|

Từ màn sắt tới tường lửa

 

Khi gõ hàng chữ “Kim Chính Nht Chết, Kim Chính Ân Ni Ngôi” để đặt tựa cho bản tin trên báo Ph Nh ngày 23/12/2011, tôi chợt nhớ đến một bài viết cũ, và từ bài viết ấy, không khỏi liên tưởng đến những biến chuyển dồn dập hơn hai thập niên vừa qua.

Năm 1994, lúc viết chương sách về Bắc Hàn trong cuốn “Nhng Đim Nóng Trên Thế Gii Sau Chiến Tranh Lnh” (đăng từng kỳ trên tạp chí Làng Văn trước khi xuất bản), tôi đã mất khá nhiều thời giờ vì những nhân danh và địa danh tiếng Đại Hàn. Các độc giả của báo chí Việt ngữ ngày hôm nay, mà đa số có thể là đọc “báo mạng” nhiều hơn “báo giấy”, chắc khó hình dung được sự vất vả của một người viết báo tiếng Việt khi phải lược thuật cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 để phân tích về tham vọng nguyên tử của Bắc Hàn mà lại nhất quyết muốn phiên âm Hán-Việt tất cả những gì có thể phiên âm, thay vì sao y bản chánh lối phiên âm Anh ngữ. Xin nhắc lại, hồi đó Internet chỉ mới bắt đầu tỏa rộng qua vùng Á Châu và Google còn chưa ra đời. Nếu không nhờ sự giúp đỡ của một anh bạn ký giả người Nam Hàn làm cho tờ Korean Times (Hàn Quốc Thời Báo) ở Washington D.C., chắc chắn cuốn sách của tôi không thể có những ghi chú về địa danh như Pusan (Phủ Sơn), Taegu (Đại Khâu), Yalu (sông Áp Lục), Imjin (sông Lâm Tân), Panmunjom (Bàn Môn Điếm)… Ngay cả những nhân danh cũng chẳng dễ dàng gì hơn, ngoại trừ vài tên tuổi quen thuộc như Chou En-lai (Chu Ân Lai), Park Chung-hee (Phác Chánh Hy), Kim Il-sung (Kim Nhật Thành), Rhee Seung-man (Lý Thừa Vãn)…

Mặc dù ngày 8 tháng 7 năm ấy (1994) Kim Nhật Thành mới chết vì cơn đau tim, nhưng giới theo dõi thời cuộc đều để ý đến việc nhà lãnh tụ cộng sản khát máu đã chuẩn bị “nhường ngôi” cho cậu thứ nam Kim Jong-il từ hơn hai năm trước đó. Báo chí thế giới loáng thoáng nhắc đến tin đồn nói rằng cậu con thứ này có dính líu đến vụ chết đuối của cậu con cả Kim Pyong-il, để rồi trở thành kẻ độc nhất kế vị ngai vàng Bắc Triều Tiên. Hư thực ra sao chưa rõ, chỉ biết là việc nhường ngôi đã diễn ra êm đẹp và kẻ nối ngôi tiếp tục con đường của ông bố, dìm đất nước đến mức tận cùng đói khổ trong khi không ngừng đe dọa an ninh và hòa bình thế giới.

Tôi xin phép mở dấu ngoặc ở đây để ghi lại lời cám ơn anh bạn ký giả Nam Hàn đã giúp tôi phiên âm Kim Jong-il thành Kim Chính Nhật, một cái tên mà tôi sẽ còn gặp khá nhiều lần suốt mười mấy năm trời mỗi khi làm tin về Bắc Hàn. Ngày 17 tháng 12 năm nay, một lần nữa tôi nhớ đến anh, khi đi tìm chữ Hán-Việt để phiên âm tên cậu con trai thứ ba của dòng họ cầm quyền: Kim Jong-un – Kim Chính Ân – kẻ gần như chắc chắn sẽ lại tiếp tục nối ngôi làm lãnh tụ theo truyền thống của một đất nước thiếu may mắn. [Ghi chú: Google Translate dịch lầm là "Kim Chính Vân" nhưng sau đó đã đính chính theo ký tự Đại Hàn trên các trang mạng].

Một đất nước thiếu may mắn. Vâng, thật khó có thể nghĩ khác hơn, nhất là sau khi chúng ta vừa coi hình ảnh những người dân Bắc Hàn vật vã khóc thương “lãnh tụ kính yêu” qua đời vì lên cơn đau tim trên đường công tác (?), thì chỉ vài hôm sau – ngay trước lễ Giáng Sinh – lại thấy hình ảnh những người dân ấy “vui mừng đến phát khóc” trước… một chậu cá. Bản tin Đài Phát thanh Quc tế Pháp (RFI) viết: “Tại thủ đô Bình Nhưỡng, chính quyền hôm nay 24/12/2011 đã quyết định phân phối cá cho dân chúng. Đây là một món ăn từ bao lâu nay có thể nói là xa xỉ đối với cuộc sống thiếu thốn của người dân Bắc Triều Tiên. TờRodong Sinmun [tức Lao Đng Tân Văn, tờ báo của nhà nước cộng sản Bắc Hàn] đã cho đăng tấm ảnh chụp một gia đình vui mừng đến phát khóc trước chậu cá chuẩn bị phân phát và cho biết việc làm này là thể theo yêu cầu của chủ tịch Kim Jong-il trước khi chết”.

