|

Chuyện thường ngày ở tù [2]

Tiếp theo phần I

III. Chuyện tù

Trong số hơn hai mươi đội của trại, từ làm bạc, làm chiếu, chăn nuôi, trồng trọt v v. thì đội vệ sinh cơ quan là “mát mặt” hơn cả. Thực chất của đội này là giúp việc cho cán bộ, tất cả các giám thị từ cấp tá trở lên là có tù chăm lo mọi việc, từ ăn uống, quần áo, tắm giặt, tiếp khách v.v. Cứ 6 giờ sáng các “cháu” đã phải xuất trại ra giúp việc cán bộ, cho đến 8 giờ tối mới được về trại ngủ. Trưa nghỉ lại nơi làm việc, luôn gần sếp nên cũng “mát mặt”, mọi nhu cầu về điện thoại , thuốc thang, quà bánh, tiền nong đều được đáp ứng đầy đủ. Bình thường một tháng một lần những phạm nhân xếp loại cải tạo từ khá trở lên mới được gọi điện thoại về nhà. Tù đông, thời gian giám sát ít, nên xếp hàng chán chê mê mỏi, từ chủ nhật tuần này sang chủ nhật tuần sau mới đến lượt, đã thế mỗi người chỉ được gọi trong vòng hai , ba phút( có quản giáo ngồi kèm để kiểm soát nội dung cũng như ấn định cuộc gọi). Mỗi cuộc mất hai mươi nghìn đồng. Riêng cánh giúp việc cho cán bộ thì gọi xả láng, ngay trong phòng làm việc của sếp. Ngày nào “buôn dưa lê” cũng được, miễn là có đủ tiền để đấm mõm cho thủ trưởng trong những dịp lễ lạt đặc biệt

Trong khi cánh chị em bị cấm không được tha lôi bất cứ quả cây gì vào trong trại , từ mẩu sắn, miếng dứa ( sợ bị say, bị rắn độc ăn phải gây chết người như trước đó đã từng xảy ra) đến điếu thuốc, cái kẹo v.v thì tù lọai VIP này được quyền tha lôi đủ thứ, cả con ngan, chân giò, bún, phở vào trại để liên hoan vào thứ 7, chủ nhật v.v, nghĩa là ở ngoài xã hội có gì thì cánh tù này có nấy. Tất nhiên đám tù này phải bộn tiền, thường là dân tham ô, tham nhũng, có dính líu đến kinh tế hoặc dân buôn bán ma túy có bạc tỉ để nuôi thân, kê chỗ đứng trong tù từ 12-15 năm (trong mức án 20 năm hoặc chung thân) trong đám này điển hình phải kể đến chị Nguyễn Thu Hằng- vụ Thủy cung Thăng Long, Lã thị Kim Oanh (khoắng sạch 151 tỷ của các ngân hàng từ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, ngân hàng Quân Đội, Vietcom. Bank v.v), hay Lan tỉ (người vay tiền tỉ của ngân hàng để đầu tư nhưng không có khả năng giả nợ ) v.v những người này tuy phải bóc lịch trong tù nhưng vẫn là cỡ đại gia của tù …

Cổng trại tù Thanh Hóa (Ảnh được chụp trong lần một nhóm bạn hữu cùng LS Dương Hà tới thăm TS Hà Vũ)

Cãi cọ chí chóe trong nhà mét chưa đủ, ào ra giếng múc nước rửa mặt lại cãi cọ tiếp. Suốt ngày tai tôi cứ vang lên đủ mọi tiếng chát chúa ù tai, lộng óc:

- Đ.m con nào, thằng nào trút mất xô nước của bà rồi? Tối qua trước giờ điểm buồng bà vội quắn đít lên vẫn nghiến răng nghiến lợi kéo cho được thùng nước sâu hun hút để sáng nay có cái rửa mặt. Vậy mà bố mày vừa ở trong nhà mét ra, đã cạn tận đáy rồi? Mả bố nhà chúng mày chứ, từ xưa đến nay bố chúng mày ăn mặn hay sao mà đến đời này chúng mày khát nước hở? Đ.mẹ chúng mày! Có khát vào nhà mét múc nước dội vệ sinh lên mà uống nhớ, đừng có ăn trộm của bố mày như vậy…Bố mày mà có thời gian bỏ công ngồi rình bắt được thì bố mày đấm cho hộc máu mồm ra, nhét cứt đầy miệng nhớ, mả bố chúng mày…

