|

Ai cứu non sông?

Một trong những bài hùng ca vang dội nhất trong lịch sử của dân tộc mà tiền nhân còn để lại cho cháu ngàn đời sau là: Bài ca chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Trận chiến này đã tiêu diệt quân Nam Hán và mở ra một trang sử oanh liệt cho dân tộc Việt. Nhờ đâu, Tiền Nhân ta đã tạo nên trang sử vĩ đại ấy? Hẳn nhiên, khi đọc lịch sử, ngưòi ta dễ nhận ra hai điểm chính yếu đã tạo nên Lịch Sử ngàn đời này là:

1. Do lòng yêu nước của toàn dân, hợp với một tài năng quân sự nổi bật đã biết dùng sức nước, sức người và chọn điểm chết cho quân xâm lược.

2. Trước khi diệt ngoại xâm phải trảm kẻ nội thù.

Thật vậy, để cứu Non Sông, chính Thống Soái Ngô Quyền đã ưu tiên chọn lựa phương sách: Trảm cái đầu của tên nội gian Kiều công Tiễn trước khi xuất binh diệt ngoại xâm. Kết qủa, chiến lược này đã chứng minh được tính cách đứng đắn và hoàn hảo của nó để dẫn đến thành công.

Nhìn vào tình thế Việt Nam hiện nay, cái nguy mất nước và bị đô hộ từ phương bắc không khác xưa. Nhưng trong thực tế, còn cấp bách, tồi tệ gấp nhiều lần thời của Ngô Quyền. Bởi vì, từ ngoài biên, đội quân phương bắc được rước vào đất Nam bằng nhiều phương cách, hình thức khác nhau. Tệ hơn, không phải họ được rước vào bởi một tên bán nước Kiều công Tiễn, nhưng là một tập đoàn Lê chiêu Thống trong cái gọi là chính trị bộ, hay trong cái ủy ban trung ương của nhà nước Việt cộng. Tập thể này đã luôn ngày đêm tận lực, tận trí, thực hiện cho bằng được công tác đón rước khách vào, và mở ra những phương sách để đồng hóa người Việt Nam theo yêu cầu của phương bắc, kể cả việc dùng bạo lực thô bỉ với chính đồng bào của mình. Trước vận nước nguy nan và cảnh người dân sống trong thống khổ điêu linh, người Việt Nam nếu muốn cứu Non Sông, không còn cách chọn lựa nào khác ngoài cái tiên kiến mà Thống Soái Ngô Quyền đã thực hiện trước khi diệt quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.

- Tại sao chúng ta không thể cùng Việt cộng chống bá quyền Bắc Kinh mà phải trảm Kiều công Tiễn trước?

- Đây là một câu hỏi thẳng thắn, và đến lúc, chúng ta cũng cần có một câu trả lời cho rõ ràng? Dĩ nhiên, câu trả lời bằng sự cân đo của lý trí, vì tương lai của dân tộc hơn là theo cảm tính giận hờn, thù ghét hay yêu thích! Theo đó, buộc chúng ta phải lần lượt nhìn lại từ phía cá nhân của người lãnh đạo tổ chức này, đến những hàng ngũ cán bộ thực thi kế hoạch, chương trình của họ ra sao?

  1. Về cá nhân Hồ chí Minh.

Hồ chí Minh là một con ngưòi được nghe nhắc đến bằng qúa nhiều tên. Trong đó, cái tên nào là của y, cái tên nào là vay mượn hay được gán ghép cho y, chẳng mấy ai dám khẳng định? Nói cách khác, Hồ chí Minh, có cái xác nằm phơi khô ở Ba Đình kia có phải là Nguyễn Sinh Cung, con của của Nguyễn Sinh Sắc,  cháu của Hồ Sỹ Tạo, và cũng là Nguyễn tất Thành, Lý Thụy, rồi Trần Dân Tiên hay không? Hay Y chỉ là ngưòi được đẻ ngang vào bản lý lịch của Nguyễn tất Thành, sau  khi Nguyễn ái  Quốc bị bắt ở Hồng Kông và đã chết ở trong tù, hay đã chết vì ho lao sau đó? Nghĩa là, có thể có một kẻ đã được dịch dung và được cho sống lại bằng cái tên Hồ chí Minh sau khi Nguyễn ái Quốc đã chết. Rồi được đưa vào tổ chức của cụ Hồ Học Lãm. Sau đó nhờ Trường Chinh, Lâm đức Thụ, và Phạm văn Đồng công kênh về Việt Nam mở hội nghị ở Tân Trào vào ngày 3-2-1930 và thành Hồ chí Minh cũng là Trần dân Tiên, với cái xác đang  nằm ở trong lăng mộ Ba Đình cho bầy đoàn cộng sản cúng tế tranh ăn?

Sở dĩ có nhiều người nói đến chuyện này là vì theo sở tình báo Pháp thì Nguyễn Ái Quốc, tức Nguyễn tất Thành đã chết vì bệnh phổi vào năm 1932 ở bên Tầu. Có lẽ vin vào cái chết này, mà Hồ Tuấn Hùng chuyên gia sử học của Đài Loan viết một cuốn sách, với những bằng chứng xác quyết Hồ Chí Minh ở Việt Nam sau này, là kẻ đóng thế vai, là một người Tầu gốc Hẹ, thuộc dòng tộc của tác giả thay vì là người Việt theo dòng của Nguyễn sinh Sắc. Việc đúng, sai của cuốn sách chưa thể xác nhận. Nhưng trong thực tế, Tàu đã muốn nhờ cuốn sách này để đồng hóa Hồ là người Tàu.

Riêng về phía Việt Cộng tự nhiên lạnh tay lạnh chân, không dám công khai thực nghiệm DNA trên cái xác của Hồ để chứng minh chuyện của Hồ tấn Hùng là gỉa tạo. Hoặc đã làm thử nghệm nhưng không dám công bố. Bởi lẽ, nếu chẳng may lộ chuyện Hồ không có DNA theo dòng của Nguyễn sinh Sắc thì chết cả nút! Lúc ấy có muốn bỏ chạy cũng chạy không kịp. Hoặc gỉa đã biết rõ vụ việc này nên các quan chức Việt cộng phải kín miệng, thi nhau vơ vét tiền bạc, công quỹ, tài sản của Quốc Gia trước khi bỏ chạy? Dĩ nhiên, trong cả hai trường hợp giữ im lặng, các chú khách là những người vui mừng và hưởng lợi. Mừng vì nó là Tàu thật hay tàu gỉa thì cũng đều là Tàu cả!

Ở đây, nên bỏ ra bên ngoài cái lý lịch mờ ám và không đáng tin của Hồ. Bởi vì, dù y là người Việt Nam có quê đẻ ở làng Kim Liên, hay là được dịch dung từ một nhân vật thuộc cánh Tàu Hẹ nào đó, không phải là vấn đề của giai đoạn này (vì không thể xác minh được). Nhưng thành tích của Hồ chí Minh còn để lại không thể không nhắc đến. Theo đó, một người được gọi là người yêu dân, thương nước, người đi cứu Non Sông thì phải có những hành động nào?

