|

Từ Chủ nghĩa Thực dân đến Chủ nghĩa Dân tộc sang Chủ nghĩa CS [2]

Tiếp theo phần I

Thực dân Pháp ở Hà Nội. Ảnh thanglonghanoi.gov.vn

Từ Chủ nghĩa Thực dân đến Chủ nghĩa Dân tộc sang Chủ nghĩa Cộng sản với chính sách Tự-Thực-dân (Auto-colonization) và chính sách Bên Lề (Marginalization)

Phong trào giải thực trên toàn thế giới

Cuộc khủng hoảng chủ nghĩa đế quốc thuộc địa ở Việt nam xảy ra ngay từ những năm 1932-1939. Toàn quyền Albert Sarraut viết năm 1931 như sau, “Vấn đề khủng hoảng thuộc địa xảy ra ở các nước thuộc địa của Pháp trong đó có Việt Nam. Đó là một khủng hoảng kéo dài và có tính cách toàn cầu.”

Khủng hoảng thuộc địa có thể do sự suy yếu của các nước đế quốc có dính dáng đến chiến tranh thứ nhất và nhất là chiến tranh thế giới thứ hai. Kể từ 1940, các nước đế quốc thực dân như Anh, Pháp không còn khả năng duy trì được quyền kiểm soát các nước bị trị như trước nữa.

Đó là thời kỳ khủng hoảng của chủ nghĩa thực dân.

Họ mất tư thế chủ nhân ông trên các nước bị trị. Người Nhật làm chủ Đông Nam Á tuyên truyền chủ nghĩa Đại Đông Á chống lại các nước đế quốc Âu Châu.

Những hình ảnh mà David G. Marr thu thập được cho thấy cuộc đảo chính Nhật ngày 9 tháng 3 là một nỗi nhục cho người Pháp. Đông thời chứng tỏ cho người dân bản xứ thấy rằng người Pháp không phải là không có thể bị đánh bại như người ta tưởng.

Đó là hình ảnh binh lính Pháp quỳ trước cổng sở hành Chánh tài chánh, trên con đường Đôi, đối diện nhà thờ Cửa Bắc, Hà Nội và hình các tướng lãnh Pháp như tướng Mordant, tướng Aymé, các ông Gautier, Chauvet,… tháng tư, 1945 ngồi xếp hàng trước quân đội Nhật. (Trích David G. Marr, Ibid, trang 58, hình 4 và trang 63 hình 5).

Các nước thuộc địa lợi dụng tình trạng rối rắm của các nước đế quốc đã đứng lên đòi quyền tự trị và độc lập dân tộc.

Năm 1942, khi người Mỹ đổ bộ lên Bắc Phi thì đó là một cuộc Giải Thực một cách êm thấm. Dân Bắc Phi đã gián tiếp được người Mỹ giúp loại người Pháp ra khỏi Bắc Phi.

Vì thế, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai thật sự phải được nhìn lại ở hai mặt. Nó mang hai ý nghĩa lịch sử tầm vóc:

- Một mặt giải giới phe trục Đức, Ý, Nhật là điều chính yếu và lịch sử thế giới hầu như chỉ chú trọng vào điều này.

- Nhưng mặt ít ai nói tới là chiến tranh thế giới thứ hai là cơ may sống còn giúp các nước bị trị giải giới các nước đế quốc chủ nghĩa thực dân.

Hiến chương Đại Tây Dương tháng 8, 1941 đưa ra nguyên tắc nền tảng cho hòa bình thế giới là “Quyền của mỗi dân tộc chọn một hình thức chính quyền mà theo đó mà họ sống.”

Nguyên tắc đó cũng gián tiếp loại trừ tất cả những hình thức áp đặt của chủ nghĩa thuộc địa.

Người ta nhận thấy một bình minh hy vọng của các nước nhược tiểu với phong trào giải thực xảy ra trên toàn thế giới từ Á Châu sang các nước Á Phi rồi Phi Châu da đen.

Đó là một xu thế thời đại như hướng đi lớn của lịch sử con người. Phong trào giải phóng dân tộc và chủ nghĩa Quốc Gia (Nationalisme) đã làn tan băng chủ nghĩa thuộc địa trên thế giới.

Nhiều quốc gia đã thoát khỏi tình trạng lệ thuộc của ngoại bang đi đến sự tự trị. Đó là trường hợp của hầu hết các nước Á Phi đã được giải thoát khỏi tình trạng bị trị. Đặc biệt có 49 nước thuộc khối Phi Châu mà nhiều nước được tách rời ra và nay trở thành một nước tân Lập.