Bao giờ cũng vậy, cứ chạm vào những tiếng mạt sát chửi bới, nguyền rủa nhau của lũ bạn tù là tôi lập tức chúi vào hàng cau trước cửa, nơi có 11 gốc cau chạy dài sát tường, phía dưới là thảm cỏ xanh mềm như nhung, xung quanh là hàng hoa tóc tiên mềm mại nở những bông hoa bé xíu tươi tắn với cái tên kỳ dị là “hoa báo bão”( hễ hoa nở là y như rằng bão đến). Đó là tất cả công việc của tôi khi chuyển khỏi xưởng bạc và đội trồng rau sang đây. Giữa cuộc sống xô bồ, nhộn nhạo và triền miên bế tắc, tôi chỉ còn một cách duy nhất là lấy lại sự thăng bằng từ cỏ cây hoa lá. Để mặc mọi lờì chì chiết trong buồng, ngoài giếng, khu lều phía sau, tôi ngồi bình thản tưới hoa, ngắt lá sâu già, nhổ các cọng cỏ dại khác loại…Hết việc lại ngồi ngẩn ra ngắm từng bông hoa cau mới nở bé xíu như chiếc cúc áo màu trắng, phía dưới là màu xanh mướt mát như một tạo vật kỳ diệu của thiên nhiên … Hết ngày này sang ngày khác , từ sáng đến chiều, tôi ngắm hoa, ngắm lá, lắng nghe hơi thở của tự nhiên và để hương thơm từ mỗi cánh hoa lan tỏa vào tâm hồn mình. Cho dù cỏ cây hoa lá không đưa tôi vào cõi mộng được thì chí ít cũng giúp tôi ra khỏi cảm giác ngột ngạt, khó chịu, tâm hồn được giải tỏa, tiềm thức trở nên thanh thản theo sự bung nở tận lực của mỗi cánh hoa nở hết đường biên, cùng sự cần mẫn kỳ ảo của cả bầy ong đi hút mật phía trên (nơi ngọn cau) và phía dưới (nơi hoa tóc tiên bừng nở những bông hoa màu hồng hệt như những ngôi sao vừa từ bóng đêm trên bầu trời lạc xuống). Cứ thế tôi chìm đắm miên man theo những suy nghĩ vô định về cây, về hoa cùng các hiện tượng thiên nhiên, cho đến khi cả nghìn con người xuất khỏi trại. Cả dãy nhà vắng lặng, chỉ còn tôi– với nhiệm vụ chăm sóc cau và hai chị trực buồng ở lại lo cơm nước cho cả phòng , mới lẳng lặng vào lục đồ ăn sáng, đọc báo do gia đình gửi vào, rồi xuống canteen mua rau về nhặt, rửa, chuẩn bị cho bữa trưa. Ngoài xuất cơm hẩm của trại ra tôi không động đến bất cứ một thứ gì khác vì thịt lợn trại nuôi theo kiểu siêu mỡ, chỉ cánh chị em tù đói ăn hoặc bụng dạ tốt mới sài được theo tiêu chuẩn một tuần 3 bữa. Còn cá , bé bằng nửa bàn tay, tanh ngòm, dân trong trại toàn gọi là “cá chưa mở mắt”, “cá giống” hoặc “cá chưa kịp làm giấy khai sinh”. Mỗi tuần một lần được một bữa ăn tươi như vậy, chỉ cần nhìn đã thấy trắng ởn, tanh xóc óc, còn khổ hơn cả thời bao cấp vì tuy là cá mè ranh, nhưng qua chế biến đủ lửa, nêm đường, gừng, hạt tiêu, trông còn bắt mắt, thơm tho. Còn ở tù, sống sít mặc bay, miễn là đủ bữa…Rau cũng vậy, cả trại có tới 3,4 đội trồng rau nhưng rau non thì để giành riêng cho cán bộ, rau già mới đến lượt tù xơi. Mỗi ngày xe bò lớn, xe bò nhỏ chở cả đống dây rau muống vào trại, ấp vào một xó, đến bữa mới lôi ra, vứt vào bể nước, tháo nước vào đầy bể rồi dùng đòn gánh chọc chọc nguấy nguấy vài ba lượt vớt ra, thả vào chảo nước sôi, khoắng khoắng vài lần, chờ sôi là bắc xuống. Vì thế khi chia đều vào các xoong cho các buồng, còn nguyên cả rác, lá vàng, lá sâu, thậm chí các loại côn trùng như giun dế, cuốn chiếu còn nằm nguyên trong đó…Nước đục ngầu đến mức tôi không dám gắp, dù cổ họng khát khô, cần nước uống cũng phải nhắm mắt đổ đi …