Phải là những người dân của một đất nước mà mới hơn 10 năm trước đây đã từng có ít nhất hai triệu người chết đói thì mới có thể vui mừng đến phát khóc chỉ vì sắp được ăn cá. Vì thế, song song với bản tin trên, ký giả Thụy My Đài RFI đã viết hẳn một bài trên trang blog của cô để nói rõ hơn về thành tích nuôi dân của lãnh tụ họ Kim đời thứ nhì, kẻ mà báo chí Tây phương cho biết “rất mê rượu vang, lúc nào trong hầm rượu cũng chứa cỡ 10,000 chai”, đồng thời “có nguyên một bộ sưu tập cá nhân xe hơi Mercedes trị giá khoảng 20 triệu Mỹ kim”, và “đã từng hào phóng bỏ ra ít nhất 160 chiếc Mercedes làm quà tặng cho các cán bộ cao cấp”.

Xin trích vài đoạn từ bài viết “Kim Jong-il: Hai triu người chết đói và mt phút mc nim ti Liên Hip Quc” trên blog Thụy My:

“…Có bao nhiêu người dân Bc Triu Tiên đã chết đói trong thi kỳ t 1994 đến 1998? Con s chính thc ch là 220,000, nhưng theo nhiu t chc phi chính ph thì lên đến trên ba triu người. Nhiu người chn con s khiêm tn hơn là hai triu. Nn đói không ch do mt lot thiên tai như lt li, hn hán, nhưng ch yếu là do b đt ngun vin tr khi Liên Xô b sp đ, và Bc Kinh bình thường hóa quan h vi Seoul [Nam Hàn]. Đt đai b thâm canh quá l cn nhiu phân bón, thuc tr sâu, trong khi ngun hàng này cũng như ngun du la được hai nước anh em bán vi giá hu ngh không còn na.

Vào năm 2005, Chương trình Lương thc Thế gii (PAM) ước lượng phân na dân s Bc Triu Tiên đói ăn, và hơn mt phn ba dân s b suy dinh dưỡng, gn 40% s tr em chm ln. T năm 1993 đến 2008, t l bà m và tr sơ sinh t vong tăng vt lên 30%.

Liên Hip Quc đã c gng kêu gi vin tr lương thc cho Bình Nhưỡng, nhưng ch tìm kiếm được có 20% trong s 218 triu đô la cn huy đng mà thôi. Các nước lo ngi thc phm vin tr rơi vào tay các viên chc tham nhũng, dành đ nuôi quân đi, hoc tích tr cho dp mng 100 năm ngày sinh ca c lãnh t Kim Il-sung (cha ca Kim Jong-il) vào năm 2012 sp ti“.

Chắc chắn những dữ liệu trên đây đã đưa tới phản ứng của hầu hết các quốc gia trên thế giới trước cái chết của Kim Chính Nhật. Dù cho hình ảnh những người dân Bắc Hàn vật vã khóc thương “lãnh tụ kính yêu” có được rầm rộ tung lên mạng đến mấy đi nữa cũng chỉ nói lên một hiện tượng tuyên truyền nhồi sọ, chẳng thể nào đánh lừa được dư luận. Bài viết trên blog Thụy My cho biết tiếp:

“…Cũng xin nói thêm, trước đó vào ngày 19/12, như thường l hàng năm, Đi hi đng Liên Hip Quc đã thông qua ngh quyết lên án tình hình nhân quyn ti Bc Triu Tiên, ch vài gi sau khi tin tc v cái chết ca ông Kim Jong-il được công b. Có đến 123/193 phiếu thun, 51 vng mt, và ch có 16 phiếu chng – trong đó có lá phiếu ca Trung Quc.

Ti 22/12 Đi hi đng Liên Hip Quc dành mt phút mc nim cho c lãnh t Bc Triu Tiên, qua đi hôm th By 17/12 tui 69. Ông Nassir Abdulaziz Al Nasser, Ch tch Đi hi đng cho biết đó là do yêu cu ca phái b Bc Triu Tiên ti Liên Hip Quc và ông đã chp nhn, nói rng đây ch là vn đ nghi thc. Vào lúc 15 gi (gi đa phương New York, tc 20 gi GMT ngày 22/12 hay 3 gi sáng ngày 23/12 nếu tính theo gi Vit Nam) ông Nasser tuyên b: “Nhim v đáng bun ca tôi là tưởng nim ông Kim Jong-il”, sau đó k ra nhng chc v ca c lãnh t Bc Triu Tiên, ri yêu cu các đi biu đng dy mc nim.

Hoa Kỳ, Nht Bn, Anh, Pháp, Đc, nói chung là tt c các nước Liên hip châu Âu đã ty chay phút mc nim. Các nhà ngoi giao ca nhng nước này nói rõ, Hi đng Bo an đã t chi phút th tc trên, và h cho rng đây là mt hành đng không phù hp, đi vi mt nhân vt đã gây ra cái chết cho hàng triu đng bào mình. Theo ghi nhn ca AFP, có chưa đến mt phn ba trong s 193 quc gia thành viên tham d. Mt nhà ngoi giao châu Á th l, phút mc nim này là giây phút khó chu nht mà h phi chu đng. Mi người đến ký vào s phân ưu ca phái b Bc Triu Tiên đu b quay phim, do đó mt s nhà ngoi giao và nhà báo đã t chi ký đ tránh vic hình nh ca h sau đó b li dng đ tuyên truyn“.