Họ là người liều chết để bảo vệ danh dự và sự Độc Lập của tổ quốc như trường hợp của Thống Soái Ngô Quyền, hai bà Trưng, Đức Hưng Đạo Vương, Đức Lê Lợi, Đức Quang Trung Nguyễn Huệ, như Tổng Thống Ngô đình Diệm?  Hay người ấy phải làm đề án, xin phép người ngoài phê chuẩn để được giết dân mình cho thoải mái. Rồi đưa dân vào vòng nô lệ cho ngoại bang như Hồ chí Minh, Lê chiêu Thống, Phạm văn Đồng, Đặng xuân Khu, nói chung là tập đoàn lãnh đạo cộng sản tại Việt Nam?

Rồi một người lãnh đạo phải nhận lệnh từ ngoại bang để “điều hành việc nước” thì kẻ đó phục vụ cho quyền lợi của đất nước mình, hay là phục vụ cho ý đồ bạo tàn của ngoại bang? Phần trả lời tôi xin nhường cho qúy độc gỉa. Ở đây, tôi chỉ xin trích lại những bản văn do chính Hồ chí Minh viết như là một chứng cứ để mọi người có được câu trả lời xác đáng về y.

• Thư ngày 06-6-2038. “Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó, hay là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi một việc làm gì mà theo đồng chí cho là có ích? (HCM toàn tập, tập 3 trang 90). Bạn hãy nhìn cho thật tường tận cung cách của kẻ xin làm nô lệ của Hồ. Bạn sẽ hiểu được việc y giết đồng bào mình để lấy lòng cộng sản là đáng kinh tởm như thế nào? Việc y xin giết đồng bào Việt Nam cũng là điều có ích chăng?

• Rồi vào ngày 31-10-1952, Hồ viết: “Đồng chí Stalin kính mến, tôi gởi cho đồng chí đề án cải cách ruộng đất của đảng Lao Động Việt Nam (tên của đảng cộng sản lúc bấy giờ). Đề án này tôi đã hoàn thành với sự giúp đỡ của hai đồng chí Liu Shaoshi và Van szia-Sian. Đề nghị đồng chí tìm hiểu và đưa ra chỉ thị về đề án này”.

Khi viết lá thư này, Hồ có coi tập thể người Việt Nam là đồng bào với y hay không?  Hay mạng sống của người dân Việt sẽ tuỳ thuộc vào lời phê chuẩn của Stalin trong cái gọi là cải cách ruộng đất sau này?

•  Cùng với lá thư tự biên tự diễn trên, Hồ chí Minh đã cương quyết đẩy Việt Nam vào hướng đi khốn cùng, ảo tưởng của cộng sản theo tinh thần của đại hội kỳ V với nghị quyết vào tháng 6,1924 như sau:: “Điều mà chúng ta bắt buộc các đảng Cộng Sản phải làm là tìm cách sử dụng các phần tử dân tộc chống lại giai cấp tư sản. Các đảng Cộng Sản phải thúc đẩy các phần tử bất mãn chống lại chế độ… Dĩ nhiên chúng ta không bao giờ chấp nhận các phần tử dân tộc… Chúng ta chỉ lợi dụng sự bất mãn của họ để phục vụ cuộc cách mạng vô sản mà thôi.”

Với chủ trương này, Hồ đã mở cuộc đấu tố rập theo khuôn mẫu của Mao ở trên toàn miền bắc từ 1954-56 với kết qủa là hơn 170.000 người dân Việt Nam đã bị giết, và hàng trăm ngàn người khác mất sản nghiệp! Cũng nên nhớ rằng, trong hàng ngũ Việt Minh chống Pháp, có rất nhiều người có tinh thần dân tộc, không đảng phái. Họ đi chiến đấu dưới ngọn cờ của Việt Minh, không phải vì theo cộng sản, nhưng mang tinh thần của người yêu nước đi chống xâm lăng.

Vì không thể lợi dụng được và cũng không cùng chí hướng, nên cuộc cải cách ruộng đất do Hồ chí Minh chỉ đạo và Trường Chinh, kẻ làm ra kế hoạch đã mượn gío bẻ măng, tiêu diệt hầu như tất cả những thành phần có tinh thần quốc gia, dân tộc tự chủ ở trong tổ chức của Việt Minh. Con số này không nhỏ. Họ là những sỹ quan ưu tú trong quân đội đánh Tây. Là những nhà văn, nhà báo, trí thức chân chính cũng như các điền chủ, phú nông, thương buôn địa phương, đã từng bỏ tài lực, bỏ cả xương máu ra trong công cuộc chống xâm lăng, đều bị thanh toán sạch trong thời kỳ này. Mục đích của việc thanh toán là mở đưòng cho những người chủ trương theo Tàu có chỗ đứng và tiêu diệt hết những thành phần có khuynh hướng dân tộc. Dĩ nhiên, Hồ chí Minh và Trường Chinh chỉ là những kẻ thi hành cho một  kế hoạch lớn từ các “cố vấn”  Tàu.

Với hạng ngưòi vong bản, coi rẻ mạng sống của đồng bào, hay là kẻ mù quáng, bệnh họan đã mang chủ nghĩa duy vật vào đất nước, suốt mấy chục năm qua đã tạo nên một cuộc sống khố đau điêu linh cho đồng bào. Trong đó, mọi người đều chứng kiến tận mặt những cảnh tang thương như: Con mất cha, vợ mất chồng, anh chị em mất nhau. Người thân mất họ hàng, xóm  giềng mất bằng hữu. Đồng bào mất tình nghĩa, dân tộc mất văn hóa, xã hội mất luân lý. Gia đình mất đạo nghĩa. Con người mất tín trung. Tổ quốc mất đất đai bờ biển. Non sông mất bờ cõi. Dân tộc mất Độc Lập, toàn dân mất Tự Do, mất Nhân Quyền, mất Công Lý… Hỏi xem, chúng ta có thể cộng tác với y trong việc đánh đuổi bá quyền phương bắc hay không?

2. Về tập thể được gọi là chính trị bộ của đảng cộng sản tại Việt Nam thì sao?

Họ là những người biết bảo vệ cho quyền lợi của dân tộc và đất nước hay là một tập đoàn bán nước cầu vinh theo Hồ? Họ là những tài lương  đống của quốc gia, hay là một thứ công cụ được dùng để thi hành sách lược mà Hồ chí Minh đã đề ra ngay từ khi thành lập đảng cộng sản là đưa đất nước Việt Nam vào qũy đạo cộng sản để tận diệt nhân bản và lương tri của xã hội?

a. Họ là ai?

Theo những tài liệu còn lưu trữ, chuyện Việt cộng bán đất cho Tàu không phải đến nay mới có, nhưng ngay sau khi cộng sản chiếm được miền bắc Việt Nam vào năm 1954. Hồ chí Minh đã chỉ thị cho Phạm văn Đồng, thực hiện công hàm, công nhận hải phận của tàu cộng trên vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam vào năm 1958.

“CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ CÔNG NHẬN QUYẾT ĐỊNH VỀ HẢI PHẬN CỦA TRUNG-QUỐC

Thưa đồng chí Chu Ân-lai,

Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa,

Chúng tôi xin trân trọng thông báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

PHẠM VĂN ĐỒNG”

Bản văn này đã chứng minh một cách rõ ràng cái bản chất bán nước cầu vinh trong hàng ngũ cộng sản. Và nó cũng đủ chứng minh lý do tại sao cái nhà nước gọi là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” do Hồ lãnh đạo đã hoàn toàn im lặng, nếu như không muốn nói là đã vui mừng nhảy múa, reo hò khi Tàu cộng chiếm được hai quần đảo này từ tay quân đội của Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1974. Để rồi, tiếp theo cái công hàm quái gở này là những Hiệp Định, Hiệp Thương biên giới do Lê khả Phiêu, Đỗ Mười, Nguyễn mạnh Cầm, Phan văn Khải, Võ văn Kiệt, Lê đức Anh… ký kết với Trung cộng. Kết qủa, nhờ có những tên tuổi này mà những vùng đất của quê hương Việt Nam như  Bản Giốc,  Nam Quan, Lão Sơn, Tục Lãm… đã là phần nội địa của tàu cộng từ  năm 1999 và 2000.

Và còn tồi tệ hại hơn cả những phần đất đã bị bán đứt ấy, Nguyễn tấn Dũng, Nông đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Minh Triết… đưa rước tàu cộng sang thầu và trúng thầu tất cả mọi công trình xây dựng, phát triển hạ tầng từ cầu đường, đến các  nhà máy điện từ bắc đến nam. Có thể nói, không còn một nơi chốn nào trên mảnh đất quê hương Việt thiếu dấu chân của quan cán Trung cộng vào ra mà không cần phải có giấy thông hành. Ấy là chưa kể đến việc Nguyễn tấn Dũng đưa rước Tàu cộng vào xây dựng cơ sở (bí mật?) ở cao nguyên trung phần và được che dấu bằng cái mỹ từ khai thác Bauxite ở Đak Nông, Tân Rai, Nông Cơ… mà không một  quan cán Việt cộng nào được phép lai vãng  đến những vùng đất này nữa. Thêm vào đó là việc nhà cầm quyền cộng sản đã đỡ đầu, tích cực hỗ trợ cho các quan cán cấp tỉnh, thành, địa phương tự do ký kết các khế ước cho thuê rừng, thuê biển dài hạn, không thuế hay thuế nhẹ cho các Hoa kiều (tàu cộng) trong khi dân ta không có một mảnh đất làm nhà, bị  coi như một thứ nô lệ trên quê hương của mình. Vậy họ  là ai? Kẻ bán nước cầu vinh hay những lương đống của đất nước?

b. Tư duy của thành phần này thế nào?

Không  phải đến hôm nay, những Kiều công Tiễn trong cái gọi là chính trị bộ  mới có sáng kiến đưa ra vấn đề học tiếng Hoa với mục đích đưa Việt Nam tiến nhanh vào vòng nô lệ văn hóa cho Tàu. Nhưng trước đó, Trường Chinh tức Đặng xuân Khu, viên bí thư đầu tiên của đảng cộng sản tại Việt Nam cũng đã mở ra chương trình ngu dân này cho toàn đảng cộng học tập và chấp hành. Có khác là vào thời gian trước, Việt cộng chưa nắm được quyền lực, nên Khu chỉ có thể ra lời kêu gọi. Nhưng nay, Phạm vũ Luận cho rằng đã vững chân để vận động và thực hiện hoài bão, buộc học sinh học tiếng tàu? Trước là để biết cách cung nghinh Tàu theo lời chỉ đạo của Thái Thú; sau là để cá nhân hoặc phe nhóm của Luận giữ được cái ghế? Bởi vì, cả hai cùng một luận điệu như nhau. Chinh viết:

Việt Minh Vận Động cho Việt Nam làm Chư Hầu Trung Quốc

ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ  

Hỡi đồng bào thân mến!  

Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào! Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế ?  

Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối Âu Tây ấy – một cách viết rõ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc.  

Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không?  

Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi! Hỡi đồng bào yêu mến! Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Ðế quốc phương Tây đem qua xứ ta! Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu. Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa hoc, phát minh v.v. 

Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân! Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.  

Trường Chinh, Tổng thư ký đảng Lao Ðộng (cộng sản)

Thật là một tủi nhục cho đất nước và dân tộc Việt Nam khi bản văn này xuất hiện và còn lưu truyền! Nhưng có lẽ nó lại là một hãnh diện to lớn nhất cho cái dòng họ đã đẻ ra Khu và cho cái đảng và nhà nước Việt cộng mà Khu đóng vai trò chỉ đạo. Bởi vì, lãnh tụ, cây lý thuyết của đảng đã đẻ ra được cái bản văn nô lệ có một không hai trong lịch sử loài người!

Hỏi xem, có bao nhiêu người Việt Nam đã đọc bản văn này? Họ đọc và nghĩ gì?  Họ, kể cả các đoàn đảng viên của cộng sản, thấy tủi nhục cho dân tộc và đất nước hay hãnh diện vì việc làm của kẻ nô lệ? Rồi có bao nhiêu ngưòi nhìn ra được hướng đi, xin làm nô lệ cho Tàu cộng nằm ngay trong cơ chế lãnh đạo của cái đảng gọi là Việt cộng? Hay, ngoại trừ một chính quyền của Tổng Thống Ngô đình Diệm với ngài cố vấn Ngô đình Nhu?

Ai cũng biết, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có những quy chế về cư trú và các ngành nghề dành riêng cho giới Hoa kiều cư trú tại Việt Nam. Hơn thế, Tổng Thống Ngô đình Diệm và chính phủ đã có một kế hoạch đứng đắn cho người Hoa hội nhập vào đất nước Việt, nơi mà họ đang sinh sống. Đề, từ nơi đó, họ hòa minh và là người Việt, dần dần quên và bỏ hẳn cái gốc gác của mình đi. Những ai ở Sài Gòn trước kia, đều nhận ra rằng: Chương trình này đã mang lại rất nhiều kết qủa tốt đẹp. Chợ lớn không còn phải là cái chợ của mấy chú ba bụng phệ, một mình một chiếu “ngổ ái nỉ” hoặc hô hóan giữa đường “Hồ chí Mỉnh qúa thối, qúa thối” như xưa. Nhưng là một khuôn khổ sinh hoạt trong phong cảnh, luật lệ Việt Nam. Từ tên đường phố, đến tên các hàng quán đều là những dòng chữ Việt. Đặc biệt các trưòng tư của Hoa kiều vẫn được mở cửa nhưng tiếng Việt, văn hóa Việt phải là ngôn ngữ chính cho học sinh.