Sau 5 tiếng cải tạo ngoài xưởng, 11 giờ 30, các đội lại lục tục trở về, lại những tiếng chửi rủa cạnh khóe, điên l. ( thay vì ở ngoài đời vẫn nói là điên đầu ) hàng trăm con người chen chúc cúi đầu tranh giành nhau từng cen ti met trên thành giếng bé tí, đường kính không nổi 1 mét để múc nước lên rửa mặt, gội đầu, thay giăt…cứ tay nọ chạm tay kia, xô chậu va nhau tung toé, cho đến 1 giờ 30 xuất trại. Thềm giếng bị nứt nên bao nhiêu chất thải trên mặt đất từ nước tiểu, nước giặt quần áo, xà phòng, nước rửa rau rồi nước đánh răng rửa mặt v.v đều bị thấm ngược vào lòng giếng, chưa kể khăn mặt rơi, gầu sắt, gầu nhựa, mắc áo xích sắt, khóa sắt( buộc vào gàu cho nặng để dễ chìm, dễ múc) lá rụng, bụi bẩn v,v…tất cả tích tụ trong lòng giếng từ năm này sang năm khác, bùn đọng hàng mét. Mỗi lần mưa gió, động trời là nước sủi bong bóng trên bề mặt, đen ngòm, tanh tưởi

Chiều về, sau bốn tiếng vật lộn, chạy theo mức khoán cao tót vời : 250 bộ quần áo một ngày/một đội ( năm mươi người), 350 tờ bạc một ngày một người, (nhân thành sáu ô bạc con là 2.100 ô). Hai mươi hai ô thêu một ngày, một người…Mệt lử, đói khát, ra đằng sau bê hòm tìm thức ăn thì hòm cũng chất cao như núi vì không có chỗ để. Tuy quy định mỗi người chỉ được sử dụng một hòm đựng chăn màn, quần áo, thức ăn, nhưng lều trại qúa chật nên năm , bảy thùng phải chồng lên nhau, người ở trên bê xuống cũng thót bụng mà bê, người ở dưới còn phải nhấc lên nhấc xuống năm , bảy lần mới đến lựơt mình. Lấy được tí thức ăn ra lại phải bê lại như cũ cũng tướt bơ. Chưa kể nạn trộm cắp trắng trợn, đồ dùng, quần áo, thức ăn vừa kịp bỏ ra, còn đang loay hoay đóng khóa hòm rồi trả các thùng của mọi người nằm ở phía trên mình về chỗ cũ, quay đi quay lại, mệt lử người, mà vừa thoát ra khỏi đống thùng hòm trong dãy lều trại đã chẳng thấy mấy thứ mình vừa bỏ ra ở đâu? Thế là cất mồm chửi, chửi từ mờ tối tới khuya, từ khuya tới sáng. Trừ khi đi ngủ, đi cải tạo ra, còn lại cứ hễ về đến buồng , nhớ ra lại chửi. Một mất mười ngờ, chửi rủa, cạnh khóe hết người nọ người kia, loạn từ đấy mà ra.