Trong khi những tin tức và hình ảnh được truyền thông quốc tế ghi lại và phổ biến rõ ràng như thế, hãy thử tưởng tượng người dân Việt Nam nghĩ gì khi đọc trên báo “lề phải” những lời phát biểu của đại tướng bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh:”Vô cùng thương tiếc đng chí Kim Jong-il, Tng bí thư Đng Lao đng Triu Tiên, Ch tch Hi đng Quc phòng CHDCND Triu Tiên, Tng tư lnh ti cao Quân đi nhân dân Triu Tiên, v Lãnh t kit xut ca Đng, Nhà nước, nhân dân và Quân đi nhân dân Triu Tiên; người bn, người đng chí thân thiết ca Đng, Nhà nước, nhân dân và Quân đi nhân dân Vit Nam. Đng chí Kim Jong-il không còn na, nhưng tên tui và s nghip ca đng chí sng mãi trong trái tim ca nhân dân và Quân đi nhân dân Vit Nam. Chúng tôi tin tưởng rng, nhân dân và Quân đi nhân dân Triu Tiên anh em s vượt qua đau thương và tn tht to ln này, đoàn kết mt lòng, tiếp tc n lc xây dng, phát trin, bo v đt nước Triu Tiên hòa bình, thnh vượng“.

Một trong những phản ứng của người dân Việt, ngay tức khắc, đã xuất hiện trên trang blog “lề trái” Dân Làm Báo, qua bài viết của Vũ Đông Hà;

Vy sao!? Trái tim ca nhân dân Vit Nam, ca 90 triu người đang ngp ln, đang xì hơi đến vã người vì giá xăng, giá du, giá tht, giá cá đng trn nhà, còn có ch đ mt lão già phi gió nào chui vào trong đó sng mãi sao!? B ông tưởng cái đt nước khn kh này, khn kh đến mc con người gn như vô cm, còn ch đ cho mt tên cng sn đi ông, đi cha, đi con chà đu đp c người dân Bc Hàn, mt tên bm rượu, ch biết khoái xe Mercedes S600 Pullman Guard 1,4 triu đô la mt chiếc, sng xa hoa trong khi 2 triu người dân b chết đói… vào sng mãi trong tim chăng!? Và nó đã làm gì cho dân tc Vit Nam?

Ông đi tướng quăng súng cm khăn thương vay khóc mướn thì đó cũng là “nhân quyn” ca ông đi tướng. Nhưng phi nói tht, dù l mãng khi nói điu này vi mt người mang lon đi tướng, đng đu cái gi là quân đi nhân dân: Vic mo nhn tình cm ca 90 triu người dân Vit Nam v mt tên đc tài, khát máu, đ t mc đ “sng mãi trong trái tim” là mt vic làm lếu láo, trch thượng, khn nn và mt dy“.

Từ những giọt nước mắt của người dân Bắc Hàn khốn khổ, rồi những giòng chữ phẫn nộ của người dân Việt Nam, có thể thấy được điều gì? Xin trở lại với chủ đề bài viết “Từ Màn Sắt Đến Tường Lửa”.

oOo

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng biểu tượng “bức màn sắt” chắc chắn vẫn hiện hữu một cách sống động trong ký ức người dân Âu Châu và Bắc Mỹ. Còn đối với người dân Việt Nam, nhất là thế hệ ra đời sau Đệ nhị Thế chiến, “bức màn sắt” chỉ là một ý niệm qua báo chí và sách giáo khoa, vì tuổi thiếu niên cũng như tuổi trưởng thành của thế hệ Việt Nam 1945-1954 đã gắn liền với chiến tranh, với khói lửa, bom đạn, chết chóc, chia lìa…, tóm lại là chiến tranh hiểu theo nghĩa cụ thể và tàn bạo nhất, chứ không trừu tượng như ý niệm “chiến tranh lạnh”. Sách báo ghi rằng Thủ tướng Anh Winston Churchill là người sử dụng từ ngữ “iron curtain” lần đầu tiên năm 1946 để nói về phần lục địa Âu Châu đã rơi vào vòng ảnh hưởng của Liên bang Xô viết. Phần lục địa ấy bao gồm 8 thủ đô vùng Đông Âu (Warsaw, Berlin, Prague, Budapest, Vienna, Belgrade, Bucharest, Sofia), điều ấy có nghĩa là người dân Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Áo, Nam Tư, Romania, Bulgaria phải cam chịu sống dưới chế độ độc tài đảng trị và bị tước đoạt mọi quyền tự do cá nhân, v.v…

Tôi đã cố gắng ghi nhớ bài học giáo khoa trên đây, và suốt bao nhiêu năm trời “bức màn sắt” đối với tôi vẫn là một ý niệm trừu tượng, mơ hồ. Mãi cho đến 1987 – hai năm trước khi bức tường Bá Linh sụp đổ và chiến tranh lạnh kết thúc – tôi mới có cơ hội đến tận nơi, nhìn tận mắt, để cảm nhận được phần nào cảnh đời của những con người sống phía sau “bức màn sắt”.