Nay bộ GD&ĐT của nhà nước Việt cộng lại có kế hoạch làm những điều trái ngưọc với chính sách của Tổng Thống Diệm khi họ công bố cái gọi là “xin ý kiến rộng rãi” về dự thảo chương trình tiếng Hoa cho cấp tiểu học và cấp THCS, nhằm mục đích “thông qua tiếng Hoa có hiểu biết ban đầu về con người, cuộc sống, văn hóa của người Hoa ở Việt Nam; xây dựng thái độ ham mê học tập tiếng Hoa, tăng cường nhận biết về vai trò của tiếng Hoa trong đời sống”. Ai nghe qua cũng đều phẫn nộ vì biết rõ: Đây chính là mưu đồ Hán hóa người Việt của  những quan chức Tàu trong hàng ngũ Việt cộng.

Vì theo đuổi mộng ước làm quan cho Tàu, nên ngay khi cái thông báo của Luận vừa tung lên mạng, lập tức một làn sóng dư luận phẫn nộ trong công chúng đã trỗi lên khắp nơi, trong nước cũng như ngoài nước. Trước tình cảnh ngậm hờn đó, chưa đầy một ngày sau, bộ Giáo không Dục của nhà nước Việt cộng đã phải ra thông báo “đính chính” rằng: “Ðối tượng áp dụng là học sinh dân tộc Hoa cấp tiểu học và trung học cơ sở đang sinh sống ở Việt Nam.” Nghe qua tưởng xuôi tai. Thực tế lại khác. Bởi lẽ, nếu đúng như sự việc đính chính thì có khác nào nhà nước này đã xác định rằng, số học sinh người Hoa ở Việt Nam đã qúa nhiều. Nhiều đến nỗi phải đưa tiếng Hoa vào trong chương trình của bậc tiểu học và trung học cơ sở để đáp ứng như cầu cho học sinh chăng?

Hay bản đính chính này chỉ là một cách che đậy mờ ám cung cách dối trá, chạy xin chỗ tựa của Luận. Bởi lẽ, theo bản thống kê dân số của cuộc điều tra dân số chính thức của Tổng cục Thống kê năm 2009, xác định dân số các sắc tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam như sau: Dân tộc Tày có 1.626.392 người – Dân tộc Thái có 1.550.423 người; Dân tộc Mường có 1.268.963 người – Dân tộc Nùng có 968.800 người – Dân tộc Khmer có 1.260.640 người – Dân tộc Chăm có 132.873 người – Dân tộc Hoa có 823.071 người. Dĩ nhiên con số 823.071 chỉ bằng nửa con số 1.626.392 của người Tày. Nhưng tại sao lại được Luận nâng lên hàng “cuốc” sách của bộ giáo dục Việt cộng, thay vì quy hoạch theo vùng, nơi có các sắc tộc sinh sống để giúp bảo vệ tiếng nói của sắc tộc trong đất nước Việt Nam?

Hỏi như thế là để có thể đưa ra một kết luận tạm cho vụ việc này là: Luận muốn nhập cảng thêm nhiều, có thể là rất nhiêu người Hoa theo nhãn hiệu giảo viên và gia đình của họ nhập vào trong lòng nội địa Việt Nam. Sau đó, những người này sẽ dần dần chiếm chỗ và quản trị ngành giáo dục của Việt cộng để chương trình Hán hóa văn hóa Việt Nam được tiến nhanh tiến mạnh lên theo yêu cầu của bành trướng bắc phương? Phần cá nhân, chẳng nói ra thì Luận đã mơ sẽ là một quan viên Thái Thú nhớn nhất?

Thử hỏi, với cái thành tích đặc biệt ấy của giai cấp lãnh đạo đảng và nhà nước Việt cộng ở Việt Nam, liệu chúng ta có thể cộng tác với họ trong việc chống xâm lăng từ phương bắc không? Hay cộng tác với Việt cộng chống bành trướng Bắc Kinh, chỉ là một hành động hỗ trợ chúng đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc vào vòng nô lệ cho Tàu cộng?

Sở dĩ có câu hỏi này là vì: Từ xưa đến nay, có bao giờ, từ Tống, Minh, Nguyên, Hán, Mãn, thôi dòm ngó về phương Nam chưa? Hẳn nhiên là chưa và càng lúc mưu đồ Hán hóa phương Nam càng lớn. Nhất là lúc phong cách của một anh bán hàng rong, bán ve chai để kíếm sống cách đây 50 năm đã được Tây phương đầu tư và dạy cho học biết về kỹ thuật tân tiến, nên Bắc Kinh càng nóng lòng muốn phô trưong cái khả năng của mình ra thế giới bên ngoài hơn là chấp nhận cái phần hèn của những ngày Thanh mạt, hay ngày đầu của “cải cách ruộng đất” và “cách mạng văn hóa” với Mao và nhóm tứ nhân bang!

Khi cái khát vọng muốn phô trương càng lớn, sức ép ấy đè lên phần đất phương Nam càng nhiều. Nghĩa là, bành trướng Bắc Kinh muốn dùng Việt Nam như cái bàn đạp để phô trương và thách đố sức mạnh của mình ra thế giới bên ngoài. Theo đó, Biển Đông được chọn như là bàn cờ,  và con cờ lại chính là những kẻ xin làm nô lệ cho Tàu trong hàng ngũ lãnh  đạo của đảng và nhà nước Việt cộng. Ở trong trường hợp này, nếu người Việt Nam không vận động được toàn lực sức mạnh của đồng bào ở trong nước, cộng với sự yểm trợ hữu hiệu của đồng bào ở hải ngoại và vận động được các lân bang trợ giúp, nguy cơ bị chính Việt cộng tiếp tay, đưa Việt Nam vào vòng Hán hóa như Tây Tạng là rất lớn. Nếu như không muốn nói là rất nhanh. Ngoại trừ một trường hợp. Sau thời qúa độ của cộng sản, Trung cộng lại sẽ quay về với cái bản đồ của thời Chiến Quốc.

Nhìn lại chuyện xưa. Người Do Thái đã có được một đoạn kết sau 40 năm lưu đày. Dân Việt Nam ta thế nào? Thế nào và ra sao thì chưa biết sao. Nhưng con số 40 tính từ ngày 30- 4-1975 đến nay đã gần kề. Đó tuy không phải là một con số qúa lớn. Nhưng đủ cho chúng ta nhìn thấy một hình ảnh. Hầu như những ngưòi đã trưởng thành khi rời Ai Cập đều không vào được đất hứa, dù rằng họ là những người hăng hái nhất quyết ra đi và tìm về đất hứa. Như thế có phải là một bất công hay không? Tôi không biết có phải là một bất công hay không. Nhưng cho rằng, cái trưởng thành ấy phải lùi lại dĩ vãng, dù phía bên này hay là bên kia, để cho những thành tựu mới phát triển vươn lên. Và trong cái nhìn trưởng thành ấy, thiết tưởng đến lúc, mỗi ngưòi nên có cái nhìn định hướng rõ ràng cho tương lai của đất nước hơn là mơ hồ với màu sắc ảo giác chính trị. Rồi tích cực hơn, nên đặt ra một câu hỏi để mọi người đều có cơ hội trả lời và hỗ trợ cho câu trả lời của chính mình:

Ai sẽ cứu Non Sông?