IV.Bãi tắm tự nhiên:

Có lẽ trong trại tôi là người bị mất nhiều nhất, phần vì được gia đình quan tâm chu đáo, phần vì đuểnh đoảng, để đâu quên đấy, thậm chí không nghĩ mọi sự lại kinh kiếp đến mức ấy…Chiếc nón đội trên đầu vừa kịp mua 60.000 một chiếc, chỉ quanh quẩn ra giếng, xuống canteen, hoặc ngồi chơi nơi bờ tường cạnh hội trường, để ngay dưới chân, quay đi quay lại đã mất, dù cái tên Trần Khải Thanh Thủy dài thoằng, to tướng, tưởng nó có muốn lấy, nhưng còn cái tên đặc biệt như thế thì giấu đi đâu được? Vậy mà mất vẫn hoàn mất, năm lần bảy lượt như vậy. Tên thì chúng nó dùng bút xóa đi, viết lại tên khác vào, quai nón thì thay bằng quai khác rồi đem ra ngoài đội, hoặc xưởng mới dùng, chẳng ai biết đấy là đâu, cũng chẳng ai biết đâu mà lần… Bút xóa tôi để trong túi áo trại, treo ngay trên thành cửa sổ, chỉ ngồi thụp xuống xem bạn tù đan quạt mà chưa đầy năm phút đã không cánh mà bay. Xà phòng thơm, nước mắm, mì chính, thức ăn để trong xô nhựa có đậy nắp đàng hoàng, cất kỹ trong lều chung của trại mà tờ mờ sáng hôm sau mở xô ra, tất cả đã bốc bay như có phép lạ… Quần áo, bít tất phơi ở dây mà không ghi tên, đánh dấu cũng bốc bay mất tăm mất dạng… hai mốt tháng trời, tôi không biết mình mất bao nhiêu bít tất, xà phòng , bánh trái vì nạn trộm cắp trong trại nữa?

Tắm giữa giếng sâu hun hút, hàng nghìn người tồng ngồng chen chúc bên nhau nơi bờ giếng múc nước tắm… Những bộ ngực đen đủi, lép kẹp, chảy dài thõng thượt như những túi đựng bùn nhão nhoẹt phơi ra giữa thanh thiên bạch nhật, cũng là phơi ra trước mắt bạn tù. Tất cả như một cái trại nuôi súc vật khổng lồ, ồn ào, chen lấn, mắng chửi nhau trong một khoảng thời gian và không gian vô cùng chật chội, eo hẹp, để còn kịp giờ điểm buồng, nhốt phạm…

Thời gian đầu tôi xấu hổ không sao dám hòa mình vào đội quân ô hợp khổng lồ ấy, cứ chúi vào sau cánh cửa buồng, trong nhà mét* để tắm, mặc mọi người đi qua đi lại, “bỏ của” thối um cho mình ngửi, rồi bị bạn tù mắng sa sả vì tội xấu hổ không phải lối, tôi đành phải trưng ra giữa thanh thiên bạch nhật với câu châm ngôn bất hủ để làm quen, xã giao cũng là đỡ mặc cảm xấu hổ:

- Ôi dào, đấy đâu phải sự bày biện lăng nhăng
Tạo hóa chưa bao giờ hùng hồn đến thế

Hoặc:

- Xin chào bãi tắm tự nhiên! Xin chào các bạn!

Thôi thì đủ mọi thành phần lớn bé già trẻ, mười tám, đôi mươi hơ hớ xuân thì phồn thực cũng có mà bảy nhăm, tám mươi gần đất xa trời cũng có. Từ vú mướp, vú bánh dày, vú cau vú dừa…tất tật phơi ra, trưng ra dưới ánh nắng mặt trời, mặc các chú “choang” đứng gác trên bệ cao phải quay mặt đi, đầy tiếc rẻ…

Buổi tối là thời điểm vui vẻ nhất của trại, ngồi bệt xuống đất rồi, không còn gì phải gìn giữ, nên cánh bạn tù thường rất thích hát những bài nhạc chế. Thay vì nhạc đỏ phải nghe mãi rồi, bị đầu độc chán chê mê mỏi rồi, nên để thay đổi không khí môi trường tù túng trong tù, mỗi người từ ngày còn bị tạm giam ở Hỏa Lò hay Cầu Cao- Thanh Hóa, Trần Phú- Hải Phòng , Hang Son- Quảng Ninh đều giữ cho mình một bộ sưu tập các bài hát về đời tù. Bản thân tôi là người thấy rõ cái hay, cái bổ ích, độc đáo của thể loại ca tù này nên đã cất công chép lại không dưới 50 bài. Vậy mà ra đến cổng trại để bay sang đất Mỹ đã bị lũ công an đảng, thực chất là bọn “đâm thuê chém mướn” theo lệnh đảng tịch thu hết cả, giờ ngồi lại chỉ nhớ câu được câu chăng:

Khi biết em mang kiếp cầm cu, đêm đêm phòng mờ dâng thân xác cho mọi người bỏ tiền mua dâm thì hỏi anh ơi, còn yêu em nữa không?

Đừng nói thế em ơi, xin đừng nói thế làm gì, anh biết rằng đời đàn ông vẫn thế, cũng mua dâm như em đã từng than…”

Góc này chưa dứt, góc kia đã cất lời, không phải để cho ai nghe mà chủ yếu tự làm mềm lòng mình, sau một ngày cải tạo cật lực:

“Con nằm đây, bạn bè con cũng nằm đây, đói rách xác xơ thân gày cùng chung một kiếp tù đầy. Con nằm đây, ngày ngày cơm không đầy chén, chiều chiều trông theo đàn én, đớp mồi vỗ cánh bay đi

Toa dồn toa, tù vào không có tù ra, nối tiếp dắt tay ra tòa, cùng chung một kiếp xa nhà

Trăng mờ soi, trăng mờ trăng soi buồng tối, đường đời con đi lạc lối nên bị chúng bắt vô đây

Dòng suối mắt, xót xa tình mẹ thương con, mẹ thương con đọng đầy hai khóe mắt …”

Bài hát này chưa kịp dứt thì góc phòng phía bên kia lại một giọng lanh lảnh cất lên theo giọng “cô gái vót chông”:

“Cô ơi cô lấy chồng đi cô, mai mốt đây nhà nước phân công, ba ,bốn cô phải lấy một chồng, đi ra phố mà tranh cướp nhau

Còn Khải, Triết, Thọ, Ba, cô phải nhanh tay lấy, không mai sau nghị định* rồi, trai làng ta vào tù, vào trại giam…”

Không cần ai hưởng ứng, từ trên “gác” lại một giọng ông ổng cất lên:

Gió bấc thổi bay mất quần của em, anh bắt được thì cho em xin, quần này của bà già, ống rộng một gang tay, chiều dài một mét mốt, dây rút bằng thừng

-Ơ đã có quần đùi, anh giữ lại làm chi anh ơi?

-Quần đùi thì quần đùi, giữ lại để làm tin, ngày về còn kiếm cớ, dấm dớ, nhập nhằng

-Ơ! Xin hãy trả quần cho em, anh ơi, ngày về thì còn dài, lấy gì mà che thân, ngoài trời còn buốt gía, gió bấc tràn về…”

Vài tiếng cười hề hề phụ họa, đám bà già con trẻ như được tiếp thêm sức mạnh lại ông ổng hát:

Khi bố chồng phải lòng con dâu

Sáng nay bố đến nhà con, chồng con thì đang đi vắng , tính con thì hay yếu lòng, tang tình tang tính tính tang.

Ơ tang tình là tình tang tang…

Bố ơi sao bố nhìn con, nhìn con mà không chớp mắt , khiến con một giây ngã lòng, thôi rồi thôi thế là thôi

Ơi ơi giời là giời giời ơi…

Bố ới xin bố đừng sang , chồng con là hay ghen dữ, lỡ may mà con có bầu, con còn biết nói làm sao ?