Tôi sẽ không viết dông dài về kinh nghiệm ấy, mặc dù đã hơn hai chục năm qua vẫn chưa quên được cảm giác khó tả của mình, khi đứng nhìn “bức tường ô nhục” ngăn đôi thành phố Bá Linh, khi đi tới gần trạm biên giới nổi tiếng “Checkpoint Charlie”, và nhất là khi đối mặt với những tên công an ở một đồn canh giữa vùng kiểm soát của cộng sản Đông Đức. Đó là một buổi tối cuối “tháng Tư đen”, trong chuyến đi Âu Châu của 8 anh em Phong Trào Hưng Ca Việt Nam từ Bắc Mỹ qua sinh hoạt với đồng bào cư ngụ ở Pháp, Bỉ, Hòa Lan, Tây Đức, Na Uy vào dịp Quốc hận 1987. Kinh nghiệm về đoạn đường băng ngang vùng cộng sản đã được một trong 8 anh em Hưng Ca ghi lại qua bài viết “24 gi nght th Tây Bá Linh“. Xin trích vài đoạn từ cuốn “” của nhạc sĩ / nhà báo Nguyễn Hữu Nghĩa:

Sáu gi ti 28/4/1987, toán công tác ca Hưng Ca ri hi cng Hamburg, hướng v phía Bá Linh lên đường.

Bá Linh nm sâu trong ni đa cng sn Đông Đc như mt cái túi, cách Tây Đc khong 300 cây s. Thành ph chia ra hai phn, phn rng hơn do phe Đng minh (M, Anh, Pháp và Tây Đc) bo v, phn hp do Hng quân Nga kim soát. Có ba ng t Tây Đc vào Tây Bá Linh. Đng minh phi tr mt giá rt đt mi năm đ Nga và Đông Đc cho s dng ba thông l y. Tin “mãi l” ch mua được phn đường có tráng nha mà thôi. Xe c phe ta lưu thông không được phép dng li trên đường. Mun ngh, phi vào ch ngh trong vòng rào “bo v” ca lính Đông Đc, có trm xăng va xu va đt; có cu tiêu công cng phi tr tin, đi tin cao giá hơn tiu tin; có trm quc doanh bán hàng k nim, tiếp khách hàng vi v nghi k, th ơ

“…Chiếc Renault sáu máy ba băng ghế chín ch ngi, è ch đưa đoàn công tác tiến vào trm kim soát vòng đai. T xa, trông b dng đng đng sát khí y ht như nhng đn bót biên phòng thi chiến, du khách yếu bóng vía không khi cht d, ch mun tháo lui, tìm li khác vui hơn. Tám anh em Hưng Ca không phi là du khách, ti Tây Bá Linh có mc tiêu công tác hn hoi, vi gn ba ngàn đng bào khát khao ch đi, dú ngang qua đa ngc cũng phi đi, hung h my chú cng sn hm hè da nt này. Nghĩ thì nghĩ vy, mà lo thì c lo. Bo lc ch nào cũng có… Trên mt trn văn hóa và chính tr này, đi phương chc chn không nhá ni cái màn anh em ta vác đàn đi khp các cng đng trên thế gii, hát gây qu vt thuyn nhân, hát chng kinh tài, hát ty chay du lch… Có khó gì đâu, Vit Cng ti Âu Châu ch cn nhc đin thoi lên yêu cu các “đng chí” gi ca i Đông Đc chn đoàn công tác li. Không cn phi ám hi lôi thôi, ch cn giam li đn trong 24 gi, hoc làm khó không cho qua, là đêm sinh hot hôm sau s phi hy b

“…Trm th nht đã qua (…) Trm th hai (…) Ti trm th ba. Gã công an biên phòng Đông Đc đim qua mt vòng, xem xét m giy thông hành, hi c giy thuê xe, th ch quyn xe, ri vy Đ.T.P. và N.T. vào trm. C bn nhìn nhau d ý. Không có cách nào khác hơn, hai người bn gy gò nht bn u oi xung xe, theo vào trong đn. Mt gã công an khác lùa c bn đu xe vào mt góc khut, chung quanh có các chướng ngi vt chn bn góc. Hng súng đi liên np sau các l châu mai trong lô-ct bê-tông ct st vn chong thng vào chiếc Renault ch sáu người còn li. Các xe cùng xếp hàng phía sau lom lom nhìn đoàn công tác vi v băn khoăn lo s. Các xe được phép cho đi cũng còn ném li mt tia mt dò hi, phng đoán...”

Câu chuyện khá dài, chỉ xin nói tóm tắt là nhóm anh em Hưng Ca khởi hành từ 6 giờ chiều, lần lượt đi qua 4 trạm kiểm soát của Đông Bá Linh, đoạn đường chỉ có 300 cây số (186 miles) vậy mà mãi 1 giờ khuya mới đến được vùng đất Tây Bá Linh. Một trong những nguyên nhân chậm trễ là vì hai thành viên trong nhóm chưa nhập quốc tịch Mỹ, chỉ mang theo travel documents mà không có passports, bị công an Đông Đức giữ lại, đưa vào trạm, bắt chụp ảnh, khai lý lịch, tra vấn suốt hơn hai tiếng đồng hồ rồi mới chịu cấp một tờ “visa entry” đánh máy ký tên nguệch ngoạc…