1- Đồng bào ở hải ngoại chăng?

2- Trí thức lỡ thời, dở thầy, dở thợ, (móc ngoặc với Việt cộng) ở hải ngoại?

3- Thanh niên, sinh viên, học sinh và đồng bào ở trong nước?

4- Trí thức xã hội, dân tộc ở tro ng nước?

5- Quân đội Việt Nam chăng?

• Trách nhiệm Cứu Non Sông là của mọi con dân Việt Nam. Nhưng về thành phần, động lực, dư luận cho rằng, thuyền đã ra khơi rất khó quay về. Những ngưòi dở hơi  sức lực của họ dành “oánh”  nhau còn không đù, sức đâu cứu non sông. Theo đó, sức sống, năng lực của dân tộc chỉ còn ở trong huyết quản của người thanh niên, sinh viên học sinh. Họ sẽ dâng cao ngọn cờ cứu Non Sông. Rồi Ngô quyền, trong hàng ngũ quân đội vì mệnh nước mà chém Kiều công Tiễn, xuất binh. Khi đó, đồng bào trong cả nước, như ngọn sóng thần dâng lên quyét sạch rác rưởi cộng sản và bành trướng ra khỏi quê hương Việt Nam. Mong lắm thay.

• Câu trả lời của bạn là gì nào?

Xương trắng tiền nhân xây Đất Mẹ,

Máu hồng con cháu cứu Non Sông.

© Bảo Giang

© Đàn Chim Việt

 

19 Phản hồi cho “Ai cứu non sông?”

  1. cam thu v c says:

    bài viết hay. đáng để cho các độc giả báo lề trái suy nghĩ và hành động ???? vui thì ít mà buồn thì nhiều????????

  2. Bảo Giang says:

    Đôi dòng đính chính.

    Thưa qúy độc gỉa, trong bài viết có một điểm đánh máy sai, và một điểm ghi không rõ nguồn trích. Xin cám ơn bạn xoathantuong. Tôi xin ghi lại như sau:

    1. Phần đánh máy : ngày 06-6-1938 thay vì ngày 06-6-2038 ( ngày này chưa có trong niên lịch).

    2. Phần ghi không rõ nguồn trích: Hồ chí Minh đã cương quyết đẩy Việt Nam vào hướng đi khốn cùng, ảo tưởng của cộng sản theo tinh thần của đại hội kỳ V với nghị quyết vào tháng 6,1924 .

    Xin ghi lại cho rõ: .” Hồ chí Minh đã cương quyết đẩy Việt Nam vào hướng đi khốn cùng, ảo tưởng của cộng sản theo tinh thần của Nghị Quyết trong đại hội kỳ V quốc tế III họp tại Matcơva từ ngày 17-6 đến ngày 8-7-1924, như sau:: ““Điều mà chúng ta bắt buộc các đảng Cộng Sản phải làm là tìm cách xử dụng các phần tử dân tộc chống lại giai cấp tư sản. Các đảng Cộng Sản phải thúc đẩy các phần tử bất mãn chống lại chế độ…Dĩ nhiên chúng ta không bao giờ chấp nhận các phần tử dân tộc…Chúng ta chỉ lợi dụng sự bất mãn của họ để phục vụ cuộc cách mạng vô sản mà thôi.”

    Đây là đại hội của Quốc Tế cộng sản. Không phải là kỳ họp của cộng sản Việt Nam như bạn xoathantuong dẫn chứng. Vì vào thời gian này đảng cộng sản Việt Nam chưa được thành lập. Trong kỳ đại Hội này, Nguyễn ái Quốc,( Hồ chí Minh) đã đọc tham luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa, lên án chủ nghĩa thực dân. Cũng trong đại hội kỳ V này, thuật ngữ chủ nghĩa Mác – Lênin được sử dụng chính thức.

    Bảo Giang.

    • xoathantuong says:

      Cám ơn t/g đã đính chính.

      Mạn phép để đăng lại ở web của tôi, có sửa lại theo đính chính, theo địa chỉ sau:
      http://xoathantuong2.tripod.com/bg_aicuunonsong.htm

      Cám ơn.

    • Võ Hưng Thanh says:

      TƯ SẢN VÀ VÔ SẢN

      Học thuyết Các Mác phủ nhận, lên án tư sản, và chủ trương vô sản, là điều hết sự phản tự nhiên và phi lý. Tư hữu như phương tiện phụ vụ đời sống, là điều khách quan của mọi giới sinh vật, trong đó có loài người. Tư hữu như công cụ sản xuất xã hội, là nguyên tắc khách quan, phù hợp tâm lý, ý thức tự nhiên của cá nhân và xã hội về mặt sản xuất xã hội. Chính pháp luật là yếu tố điều tiết, nhằm khắc phục những phi lý xã hội để đi đến phát triển và tiến bộ. Mác cường điệu hóa ý niệm vô sản, ý niệm bóc lột, ý niệm đấu tranh giai cấp, ý niệm kinh tế tập thể. Đó là tất cả những gì không đúng với quy luật khách quan, không phù hợp với quy luật khoa học tự nhiên, cuối cùng kéo xã hội đi xuống, làm cho cá nhân nghèo nàn về mọi mặt, chỉ trừ ra một thiểu số cơ hội, thời cơ, lủng đoạn mọi người bằng quyền lực, bằng quán tính, bằng sự tuyên truyền giả tạo. Tất cả khiến xã hội dân sự bị khống chế, què quặt, chỉ còn xã hội chính trị giả tạo, guồng máy kinh tế xã hội chủ yếu phục vụ giai tầng thống trị, cấu kết, tiêu cực, tham nhũng, nhân danh mọi sự nhưng không có thực chất. Bởi xã hội chính trị giả tạo đã nuốt chửng, tiêu hóa xã hội dân sự, làm thành một cơ chế tập thể giả tạo, phi hiệu quả, phản hiệu quả trong kinh tế sản xuất phát triển cũng như về mọi mặt trong văn hóa và đời sống của cá nhân và xã hội. Đó là kết quả của sự lập dị, giả tạo, cương đại, ảo tưởng, trong hệ thống tư duy kinh tế xã hội và lịch sử nói chung của Các Mác. Mác thổi phồng ý niệm giai cấp vô sản và ý niệm bóc lột mà không phân tích khoa học các ý nghĩa khách quan, chính xác, hay hoàn toàn tự nhiên của chúng. Sự lệch lạc đó lẫn việc dựa vào biện chứng luận Hegel một cách giả tạo và mù quáng, khiến Mác đưa vào một hệ thống lý luận đầy lập dị, phản thực tế, huyễn tưởng, để cuối cùng đi đến những kết quả lý luận kiểu tẩu hỏa nhập ma, khiến xã hội mất phương hướng, trở thành chủ quan, luẩn quẩn và đầy những giả tạo, cũng như những sự tai hại trong thực tế khách quả đời sống, khiến cho mọi người đều bị khống chế, chỉ trừ một thiểu số nắm quyền hành sử dụng sự tuyên truyền nhân danh đủ thức mà phi thực chất và phản hiệu quả. Sự ngây thơ hay cố tình không phân biệt giữa ý nghĩa mục đích và ý nghĩa công cụ của tài sản, của tư hữu là lỗi lầm tai hại nhất của Mác. Ông ta chỉ thấy cây che rừng. Chỉ nhìn tiểu tiết, vi mô về kinh tế xã hội mà không nhìn ra các tính cách vĩ mô hay đại tượng của nó. Từ đó hằn sâu ý niệm bóc lột một cách giả tạo, đồng thời huyễn hoặc nền kinh tế tập thể trong một xã hội cộng sản ảo tưởng trong tương lai xa vời hoàn toàn mù mờ, ức đoán, phi cơ sở khách quan, ngược lại với mọi nguyên tắc ý thức, tâm lý tự nhiên của cá nhân và xã hội. Tính cách phản con người, phản xã hội khách quan của toàn bộ học thuyết Mác chính là như thế.

