|

Con đường phía trước [8]

Việc giảng dạy các bộ môn khoa học thành công chủ yếu là nhờ vào việc sử dụng các mô hình. Ngày nay trẻ em học lượng giác học bằng cách đo lường chiều cao của các ngọn núi thực. Chúng tập vẽ hình tam giác từ hai điểm chứ không phải là chỉ làm các bài tập trìu tượng. Hiện đã có nhiều kiểu máy điện toán chuyên dùng cho việc giảng dạy bộ môn sinh vật. SimLife, một trương trình phần mềm phổ biến , tái tạo sự biến hoá, vì thế trẻ em bắt tay vào thử nghiệm quá trình thay vì chỉ được giảng các sự kiện về nó. Không phải chỉ có trẻ em mới yêu thích chương trình này, một chương trình giúp cho bạn vẽ được cây cờ và động vật, và sau đó quan sát cách chúng tương tác và phát triển trong một hệ sinh thái cũng do họ tạo ra. Maxis Software, nhà xuất bản chương trình SimLife, cũng tạo ra một chương trình khác, SimCity.

Chương trình này giúp bạn thiết kế một thành phố với tất cả các hệ thống có liên hệ chặt chẽ với nó, như đường sá và vận tải công cộng. Là người tham dự trò chơi bạn có thể đóng vai ông thị trưởng hay là viên kỹ sư trưởng thành phố thuộc một cộng đồng thực tế nào đó, và thử thách chính bạn trong việc thoả mãn các yêu cầu riêng do bạn đề ra, chứ không phải những yêu câu giả tạo do người lập chương trình phần mềm tạo sẵn từ trước. Bạn xây dựng các nông trại, nhà máy, nhà ở, trường học, thư viện, bảo tàng, sở thú, bệnh viện, nhà tù, bến cảng, xa lộ, cầu cống, thậm chí cả hệ thống đường ngầm. Bạn phải đối phó với nạn dân số tăng vợt hay thiên tai, như họa hoạn chẳng hạn. Bạn cũng thay đổi địa hình. Khi bản bổ sung vào bản thiết kế thành phố được tái tạo bằng cách xây dựng phi trường hoặc tăng thuế, những thay đổi có thể tiên đoán được hoặc xảy ra một cách đột ngột trong xã hội được tái tạo của bạn. Đó là một phương pháp nhanh chóng và tuyệt vời để nhận biết cách thế giới thực hoạt động ra sao.

Hoặc bạn sử dụng sự mô phọng để nhận biết về những gì đang xảy ra bên ngoài thế giới này. Trẻ em có thể định hướng thái dương hệ hoặc dải ngân hà trong một con tàu vũ trụ tái tạo bằng cách đùa nghịch với trình mô phọng không gian. Đối với những em nào không thích môn sinh vật hoặc thiết kế thành phố hay không gian bên ngoài, có thể dùng trình mô phọng của máy điện toán để khám phá và kiểm nghiệm chúng. Khi các bộ môn khoa học này càng trở nên hấp dẫn hơn nhờ các phương pháp này, nó sẽ ngày càng thu hút đông đảo sinh viên hơn.

Trong tương lai, các sinh viên ở tất cả mọi lứa tuổi và thuộc mọi khả năng đều có thể tiếp cận và tương tác với thông tin. Ví dụ, một lớp học nghiên cứu về thời tiết có thể xem xét các hình ảnh của các vệ tinh đã được tái hiện dựa trên mô hình của điều kiện khí tượng theo giả thiết. Sinh viên sẽ nêu các loại câu hỏi như Điều gì sẽ xảy ra nếu … “Điều gì sẽ xảy ra với thời tiết ngày hôm sau nếu tốc độ gió tăng lên 15 mph ?”. Máy điện toán sẽ tìm kết quả dự đoán, hiển thị hệ thống thời tiết được mô phọng như nó xuất hiện trong không gian. Các trò chơi mô phọng sẽ trở nên tốt hơn, ngay trong điều kiện hiện nay nó cũng đã có sức quyến rũ và mang tính giáo dục cao.

Khi các chương trình mô phọng trở nên thực tế hơn, chúng ta sẽ tiến vào lãnh vực thực tế ảo. Tôi chắc rằng vào một thời điểm nào đó không xa, trường học được trang bị các thiết bị thực tế ảo, hoặc thậm chí cả các phòng thực tế ảo, cách mà hiện nay vài trường đã có các phòng âm nhạc và nhà hát để cho sinh viên khám phá các địa điểm, các vật hoặc một chủ đề theo phương thức tương tác và hấp dẫn này.
Tuy nhiên, công nghệ này sẽ không cô lập sinh viên. Một trong những kinh nghiệm quan trọng nhất trong công tác giáo dục là sự cộng tác. Trong một số trường học sáng tạo của thế giới, máy điện toán và mạng thông tin liên lạc đã thực sự thay đổi các mối quan hệ thông thường giữa sinh viên với nhau, và giữa sinh viên vơí giáo viên, bằng cách tạo sự dễ dàng cho quá trình công tác trong học tập.