Hết chương trình “ca nhạc” tự tạo, cây nhà lá vườn là lúc đồng hồ điểm 9 giờ, giờ vàng chiếu phim hay ,hot trên vô tuyến, tất cả lần lượt ngồi dạy để xem, số ít buồn ngủ sớm thì kéo bễ từ lúc 8 giờ

Xem hết phim tàu lại phim Hàn, phim Việt Nam, đến 11 giờ thì phòng nào phòng nấy tắt ti vi, đóng cầu dao miệng lên bệ nằm thiếp đi đến sáng, kết thúc một ngày cải tạo dài dằng dặc nhưng yên ả. Nhiều buồng ,nhiều đêm có người ốm phải đi cấp cứu là tất cả la như cháy đồi, người khiêng, kẻ xốc, chờ cán bộ vào mở cửa dắt díu nhau lên trạm xá rồi lại dắt díu về…lục đục, rên rẩm hết đêm

5 giờ sáng hôm sau, một vòng quay nghiệt ngã, ô trọc lại bắt đầu …

Trại 5 – tháng 6/2011

Sacramento tháng 4-2012

© T.K.T.T

© Đàn Chim Việt

————————————————-

*Nhà mét: Thực chất là nhà vệ sinh , gồm một bể nước và hố xí hai ngăn, vì diện tích chỉ vẻn vẹn một mét nên tù gọi chệch là nhà mét cho dễ nhớ, đỡ mất vệ sinh

* Nghị định 31CP của thủ tướng Võ văn Kiệt: “Mỗi quận huyện được phép xây mới một nhà tù hoặc trại tạm giam”, nâng tổng số các nhà tù và trại tạm giam lớn nhỏ ở Việt Nam lên gần 900 cái. Trong khi các trường Đại học, cao đẳng, dạy nghề các loại là 372 trường.

6 Phản hồi cho “Chuyện thường ngày ở tù [2]”

  1. xoathantuong says:

    Trần Khải Thanh Thủy bây giờ ở Mỹ. Tội nghiệp. Giờ TKTT có muốn yêu bác Hồ, mang bác Hồ theo người nữa cũng khó. Giờ TKTT bị bó buộc phải yêu các bác của bọn đế quốc xâm lược, bọn sen đầm quốc tế: Washingtons, Jeffersons, Lincolns,… Tội nghiệp!

    Trong đầm gì đẹp bằng sen
    Việt Nam đểu nhất có tên Bác gì?

  2. Thanh Hà says:

    Thế à, tôi lại thấy 400 đồng bào ở nam cali đón tiếp TKTT hết sức cảm động ( do Việt Tân tổ chức) kẻ chửi chị Thủy chắc là CAM rồi( công an mạng ) hay kẻ tự xưng là người Việt Hải ngoại này là cộng sản nằm vùng ăn cơm thừa canh cặn của công an.
    Sự thực chị TKTT đúng như anh Non Ngàn nhận xét. Xin cám ơn anh Non Ngàn vì đã nhận xét khách quan về bài viết vủa chị Thủy về nhà tù xã hội chủ nghĩa

  3. Thanh Hà says:

    Thế à, tôi lại thấy nhà văn TKTT được 400 bà con Nam CaLi đón tiếp hết sức nồng hậu( do Việt Tân tổ chức). Kẻ nào mắc chứng tâm thần mà đi chửi chị Thủy thế nhỉ, bọn CAM chăng( công an mạng), chứ Người Việt Hải Ngoại nào mà lại thú tính như CAM thế nhỉ. Xin lỗi nhé, bà TKTT chỉ có 1 bộ mặt như anh Non Ngàn từng nhận xét rất khách quan. Cám ơn anh Non Ngàn đã bày tỏ những suy nghĩ thật xúc động của mình