      ĐẠI NGÀN
      (16/4/12)

      • Lâm Vũ says:

        Hoan hô bác NN kiên trì phê phán chủ nghĩa Mác (CS). Để rộng đường dư luận tôi xin trích lại vào đoạn ngắn trong bài “Một quan niệm về hiện đại hóa ở Việt Nam” của nhà nghiên cứu triết học Mác-xít hiếm có của miền Bắc, Nguyễn Kiến Giang.

        [...]
        Từ xã hội nhà nước hóa đến xã hội công dân

        Bên cạnh cái trục truyền thống – hiện đại như ở tất cả các nước hiện đại hóa đều có, nước ta còn mang thêm một đặc trưng khác: chuyển từ một xã hội nhà nước hóa sang xã hội công dân (không chỉ ở nước ta mà ở tất cả các nước từng theo “mô hình xã hội chủ nghĩa xô viết ” đều đã và đang diễn ra như thế).

        Mọi người đều biết rõ xã hội nhà nước hóa, cũng được gọi là “xã hội toàn trị”, đã hình thành và tồn tại trong lịch sử thế kỷ XX như thế nào. Kiểu xã hội này đã tạo ra những sức mạnh to lớn trên con đường hiện đại hóa (chủ yếu là công nghiệp hóa). Không thể phủ nhận những thành tựu về kinh tế – kỹ thuật đã đạt được với kiểu xã hội này. Nhưng con đường hiện đại hóa này gặp thất bại không thể cứu vãn. Ở nước ta, thất bại ấy đến rất sớm. chỉ mấy năm sau 1975, cùng với thiên tai và những hoạt động phá hoại của kẻ thù mới vốn là anh em, nó đã đưa tới một cuộc khủng hoảng toàn diện, ngày càng trầm trọng và kéo dài hơn một thập kỷ, cho đến khi công cuộc Đổi mới được khởi xướng và gặt hái những thành quả ban đầu.

        Tất cả nằm ở chỗ: kiểu xã hội nhà nước hóa ấy đã mất hiệu quả trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, trước hết là trong đời sống kinh tế và tư tưởng. Mà nguyên nhân chính của tình trạng đó là đã biến tất cả mọi người dân thành những công dân về mặt hình thức, còn trên thực tế đó là những “thần dân”. Tính chủ động sáng tạo của họ mất đi khi họ không còn là chủ thể xã hội.
        Một trong những thành tựu lớn của văn minh loài người và cũng là một cái mốc đánh dấu việc chuyển từ truyền thống sang hiện đại chính là xã hội công dân, trong đó công dân thật sự là chủ thể của xã hội. Không phải ai khác, chính Marx (lúc còn là người dân chủ), coi xã hội công dân lấy sự tự do cá nhân, các quyền tự nhiên của con người làm cơ sở. Xã hội công dân là xã hội bao gồm những công dân có sở hữu, có các quyền tự do cá nhân, các quyền tự nhiên của con người. Marx còn khẳng định “con người với tư cách là thành viên xã hội công dân có nghĩa là con người theo đúng nghĩa của nó”. Xã hội công dân đối lập với xã hội nhà nước hóa, trong đó nhà nước là chủ thể, công dân chỉ biết phục tùng.
        [...]”

        Với những tư tưởng trong sáng và tiến bộ như trên, không ngạc nhiên khi ông Nguyễn Kiến Giang đã bị loại ra khỏi mọi chức vụ quan trọng trong guồng máy của đảng CSVN.

      • Ngàn Khơi says:

        VẤN ĐỀ INPUT VÀ OUT PUT

        Đây là ý nghĩa chính yếu của mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội. Nói nôm na là đầu vào và đầu ra của mọi mođun tồn tại nào đó. Đầu vào phải tối ưu và tiết kiệm. Đầu ra phải hiệu suất và kết quả. Một nền kinh tế, một nền chính trị, một học thuyết cũng thế. Xét về lý thuyết Mác, phải xét các nền tảng và cơ sở khoa học thiết yếu của nó. Đó là đầu vào. Xét kết quả cuối cùng của lý thuyết Mác, phải xét các kết luận sau cùng của nó. Nhiều người lấy ý nọ ý kiến kiểu nửa lừng của Mác để xem xét, đánh giá lý thuyết Mác là chưa xác đáng, đầy đủ, chính xác. Như lý luận trên đây của ông Nguyễn Kiến Giang ở Hà Nội mà Lâm Vũ giới thiệu chẳng hạn. Bởi đầu ra cuối cùng đáng quan tâm nhất là ý niệm đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, xã hội cộng sản khoa học mang tính ảo tưởng. Tất cả những điều đó quyết định tính khả thi hay không của học thuyết Mác mà không phải những điều ông ta luận về xã hội dân sự hay phê phán kinh tế tư bản chủ nghĩa. Về mặt chính trị học cũng thế. Một công cuộc chính trị nếu đầu vào quá tốn kém, đầu ra kém hiệu quả, đó không thể gọi là một công cuộc chính trị thành công hay tốt đẹp, bởi tính tối ưu và tính nhân văn của nó đã có nhiều mặt bị hi sinh một cách kém khoa học hay phản thực tế. Đó là những gì cần nên góp ý để làm sáng tỏ thêm quan điểm khá tốt của ông Nguyễn Kiến Giang.

        Non Ngàn
        (16/4/12)

      • Lâm Vũ says:

        Thành thực cám ơn bác NN đã tiếp tục bỏ công suy nghĩ. Phương pháp phê phán dựa trên “Input” và “Output” rất hay, tôi chỉ xin “dịch” theo ngôn từ “cổ điển” là “Tiền đề” (These) và “Kết đề” (Synthese) hay “kết luận” (conclusion) để dễ dàng đối chiếu. Còn phần giữa là “phản đề” (Anti-these) hay phần lý luận.