Ai cũng hiểu, lý do duy nhất khiến cộng sản Đông Đức phải lập tới 4 trạm kiểm soát cho một đoạn đường ngắn, và phải khám xét, nhận diện, hạch hỏi một cách khắt khe đến như vậy, chỉ là để ngăn chận những người dân từ “thiên đường” Đông Bá Linh trốn sang Tây Bá Linh. Dù vậy, các tài liệu khả tín cho biết, tính từ ngày bức tường Bá Linh được dựng lên (13 tháng 8 năm 1961) cho đến ngày bức tường sụp đổ (9 tháng 11 năm 1989) đã có không dưới 5000 người tìm đủ mọi cách để trốn qua vùng đất tự do, và ít nhất 200 người kẻ cả phụ nữ trẻ em đã bị lính biên phòng Đông Đức bắn chết trong lúc đào thoát bằng ngả “Berlin Wall”. Những con số ấy nói lên rất nhiều. Có lẽ chỉ thua những con số liên quan tới làn sóng thuyền nhân Việt Nam: theo ước tính của Rudolph Rummel (giáo sư chính trị học tại Đại học Hawaii), gần nửa triệu trong số 2 triệu thuyền nhân đã bỏ xác ngoài biển khơi trên đường đi tìm tự do.

Với sự tan rã của Liên bang Xô viết và sự sụp đổ của một loạt các chế độ cộng sản Đông Âu, kể từ đầu thập niên 90 “bức màn sắt” đã lui vào quá khứ; đài tưởng niệm các nạn nhân bức tường Bá Linh hay các “đài tưởng niệm bức màn sắt” ở Cộng hòa Tiệp và ở Hung Gia Lợi nay trở thành những chứng tích lịch sử cho một giai đoạn đen tối của Âu Châu và cả thế giới. Quả thật cuộc chiến tranh lạnh là một giai đoạn đen tối đã qua đi. Tiếc thay, bình minh vẫn chưa thực sự trở về với nhân loại.

oOo

Ngày 9 tháng 11 năm 2009, một buổi lễ trọng thể được tổ chức tại Brandenburg Gate để kỷ niệm 20 năm ngày bức tường Bá Linh sụp đổ. Cùng ngày đó, một trang mạng được thiết lập với danh xưng “Berlin Twitter Wall” để cho bất cứ ai sử dụng Twitter trên toàn thế giới cũng có thể gửi lời nhắn lên đó. Ngay tức khắc, cả ngàn người dân Hoa Lục gửi lên trang mạng những giòng chữ mượn cớ chúc mừng thành phố Bá Linh để phản đối cái mà họ gọi là “the Great Firewall of China”. Ngày hôm sau, nhà cầm quyền Trung Cộng ra lệnh chận đứng trang mạng “Berlin Twitter Wall” không cho dân chúng truy cập nữa.

“The Great Firewall of China” (“Phòng hỏa trường thành” theo âm Hán-Việt) là một hình thức chơi chữ của công dân mạng ở Hoa Lục, ghép hai chữ “trường thành” từ “Vạn lý trường thành” với công cụ “tường lửa” do nhà nước dựng lên để ngăn chận truy cập Internet — bất chấp mục tiêu nguyên thủy và chính đáng của “tường lửa” (firewall) chỉ nhằm ngăn chận sự phá hoại của bọnhackers hoặc những kẻ tội phạm khai thác tình dục trẻ em trên Internet. Cũng nên nói thêm: Dựng “tường lửa” là một chính sách công khai, được nhà cầm quyền Trung Cộng giao cho Bộ Công an thực hiện qua dự án mang tên “Golden Shield Project” (“Kim thuẫn công trình”) từ năm 1998, tức 4 năm sau khi mạng lưới thông tin toàn cầu lan tới lục địa Trung Hoa và bắt đầu đe dọa chủ trương độc quyền thông tin của đảng Cộng sản. Theo sự tìm hiểu của tổ chức Ân Xá Quốc Tế, từ 30,000 đến 50,000 công an được giao nhiệm vụ kiểm duyệt Internet theo dự án này.

Lẽ tất nhiên chuyện kiểm duyệt Internet ở Hoa Lục, Cuba, Lào, Bắc Hàn, Việt Nam, hay ở Iran, Syria, Saudi Arabia, Miến Điện… không phải chỉ gói trọn trong việc sử dụng nhu liệu “tường lửa” để hạn chế thông tin. Ngoài “tường lửa”, lực lượng công an mạng của các chế độ độc tài, tùy nơi tùy lúc, còn áp dụng một số biện pháp quái gở hơn, thí dụ như kiểm soát trực tiếp các máy điện toán cá nhân có nối mạng, hoặc kiểm soát lý lịch và động tác của từng khách hàng ở những địa điểm cung ứng Internet, hoặc ký mật ước với các công ty dịch vụ Internet để yểm trợ việc theo dõi những “đối tượng đáng nghi ngờ”, hoặc giản dị, trắng trợn hơn nữa là xông thẳng vào nhà của “đối tượng” và tịch thu nguyên giàn máy computer mang về trụ sở để vừa điều tra vừa vu oan giá họa…

Trong bầu không khí đầy bất trắc đối với tập thể công dân mạng thiếu may mắn phải sống dưới những chế độ như thế, “tường lửa” chẳng khác nào một “bức màn sắt mới”, được dựng lên trong không gian ảo để ngăn họ với thế giới bên ngoài. Nhưng cũng giống như “bức tường ô nhục” cắt đôi thành phố Bá Linh hay các trạm gác biên giới dọc theo “bức màn sắt” thời chiến tranh lạnh, những bức “tường lửa” ngày hôm nay chỉ nói lên sự thất bại của thể chế độc tài. Là vì những con người khao khát tự do bao giờ cũng sẵn sàng trả giá để đổi lấy tự do. Họ dư hiểu mối đe dọa đối với bản thân nếu họ tìm cách “vượt tường lửa”, họ cũng đoán trước các thủ đoạn tàn bạo và thô bỉ có thể được dùng để đối phó với họ, nhưng họ vẫn chấp nhận tất cả, chỉ để gửi những thông điệp bằng tim óc họ cho đồng bào ruột thịt của họ và cho thế giới tự do.