Giáo viên trường Ralph Bunch ở khu Harlem đã tạo một bài giảng với sự trợ giúp của máy điện toán để hướng dẫn cho sinh viên trong nội thành của thành phố New York cách sử dụng mạng Internet để phục vụ cho việc học tập, để liên lạc với những bạn bè bằng thư điện tử trên khắp thế giới, và để cộng tác với các giáo viên tự nguyện ở gần trường đại học Columbia. Ralph Bunch là trong những một trường tiểu học đầu tiên của quốc gia đặt trong chuyên đề home page – riêng của nó trên World Wide Web của mạng Internet. Công việc của một sinh viên nằm trong home page của trường trên mạng Web, bao gồm cả các liên kết tới tờ nhật báo của trường, tới tác phẩm nghệ thuật của sinh viên, và một bài học về bộ ký tự Tây Ban Nha có minh hoạ.

Tuy chỉ mới là trường cao đẳng nhưng tất cả các cuộc nghiên cứu đều được thực hiện thông qua sự trợ giúp hết sức quan trọng của mạng Internet, tạo điều kiện dễ dàng cho sự cộng tác của các cá nhân với nhau. Từ trước đến nay, những cải tiến phát minh về máy điện toán luônluôn diễn ra tại các trường đại học. Nhiều trường đại học nay đã thành trung tâm cho các cuộc nghiên cứu bậc cao về công nghệ máy điện toán mới và nhiều trường khác vẫn duy trì các phòng máy điện toán để sinh viên cộng tác với nhau và làm bài tập về nhà. Ngoài ra, hiện nay đã xuất hiện những home page rất lý thú trên World Wide Web của mạng Internet với danh nghĩa thay mặt cho các trường đại học trên khắp thế giới. Một số trường đại học đã lập các mạng với quy mô nhỏ hơn. Tại trường đại học Washington, kế hoạch giảng bài tại lớp và bài tập về nhà được phát trên mạng World Wide Web. Các ghi chú về bài giảng cũng được công bố trên Web, một dịch vụ miễn phí mà chắc tôi sẽ rất thích thú nếu nó có trong những ngày tôi còn học đại học. ở những nơi khác, một giáo viên dạy tiếng Anh yêu cầu tất cả các sinh viên phải có địa chỉ thư điện tử và dùng nó để tham gia vào các buổi thảo luận trên mạng sau giờ học. Các thành viên của lớp được chấm điểm theo những đóng góp của họ trên mạng thư điện tử, cũng giống như những đóng góp tại lớp và kết quả của các bài tập về của họ vậy. Sinh viên đại học ở tất cả các nơi đều thực sự tận hưởng niềm vui của thư tín điện tử, cả trong lãnh vực giáo dục cũng như là phương tiện liên lạc với gia đình và bạn bè một cách hết sức kinh tế. Ngày càng có nhiều bậc phụ huynh của sinh viên đại học tham gia vào việc sử dụng thư điện tử đều đặn bởi vì đó là cách tốt nhất để liên lạc với con em họ. Thậm chí vài trường tiểu học cho phép các học sinh lớn tuổi hơn có thể ghi địa chỉ trên mạng Iternet. Ÿ Lakeside, trường học cũ của tôi, mạng của trường giờ đây được nối vào mạng Internet, giúp học sinh có thể truy nhập nguồn thông tin trực tuyến và trao đổi thư tín quốc gia và quốc tế. Gần như tất cả sinh viên của Lakeside đều có địa chỉ thư tín điện tử, và trong một giai đoạn điển hình 12 tuần họ đã nhận toàn bộ 259.587 thư điện tử – trung bình khoảng 30 thư trên một sinh viên mỗi tuần. Khoảng 49.000 thư điện tử là từ mạng Internet trong giai đoạn 12 tuần, và các sinh viên đã gửi khoảng 7200 thư điện tử. Vài thư điện tử liên hệ với các công trình nghiên cứu và các hoạt động của trường học bao gồm về các vấn đề thông tin trên mạng Internet của Lakeside. Lakeside không xem đây như là một sự lạm dụng về hệ thống thư tín điện tử, nhưng như là một cách thức khác để học hỏi

Nhiều sinh viên các trường trung học, như những sinh viên ở P.S 125 của New York, khám phá sự truy xuất từ khoảng cách xa có khả năng bởi các mạng máy điện toán có thể giúp họ học hỏi từ các sinh viên của các nền văn hoá khác nhau, và tham gia vào các cuộc tranh luận trên khắp thế giới. Nhiều trường học trong các tỉu bang và các đất nước khác nhau, đã liên kết với nhau và việc đó đôi khi còn gọi là vòng tròn học tập. Mục đích của hầu hết các vòng tròn học tập là nhằm giúp sinh viên nghiên cứu một chủ đề đặc biệt, và hợp tác với bạn học gần. Trong năm 1989, khi bức tường Berlin sụp đổ, sinh viên Tây Đức có thể thảo luận sự kiện với sinh viên của các nước khác. Một vòng tròn học tập về nghiên cứu công nghiệp cá voi bao gồm có các sinh viên Alaskanh Inuit thuộc bộ tộc EsKimo.