        Tiền đề của Marx là xã hội bất công. Bất công ở chỗ người làm việc thật sự thì không được hưởng, do sự bóc lột (“ăn cướp cơm chim”). “Đầu ra” hay kết luận của Marx là phá bỏ tất cả những cơ chế và tổ chức của xã hội hiện hành (để lập một trật tự mới bình đẳng, công bằng không bóc lột. (ref. Tuyên ngôn đảng Cộng Sản của Mác-ĂngGhen)

        Kết luận này của Marx lại là một môđun mới, có “đầu vào đầu ra”. “Đầu vào” ở đây là việc phá bõ mọi trật tự cũ, “đầu ra” là “thiên đường cộng sản”. Đúng như phê phán của bác NN, đầu vào theo chủ nghĩa Mác-Enghels, “phá bỏ mọi trật tự xã hội hiện hành” (Tuyên ngôn CS: “… forcible overthrow of all existing social conditions..”) quá tốn kém tài sản và nhất là mạng người, trong khi “đầu ra” *thiên đường CS” thì thiếu khoa học (chứng minh), không có gì bảo đảm là có thể thực hiện được.

        Kết luận: tôi xin hoan nghênh phương pháp phê phán mà bác NN đề nghị. Nó rất thực tế, có thể sử dụng cho hầu hết mọi trương hợp (lý thuyết mới cũ), chứ không riêng với chủ nghĩa Mác.

        TB. Để so sáng, tôi xin dẫn ra đây lý luận phê phán chủ nghĩa Mác của chính đại văn hào Leo Tolstoi, viết trong một lá thư gửi bạn (trích lại trong cuốn Hồi Ký) – đại ý: Cốt lõi của chủ nghĩa Mác là lực lượng cách mạng tức đảng CS với danh nghĩa chính quyền lầm thời đứng lên dành lại quyền hành từ tay Tư bản rồi trao trả lại cho dân. Đây là một sự sai lầm (bịp bợm?) vĩ đại của chủ nghĩa Mác, bởi vì đảng CS cũng chỉ là tập hợp của những con người như những con người khác. Do đó, như trường hợp những người Tư bản, cho một khi đã nắm được mọi quyền bính trong tay rồi, đảng cộng sản sẽ không bao giờ trả lại quyền hành cho dân.

        Văn hào Leo Tolstoi viết những lời này 20 năm trước khi đảng CS của Lênin lât đổ chế độ Nga Hoàng, cướp chính quyền ở Nga và không bao giờ trả lại cho dân, cho đến khi bị người dân Nga lật đổ hơn 70 năm trị vì!

  3. xoathantuong says:

    • Thư ngày 06-6-2038. “Đồng chí hãy phân tôi đi …”
    - Sai ngày. Ngày đúng là 6-6-1938. Tôi mới kiểm chứng lại. Đề nghị BBT DCV sửa lại dùm.

    * đại hội kỳ V với nghị quyết vào tháng 6,1924 như sau ???
    - Sai ngày.
    trích từ – http://www.lichsuvietnam.vn
    “Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (từ ngày 5 đến 10-9-1960)
    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (từ ngày 14 đến 20-12-1976)
    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (từ ngày 27 đến 31-3-1982)”

    * “2. Về tập thể được gọi là chính trị bộ của đảng cộng sản tại Việt Nam thì sao?”
    - Vậy điểm 1. nó nằm ở đâu? “Về cá nhân Hồ chí Minh.” là điểm 1. ?

    Tôi chưa có giờ đọc kỹ lại nên chỉ thấy có ba điểm sai. Đề nghị t/g kiềm soát lại các số liệu, ngày giờ cho đúng kẻo bài viết mất giá trị rất nhiều. Cám ơn.

  4. lão làng says:

    Đất nước hiện nay còn gì để cùng nhau cứu hay không cứu .Ông Hồ cũng như ông Võ nguyên Giáp trí thức tiểu tư sản làm gì không biết ” chơi với Tàu phù thì không chết cũng bị thương ” nhưng có lẽ vì quyền lợi của đảng hay muốn lưu danh hậu thế nên mới có tình trạng đất nước như hiện nay , trên thì ra sức vơ vét , dưới bức hiếp nhân dân , nhân dân ăn uống toàn chất độc từ TQ tuồn sang ,tại sao thế vì công an VN kiểm soát con kiến còn khó lọt nhưng tại sao việc này lại xảy ra được.Người dân hiện nay sống không ra sống , chết không ra chết , nhiều bệnh do ăn uống mà ra do chất độc ngấm dần vào thân thể khi phát ra vô phương cứu chữa làm hao tốn ngân sách nhà nước giống như bộ đội VN đánh trận Campuchia TQ đã giúp Pôn Pốt dùng mìn chống cá nhân chỉ bị cụt chân thay vì chết để đánh mạnh vào tâm lý bộ đội VN ,hiện nay TQ cũng dùng tiểu xảo ấy để tàn hại dân tộc VN.TQ vừa thâm vừa hiểm và lịch sử cũng cho thấy như vậy nhưng không biết tại sao ông Hồ và các đồ đệ cứ bám vào “16 chữ vàng và 4 tốt ” do vậy đất nước mất vô phương cứu chữa ,TQ muốn làm suy yếu nội lực VN nên ông Hồ ra sức “đánh Mỹ đến người Việt cuối cùng”.VN chỉ có thể ra khỏi quỹ đạo TQ khi nội tình TQ có 1 biến cố nào đó ,còn nay thì không thấy ánh sáng nào ở cuối đường hầm.

  5. Nổ says:

    Rất tuyệt !
    Tôi và các bạn phải cứu chứ còn ai nữa .

  6. Vinh says:

    Ông Bảo Giang viết không có chứng cứ. Ông cứ viết là viết cho bằng đuợc, rất giống bài cùa báo Đảng. Ông đem so sanh chữ “Tày” vói “Tàu’ thì chứng tỏ ông chả hiểu gì cả. Người đọc đến đây phải ngưng lại không đọc được nữa. Thưa ông tiếng Tày thì bao nhiêu người nói và tiếng Tàu thi bao nhiêu nguời nói trên cái trái đất này ? Hỏi thế là đủ rồi. Ông có đi học tiếng “Tày” thì học chứ tôi là tôi học tiếng “Tàu” rồi đó. Học nó mới hiểu nó “chửi mình” ra sao, nó nghĩ mình thế nào, nó lý luận thế nào. Hiểu địch thì mới thắng được đich chứ ? Không hiểu gì làm sao thắng ? vả lại nói caí ngôn ngự hơn 1 tỷ ngươì nói chả có lợi hơn nói cái ngôn ngữ chỉ có 1 triệu người nói ? Dĩ nhiên Tiếng Việt phải là ngôn ngữ chính. Theo ông dạy tiếng Tày hơn tiếng Tàu ? Ông muốn đua dân Viẹt tiến lên không ?