  4. Ngàn Khơi says:

    THẾ GIỚI TỘI TÙ

    Thế giới tội tù là một mô hình, một tiểu thế giới, một thế giới thu nhỏ của xã hội loài người, nhưng là một thế giới tệ hại nhất, xấu xa và thấp kém nhất. Bài viết của nhà văn nữ Trần Khải Thanh Thủy rất gợi tả, súc tích, sâu sắc, rất hay, tức rất văn chương và rất thấm thía. Nhớ có một thời kỳ nào đó, những người gọi là cách mạng, có tinh thần và tư tưởng cách mạng từng tưởng rằng chế độ lao tù thời Pháp thuộc là chế độ cuối cùng trên đất nước khi cách mạng thành công. Cuối cùng nó không phải như vậy. Ở mọi nước, trên toàn thế giới hay trong thế gian này không khi nào có nhà tù cuối cùng như người ta đã lầm tưởng, hoặc hăng hái đấu tranh để nhằm thực hiện. Điều đó cũng giống như khi một người đã ăn xong, chùi miệng, thế là lại nghĩ khác, hành động khác khi hồi chưa ăn. Chỉ thế thôi. Và cuộc đời lại vần xoay hay tiếp tục chẳng có gì là khác cả. Cái ảo tưởng của con người chính là như vậy, và sự tuyên truyền giả dối của con người đối với con người cũng chính là như vậy. Nói chung ngay từ thời cổ đại đã có chuyện nhà tù và chuyện giải phóng lao tù hay nhân ái hóa lao tù. Song đến ngày nay chỉ có những nước có nền văn minh và kinh tế phát triển mới phần nào làm được điều đó. Cho nên cảnh tội là điển hình nhất cho câu nói người là chó sói của người. Câu này danh tiếng là do một nhà tư tưởng bi quan và tiêu cực nói ra điều ấy. Nhưng sự bi quan và tiêu cực đó không phải không có cơ sở khách quan, tự nhiên của nó. Câu chuyện của nhà văn và cũng là nạn nhân Trần Khải Thanh Thùy viết ra, chẳng qua là một minh họa thực tế hết sức sống động và phong phú về điều mà một nhà tư tưởng nổi danh ngày xưa cũng đã khái quát hóa hay tổng kết có phần nghiệt ngã nhưng không phải hoàn toàn bịa đặt hoặc vô lý. Nên thế giới tù tội không chỉ là thước đo cho tâm lý tự nhiên của con người, mà nó cũng còn là thước đo dành để lượng giá đối với kẻ cầm quyền, hay cho một chế độ, một thời đại nào đó đã mang theo trong mình nó về chính những thực tế không được cải thiện hay tồi tệ đó, mà đáng lý ra chính bản thân nó cần phải trước hết cải thiện khi lên cầm quyền, nhằm để chứng tỏ tính khách quân tốt đẹp hay không tốt đẹp gì của nó, chính là như thế đó. Giá trị lời kể của tác giả Thanh Thủy trước hết cũng là giá trị khách quan và chính xác về những điều gì mà chính tác giả đã từng thật sự trải nghiệm và viết ra đúng y như vậy.

    Non Ngàn
    (23/4/12)

  5. Người Việt Hải Ngoại says:

    Thêm nữa 1 bộ mặt lừa đảo của đảng Việt Tân . Hãy xem Video :TKT Thủy bị chửi ở Nam Cali. thì rõ .

    • NguườiViệt TNCS says:

      Xin cho biết chị TKTT là chi TKTT sao cái thàng nào con nào làm videó ở Nam Cal chưởi chị Thủy vậy .Hay là chưởi đảng Việt Tân,đảng giúp chịqua TNCS ở Mỷ. Như vây VT lừa đảo ai ,lừa đảo cái gì ? Và lừa đ3ảo như vậy thì được cái gì ? Bọn CS lừa đảo người dân nhẹ da nên bị mất nước về tay chúng ,bọn HCM và đảng CS lừa đảo thanh niên và dân thường “vượt trường sơn ” để bây giờ hởỉ ôi!Thì ra đổ xương máu cho đảng cướp,bọn lưu manh,để chúng phản quốc ,bán nước cầu vinh ?
      Người Việt TNCS là nhửng người dứt khoát vớí chế độ CS (mới gọi là TN) không còn quê hương vì quê hương còn dưới sự cai trị của giặc thù ,nên hầu như ai củng nhận nước mình định cư cố định là quê hương của mình,cho nên không xưng danh là người viết hải ngoại (người việt nước ngoài) Chỉ có bọn CS ra nước ngoài gỉả danh.hay làm việc cho chúng mơi
      xưng là người Việt hải ngoại (vì chúng còn về quốc nội là thiên đường CS của chúng nửa )
      Kết luận :nhửng kẻ chửi VT và TKTT không ai khác hơn là bọn CS được gài qua phá hoại sự đoàn kết của CĐ ,thực thi NQ 36 của đảng CS bán nước…(NVTNCS)

Leave a Reply to xoathantuong