Ngày 8 tháng 12, 2011, trong bài diễn văn đọc tại hội nghị quốc tế về Internet tại thành phố The Hague của Hòa Lan, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton một lần nữa lên án chính sách kiểm duyệt Internet, kêu gọi xây dựng một “liên minh toàn cầu thực thụ” nhằm duy trì mạng lưới thông tin mở rộng, đồng thời vận động mọi quốc gia góp sức hỗ trợ những phóng viên báo mạng và bloggers đang bị các chính phủ độc tài của họ đàn áp tàn tệ. Bà Clinton dẫn chứng vài trường hợp: “Ti Syria, mt blogger tên là Anas Maarawi b bt hôm 1 tháng 7 sau khi đòi Tng thng Asad phi t chc. Anh ta chng b cáo buc ti danh nào c, nhưng vn tiếp tc b giam gi. Ti Iran và Syria, rt nhiu nhà hot đng trên internet – quá nhiu đến ni không th nêu hết tên – đã b qun thúc, b tù, đánh đp, thm chí b giết ch vì bày t chính kiến ca h và tp hp đng bào trong nước. Alexei Navalny, có l là blogger ni tiếng nht ca nước Nga, mi va b kết án 15 ngày tù sau khi tham gia các cuc biu tình phn đi kết qu bu c…”.

Mặc dù hội nghị The Hague hay bất cứ hội nghị nào khác cũng không thể đúc kết bản danh sách đầy đủ các nạn nhân bị đày đọa vì dám thách thức bức “tường lửa” để gửi tiếng nói của họ đi khắp nơi, nhưng rõ ràng là những tiếng nói ấy không bị lãng quên, và quan trọng hơn nữa, vẫn tiếp tục cất lên không ngừng nghỉ, dưới nhiều hình thức khác nhau và với sự góp sức của vô số chiến hữu cũ và mới. Lưu Hiểu Ba tuy còn trong ngục tù nhưng các bài viết cho tờ báo mạng “Minzhu Zhongguo” (Dân Ch Trung Quc) mà ông từng làm chủ bút vẫn đều đều xuất hiện trên các blog và Facebook ở Hoa Lục. Alexei Navalny vừa ra khỏi tù hôm 21/12 đã lập tức trở lại với trang blog “Live Journal” và đón nhận hàng ngàn lời chào mừng của độc giả khắp nước Nga. Yoani Sánchez Cordero sau mấy lần bị công an Cuba bắt cóc, bắt giam, đánh đập tàn tệ, vẫn bền bỉ lên tiếng hô hào tự do dân chủ, và nhờ sự tiếp tay của các thân hữu ở nước ngoài, trang blog “Generación Y” của bà càng bị ngăn chận lại càng nổi tiếng, thu hút khoảng 14 triệu độc giả hàng tháng trên khắp thế giới. Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày vừa mãn án 3 năm tù về tội “trốn thuế” hôm 19/10/2010 thì lại bị công an bắt mang đi biệt tích, cho tới nay đã 14 tháng trời chưa biết số phận ra sao, nhưng “Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do” do anh sáng lập vẫn tiếp tục hoạt động qua trang blog cùng tên cũng như qua blog “Dân Làm Báo” và Facebook của các bạn bè anh khắp ba miền đất nước… Khi người dân có thể tìm hiểu để biết được mọi tin tức trước đây bị bưng bít, khi hình ảnh tên công an này bịt miệng một tu sĩ giữa tòa án hay tên công an kia đạp mặt người biểu tình yêu nước tuy bị báo “lề phải” giấu diếm nhưng lại xuất hiện kịp thời trên báo “lề trái” và lan rộng toàn thế giới, điều ấy có nghĩa là những người tiên phong như blogger Điếu Cày đã thành công trong sứ mạng mà họ tự lựa chọn.

Bài phát biểu của Ngoại trưởng Hoa Kỳ tại hội nghị The Hague đưa ra một nhận định chính xác: “Dng lên nhng bc tường chia r mng internet d hơn là duy trì chúng (…) bi vì nhng chính ph nào đã dng lên các rào cn thì cui cùng s t thy mình b cô lp, và h s phi đi din vi thế tiến thoái lưỡng nan ca k đc tài. H s phi la chn gia vic phá b các bc tường đó hoc tr mt giá đt đ duy trì chúng bng cách đàn áp thêm na mà li phi chu thit thòi nhiu hơn vì t b l nhng tư tưởng đã b ngăn chn và nhng người dân đã biến mt“.