    • Bút Thép - Z30 says:

      Ông Vinh làm sao mà nổi đóa lên thế?
      Ông không hiểu tác giả hay nhìn đỉa ra lươn với câu ‘Ông đem so sanh chữ “Tày” vói “Tàu’ thì chứng tỏ ông chả hiểu gì cả‘.
      Ông Bảo Giang có đem chữ Tày so sánh với Tàu đâu. Câu hỏi được đặt ra là; ‘con số 823.071 người Tàu chỉ bằng nửa con số 1.626.392 của người Tày. Nhưng tại sao lại được Luận nâng lên hàng “cuốc” sách của bộ giáo dục Việt cộng, thay vì quy hoạch theo vùng, nơi có các sắc tộc sinh sống để giúp bảo vệ tiếng nói của sắc tộc trong đất nước Việt Nam?

      Còn nếu như Ông cho rằng ông Bảo Giang là người ‘viết không có chứng cứ. Ông cứ viết là viết cho bằng đuợc, rất giống bài cùa báo Đảng‘ thì Ông hãy đặt câu hỏi, buộc ông Bảo Giảng phải giải thích, hoặc là Ông đưa ra bằng chứng là ông Bảo Giang đã viết cho bằng được ở chỗ nào?
      Học tiếng Tàu là thêm một ngoại ngữ cũng tốt, nhưng nâng lên hàng quốc sách trong lúc Tàu hăm he nuốt trửng VN thì không được, giúp nó đồng hoá dân tộc mình sao? Nhất là khi nhà nước VN không có một chính sách rõ rệt, mở cửa cho Tàu vào VN, nguy hiểm lắm ông ơi!

  7. Builan says:

    Muôn vạn LẦN, LỜI .. cảm ơn tác giả baì chủ

    BẢO GIANG ông là ai ? . Bạn đọc ai biết, xin làm ơn trả lời

    Thú thật : Tôi vứa đọc vưà RUN !

    - Làm sao giết hết tập đoàn Kiều Công Tiễn, Lê Chieu Thống cuả thời nay ???
    Không TRẢM hết thì là mất nược ! Nô lệ thuộc Tàu

    - Làm sao , làm sao !!! Khi QUÂN ĐỘI không cùng nhân dân cả nước baỏ vệ đất cuả bốn nghìn năm Tiên Tổ lưu truyền !
    Khốn thay , laị là công cụ tay sai cuả tâp đoàn Việt gian !!!!

    Bằng TIM ÓC cuả một trí thức- một NGƯƠI VN yêu nước, ông BAỎ GIANG đã vạch mặt chỉ tên ,- dẩn chứng bằng bao nhiếu chứng cứ hùng hồn !!
    Chúng ta phaỉ làm gì đây ???

    Thưa quý vị ” LTCM ” – NGUYỄN TRỌNG VĨNH TƯỚNG QUA^N !…..
    NGƯỜI có còn đủ dũng khí đứng lên phất cờ CỨU NỨỚC, CỨU DÂN..- cả nước cùng cưú nước tập họp quanh ngưòi (tôi tin như thế )

    - Hay đành đứng chung.. cho daì thêm danh sách Lê Chiêu Thống,……. ???

    Tôi kính trong, gơỉ niềm tin nơi NGAÌ
    Xưa khác chiên tuyến
    Nay chung một lòng ! Vượt qua, vượt qua.
    Cụ Giáp dù có lòng _ muốn ruã nhục cũng không làm gì được nưã ! Muộn quá rồi !!

  8. VôViNhiVôBấtVi says:

    Non mãi còn non, sông chảy xuôi…
    Giangsơn đấtnước, chuyện của người…
    Nghiệp hành tạotác do tâm chủ,
    Ai người cứu nước tùy duyên thôi…

    Dòng đời cứ thế… trôi!

  9. kbc 3505 says:

    Cám ơn bài viết rất hay và đúng lúc của tác giả Bảo Giang.

    Hy vọng bài viết sẽ được phổ biến rộng rãi để nhiều người Việt đọc và suy nghĩ.

    Vì con cháu của chúng ta mai sau, vì sự trường tồn của đất nước và dân tộc Việt Nam, xin mỗi một người con của đất mẹ hãy can đảm dứt bỏ mọi sợ hãi và quyền lợi cá nhân tiếp nối công việc dựng nước và giữ nước của tiền nhân.

    Kính,

    kbc3505

  10. Non Ngàn says:

    CHỦ NGHĨA MÁC

    Chủ nghĩa hay học thuyết Mác là chủ nghĩa quốc tế vô sản, tên thông dụng là chủ nghĩa cộng sản. Nếu chủ nghĩa Mác hoàn toàn đúng, chắc có lẽ mọi người đã theo hết, chắc có lẽ nó đã thành công từ tám hoánh rồi trên toàn thế giới. Thế nhưng sau bao cuộc cách mạng cộng sản đây đó trên toàn thế giới, sau bao hi sinh quá mức của số lớn nhân loại, sau bao cuộc chiến tranh tàn tệ, khốc liệt, sau bao chính sách chính trị kinh hoàng, cuối cùng ngày nay chủ nghĩa Mác đã thât bại, một phần thế giới cộng sản được thành lập trên thế giới nay cũng đã không còn. Điều đó chứng tỏ chủ nghĩa Mác hay học thuyết quốc tế vô sản là không thực tế, không hiệu quả, không đi đến kết quả. Vậy nhưng còn rất nhiều người vì lý do này lý do khác tới nay vẫn không thấy điều đó. Có nghĩa quan điểm của con người nhiều khi chỉ là quán tính, thói quen, cảm tính hay tình cảm nào đó mà chưa hẳn đã hoàn toàn lý tính hay tính chất hữu lý, hợp lý của nó. Vậy thì đấu tranh trong cuộc đời là đấu tranh về thực tế mà không chắc là đấu tranh về lý tưởng. Nói quốc gia hay quốc tế, dân tộc hay thế giới cũng chỉ là cách nói có giá trị đối với người hữu lý mà không giá trị đối với người phi lý, bất chấp lý. Tinh thần, ý thức quốc gia dân tộc là điều tốt, điều hoàn toàn thực tế, nhưng không phải ai cũng có. Thế cho nên cái sai đúng, hay dở ở đời là một điều vô cùng phức tạp. Không phải bao giờ lẽ phải hay chính nghĩa, tinh thần, ý thức chân chính vẫn luôn luôn thắng, mà có khi hay rất nhiều khi hoàn toàn ngược lại. Cho nên cái cao cả là điều đáng quý, còn thực tế kết quả trong cuộc sống ra sao còn tùy số đông con người có sáng suốt cũng như có sức mạnh thực tế lẫn sự hiểu biết hay không. Tinh thần yêu nước, yêu non sông không phải ai ai cũng có, tuy nhiên, non sông nhiều khi chao đảo, hiểm nghèo vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do sự không sáng suốt hay sự hèn kém của nhiều thế hệ, nhiều cá nhân có liên quan trong đó.

    Ngàn Khơi
    (13/4/12)

Phản hồi