửa lại. Tôi nghĩ tới cảnh chắc cô ta định hiếp dâm ông Quốc. Hi hi!

Phản hồi