oOo

Một ngày cuối năm 2011, ngồi viết bản tin về cái chết của một kẻ độc tài, tôi vẽ ra trong đầu vài thời điểm đáng nhớ của hơn hai thập niên qua để hồi tưởng một số sự kiện, từ hình ảnh “bức tường ô nhục” và những trạm kiểm soát của cộng sản Đông Đức mà mình từng đi qua, cho đến hình ảnh trên báo chí, truyền hình, ghi lại giờ phút bức tường sụp đổ rồi cả một “bức màn sắt” sụp đổ theo. Tôi lục kiếm lại mấy cuốn sách đã mua ở Tây Bá Linh để lưu niệm chuyến đi ngày ấy, và nhận thấy rằng hầu hết những tấm ảnh chụp “bức tường ô nhục” ở trong sách bây giờ có thể tìm được trên mạng lưới toàn cầu. Cũng như lúc làm tin về tập đoàn lãnh đạo Bắc Hàn, những tên phiên âm Hán-Việt của Kim Jong-un (Kim Chính Ân, kẻ sắp nối ngôi), cô ruột của y Kim Kyong-hui (Kim Kính Cơ) và chồng mụ ta Jang Song-taek (Trương Thành Trạch), bây giờ tôi có thể tìm được dễ dàng mau chóng từ các trang mạng, chứ không phải vất vả tra cứu như hồi 17 năm trước.

Rõ ràng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã không ngừng đưa nhân loại đến gần với nhau hơn. Cũng chính vì thế, sự trao đổi kiến thức và luân chuyển tin tức càng giúp ích cho con người bao nhiêu thì càng đe dọa những chế độ độc tài muốn kiểm soát tư tưởng và hành động của con người bấy nhiêu. Người dân Đông Âu phải mất 44 năm trời mới phá tan được “bức màn sắt”, nhưng đến cùng với sự tháo gỡ những biên giới chính trị đầu thập niên 90 là cả một kỷ nguyên thông tin làm thay đổi bộ mặt thế giới. Với đà phát triển không ngừng của mạng lưới toàn cầu, kỷ nguyên ấy được đánh dấu bằng sự ra đời của điện thoại di động, email, các trang blogs cá nhân, trang mạng YouTube để trao đổi videos, rồi các dịch vụ nối kết mạng lưới xã hội như Facebook, Twitter… Và rồi bước sang cuối năm 2010 đầu năm 2011, tất cả những công cụ truyền tin này đã đóng vai trò quan trọng để làm dấy lên một làn sóng biểu tình và cách mạng từ Bắc Phi đến Trung Đông, lật đổ một loạt các chế độ độc tài chẳng khác gì cơn thịnh nộ của những con người cùng khổ đã vùng lên đạp ngã “bức màn sắt” Đông Âu.

Tương tự như đế quốc Liên Xô đã phải dựng “bức màn sắt” để kiểm soát người dân các nước chư hầu, những chế độ độc tài còn lại trên trái đất buộc lòng phải rập khuôn nhau dựng hàng loạt “tường lửa” – vừa bằng kỹ thuật vừa bằng bạo lực – để đối phó với làn sóng phản kháng đã khơi nguồn từ “cách mạng hoa lài Tunisia” và “mùa Xuân Ả Rập”. Thời điểm cuối năm Tân Mão 2011 được đánh dấu bằng hình ảnh đó: những bức tường lửa mong manh như cố gắng tuyệt vọng của một bọn điên rồ muốn níu lại vòng quay của bánh xe lịch sử.

12-2011

3 Phản hồi cho “Từ màn sắt tới tường lửa”

  1. Lời chúc mừng Năm Mới 2012

    Thân chúc BBT

    và tất cả các bạn đọc trong ngoài Nước dồi dào sức khoẻ, an vui, năm mới hoàn toàn mới, tràn đầy niềm tin vào một VIỆT NAM DÂN CHỦ TỰ DO HÙNG MẠNH trong Tương Lai tươi sáng