Một kế hoạch đầy triển vọng cho sinh viên sử dụng các mạng điện toán là GLOBE Project, một khởi đầu được thúc đẩy bởi Phó Tổng Thống Al Gore. Hy vọng rằng nó sẽ được nhiều chánh phủ tài trợ. Chương trình này yêu cầu học sinh các cấp cộng tác quốc tế về việc tập họp thông tin khoa học về trái đất. Trẻ em sẽ tập hợp các thống kê thường xuyên như nhiệt độ và lượng nước mưa, và chuyển tiếp chúng qua mạng Internet và các vệ tinh đến một cơ sở dữ liệu trung tâm National Oceanic và Atmospheric Asministration ở Maryland, ở đó các thông tin sẽ được sử dụng để tạo các hình ảnh phức hợp của hành tinh. Các thành phần cấu thành sẽ được chuyển tiếp trở lại cho sinh viên, cũng như đến các nhà khoa học và công chúng. Không một ai biết dữ liệu sẽ có giá trị khoa học như thế nàpo, nhất là khi những dữ liệu này được chính tuổi trẻ sưu tập, nhưng việc thu thập các sự kiện và xem các hình ảnh phức hợp sẽ là biện pháp tốt để trẻ em từ nhiều quốc gia có dịp cùng nghiên cứu. Khả năng giáo dục của xa lộ cũng được mở rộng đến sinh viên không chính thức của thế giới. Những người muốn học , dù ở bất kỳ nơi nào, đều có thể theo các khoá học tốt nhất được giảng dạy bởi các giáo viên nổi tiếng. Xa lộ sẽ thực hiện việc giáo dục cho người trưởng thành, bao gồm việc huấn luyện nghề nghiệp và các khoá học nâng cao tay nghề. Nhiều bậc phụ huynh, các nhà chuyên nghiệp, cộng đồng hoặc những người lãnh đạo chính trị sẽ có cơ hội để tham gia vào tiến trình giảng dạy, thậm chí chỉ một giờ. Điều đó rất thực tế, ít tốn kém và tôi nghĩ, đó cũng là nguyện vọng của họ muốn có dịp tham gia vào các thảo luận, qua các hội nghị video, từ gia đình hoặc văn phòng của họ.

Việc sinh viên được nối trực tiếp với các nguồn thông tin vô cùng phong phú và được liên lạc với nhau sẽ là điều đáng mừng cho trường học và cho xã hội nói chung. Tôi đã thảo luận vấn đề về nguyên tắc của mạng Internet. Liệu sinh viên có được mang theo máy điện toán xách tay của họ vào trong lớp học được không ? Họ có được phép khám phá một cách độc lập trong các thảo luận nhóm không ? Nếu thế họ được sử dụng chúng tới mức độ nào ? Họ có thể tra cứu một từ mà họ không thể hiểu hay không ? Họ có được truy xuất những thông tin mà cha mẹ của họ phản đối vì các lý do đạo đức, xã hội hoặc chính trị không ? Được phép làm bài tập về nhà đối với một lớp học không liên quan không ? Được phép gửi thư cho nhau trong lớp không ? Giáo viên có thể giám sát những cái đang diễn ra trên màn hình hoặc để ghi chép phục vụ cho việc kiểm tra lỗi sau này không ?

Bất cứ sự truy nhập nào đến những nguồn thông tin vô tận đó đều mang lại lợi ích hơn là tác hại. Trước đây khi còn đi học tôi yêu thích trường học nhưng niềm say mê nhất của tôi lại là các hoạt động ngoại khóa. Tôi có thể hình dung được những thay đổi mà các nguồn thông tin vô tận của xa lộ mang lại cho nhà trường. Xa lộ thông tin rồi đây sẽ điều chỉnh trọng tâm giáo dục từ các viện tới từng cá nhân.

Mục đích cuối cùng là nhằm thay đổi nhận thức học là để lấy chiếc bằng sang nhận thức học là niềm vui thích trong cả cuộc đời.

(Còn tiếp)

© Bill Gates

Đọc các chương trước:

Chương 1, Chương 2, Chương 3, Chương 4, Chương 5, Chương 6, Chương 7, Chương 8

Pages: 1 2 3 4

Phản hồi