  2. Võ Hưng Thanh says:

    NHÌN VÀO ĐÀNG SAU BỨC MÀN SẮT VÀ BỨC TƯỞNG LỬA

    Bức màn sắt và bức tường lửa đều là sản phẩm có tính lịch sử và nhất thời của một chế độ độc tài. Chế độ độc tài đó ai cũng biết là chế độ mác xít hay nói bóng gió hơn là chế độ xã hội chủ nghĩa hoặc chế độ cộng sản. Hồi Stalin và Mao Trạch Đông còn sống, hồi khối Liên xô và Đông Âu, hay khối XHCN trên thế giới trong quá khứ chưa bước vào tan rã và sụp đổ trên bình diện toàn cầu. Tất nhiên ngày nay bức màn sắt một thời gian dài phi lý không còn nữa, nhưng trong thời đại mới thay vào đó có thể có bức tường lửa
    cũng vô lý không kém. Rõ ràng bức tường sắt thì rõ ràng hoang dã và thập phần tệ hại hơn bức tường lửa nhiều, có nghĩa bản chất nó đã thay đổi, mục đích nó đã thay đổi, song tính cách của nó phần nào cũng y như cũ, là sự độc đoán trong nhận thức, suy nghĩ, sự coi thường con người, sự xem nhẹ xã hội, khinh miệt xã hội, hay tính chủ quan và sự lạm dụng quyền lực cá nhân hoặc tập thể đến độ hoàn toàn phi lý và phản lịch sử, phản xã hội.
    Thế nhưng ý nghĩa quan trọng đáng nói của nó không phải chỉ đơn thuần là sự độc tài cá nhân hay sự độc tài tập thể theo kiểu quá khứ lịch sử của thời phong kiến, quân chủ của các thể chế vua quan ngày xưa. Bởi ngoài ý nghĩa này ra, nó còn được tăng cường thêm, kết hợp và hỗ trợ thêm bởi sự độc tài, độc đoán theo kiểu ý thức hệ. Tức sự độc tài chuyên chính theo kiểu ý thức hệ. Thật sự ý thức hệ cũng chỉ là một lý thuyết do một cá nhân con người nhất định tạo ra. Khi quan điểm ý thức và lý thuyết đó có người hưởng ứng, tập hợp được số đông, lợi dụng được số đông, tạo nên một sức mạnh số đông cụ thể trong thực tế để lập thành chính quyền và quyền lực xã hội, nó trở thành là một thực tại chuyên chính về ý thức hệ mà lý thuyết đó vốn chủ trương hay đã có. Người đưa ra chuyên chính vô sản để tạo nên một xã hội không tưởng trong thực tế đó là Các Mác. Những người thực hiện chủ trương chuyên chính đó để tạo nên
    những xã hội độc đoán, chuyên chế dữ dội trong hiện thực đó chính là Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông … chẳng hạn.
    Dĩ nhiên, một cá nhân hay một tập thể nhỏ thì không thể độc đoán hay chuyên chính đối với toàn xã hội, nhưng đó phải kết quả của một quá trình xã hội hóa sự chuyên chính đó đến với mọi người qua sự lèo lái của một người, một tập thể, hay một số người, một chính đảng cụ thể nhất định. Tính xã hội hóa sự chuyên chính là một điều phi lý nhất, vì khi đó mọi người đều bị ràng buộc với nhau, không chế lẫn nhau, và chỉ những người nắm quyền hành thực tế hay tối cao là có lợi nhất. Bởi sức mạnh xã hội là một sức mạnh ngoại lai đối với mọi cá nhân. Nó cũng chẳng khác gì sức mạnh, tính rắn chắc của một khối đá chai lì, to lớn mà không bất kỳ cá nhân nào vượt qua được trong những tình huống đặc thù, cụ thể. Tính ngoại lai của xã hội đối với cá nhân chính là như thế. Cũng chính tính ngoại lai này là cơ sở hay nền tảng thực tế mà mọi cơ chế độc tai có thể lợi dụng được.
    Trong thực chất, xã hội loài người phát triển là nhờ đạo đức, nhờ văn hóa, nhờ khoa học. Có nghĩa sự độc tài độc đoán chỉ do tham vọng, tính vị kỷ, sự lạm dụng xã hội của cá nhân hay tập thể nào đó, còn thực chất nó không có ý nghĩa, giá trị đạo đức hay khách quan nào cả. Điều chứng tỏ trong thực tế là quan điểm chuyên chính vô sản của Các Mác chỉ là một quan điểm mê muội, sai trái một thời, và ngày nay nó hoàn toàn cho thấy chỉ là điên rồ và ấu trĩ khi xã hội loài người đã bước vào thời đại toàn cầu hóa trong hiện tại. Dầu sao một quan điểm lý thuyết sai lầm hay nhầm lẫn tai hại do Mác đưa ra đã chứng tỏ nó hòn toàn phi giá trị, phi khoa học, phi thực chất, cho dầu trong một thời gian dài người ta đã cố tình thần thánh hóa nó. Trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tinh thần, trách nhiệm xã hội, sự vinh quang thật hay sự vình quang giả, hào quang thật và hào quang giả … của người lập thuyết độc tài độc đoán và những người nào thực hiện trong thực tế về lý thuyết độc tài độc đoán chính nó là như thế. Sự làm vinh danh nhân loại hay chỉ làm suy thoái nhân loại, hoặc phản lại nhân loại nó cũng chỉ là như thế đó. Thủ tiêu tính độc lập, dân chủ, tự do của loài người để phục cho các tham vọng của những cá nhân điên loạn, thực chất cũng vẫn chỉ là tội ác. Những người nào toa rập trong thực tế để vô tình hay hữu ý phục vụ cho các quyền lợi riêng tư và ích kỷ của những cá nhân điên loạn đó thực chất cũng chỉ là tội lỗi. Đó là trách nhiệm bản thân và trách nhiệm nhân loại của họ.

    Cho nên :

    Ôi thôi quả bé cái lầm
    Chủ trương chuyên chính thật “hâm” quá chừng
    Mác à ông quả “tưng tưng”
    Trăm năm bia miệng biết dừng nơi nao
    Stalin cũng đổ nhào
    Mao quân cũng vậy, lao nhao một thời
    Nhật Thành, Chính Nhật, Chính Un
    Cha truyền con nối rõ nhà họ Kim
    Mác ơi, ông lại im lìm
    Sao chưa sống dậy để xem cuộc đời !

    ĐẠI NGÀN
    (29/12/11)

  3. Lê Thiện Ý says:

    Màn sắt hay tường lửa cũng chỉ là phương tiện, biện pháp vật lý nhằm kiểm soát con người. Nhưng
    tư tưởng, tình cảm, ý chí là những thứ vô hình, làm sao kiểm soát ? Chính những thứ này mới là động lực thúc đẩy con người hành động, nó làm thành cuộc “cách mạng” lật đổ bạo quyền phi nhân.

Phản hồi