Cả hai bên -đế quốc và thuộc địa- đã tránh được những tranh chấp bằng quân sự làm tốn hao đến sinh mạng của người dân.

(Xem thêm Culture and Imperalism, Edward W. Said, trang 197-199)

Nói đúng ra, có hai hình thức giải thực. Một kiểu mẫu giải thực của Anh Quốc có tính cách chuyển tiếp, không bạo động (non violent) và hình thức của Pháp, có bạo động (violent) như đã xảy ra ở Việt Nam và ở Algérie.

Để kết thúc các chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới John Strachey đã viết một cuốn sách nổi tiếng nhan đề The end of Empire cho thấy chủ nghĩa đế quốc coi như cáo chung. Nhưng cái sai lầm là ông đã dựa trên quan điểm Mác Xít Cộng sản như phương tiện chính thống để đánh phá chủ nghĩa thực dân thay vi` coi chủ nghĩa Dân tộc là nguyên do chính của công cuộc giải thực trên toàn thế giới.
(The end of empire, John Strachey, tháng 2, 1960 nxb Socialist Review.)

Bài học Việt Nam, kinh nghiệm giải thực thông qua chủ nghĩa cộng sản

Chủ nghĩa cộng sản chỉ thật sự phát triển mạnh sau thế chiến thứ hai. Sự phát triển này không do các các cuộc cách mạng cộng sản trên toàn thế giới như sự rêu rao của cộng sản.

Nói cho cùng, Chủ nghĩa Cộng sản Quốc tế chỉ đến thay thế chỗ của chế độc tài Phát Xít sau khi Đức bại trận.

Độc tài cộng sản ở 8 nước Đông  đã làm các các nước này rơi vào tình trạng kinh tế tụt hậu so với các nước Tây Phương.

Đó là số phận dành cho các nước Đông Âu như Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Bulgary, Albania, vv…

Ở Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản thành hình và phát triển mạnh mẽ từ đầu năm 1950 khi có sự ủng hộ, tài trợ của các nước Trung Cộng, Liên Xô cho Hồ Chí Minh.

Chính vi` thế, khi so sánh công cuộc giải thực trên toàn thế giới, người viết có một ám ảnh khôn nguôi đặt ra câu hỏi là: tại sao chỉ có mình Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới phải “trường kỳ chiến đấu- 10 năm, 20 năm, 30 năm nếu cần- để đạt được độc lập dân tộc?

Câu hỏi được dặt ra ở đây là về phương diện lịch sử, Việt Nam có nhất thiết cần đến hai cuộc chiến tranh để dành được độc lập và tự do dân chủ không?

Phải chăng người cộng sản đã cố tình che đậy thực chất của hai cuộc chiến tranh ấy nhân danh chiêu bài chống thực dân Pháp năm 1946-1954 và đồng thời chống thực dân mới năm 1954-1975 là người Mỹ?

Nhìn lại cho thấy người cộng sản đã hầu như phủ nhận xu hướng giải thực trên toàn thế giới. Họ có mục tiêu chiến lược riêng của đảng cộng sản Đông Dương?

Hay chỉ vì người cộng sản không phải là đối tác chính thức ký kết bản thỏa hiệp nên bằng mọi giá họ phải phủ nhận Hiệp Hiệp định và gán cho Bảo Đại vai trò bù nhìn của Pháp. Phải chăng Bảo Đại là người hớt tay trên họ?

Bảo Đại khi ký hiệp định Élysée cũng đã kỳ vọng vào xu hướng giải thực đang diễn ra tại các nước lân bang như Ấn Độ. Hiệp Định Élysée được ký kết giữa Pháp và Bảo Đại ngày 8/3/1949 -mặc dầu không phải là một Hiệp ước trọn vẹn- vẫn là một giải pháp giai đoạn cần thiết trong tiến trình Giải Thực như Bảo Đại nhìn nhận trong Hồi Ký:
Từ đây trở đi tôi đã thu hồi được đất Nam Kỳ, tôi coi như nhiệm vụ của tôi về điều đình đã chấm dứt. Sau nữa, thỏa hiệp này trước mắt tôi chỉ là một Giai Đoạn để tiên tới độc lập hoàn toàn.. Sự thành đạt về độc lập như thế đã xảy ra cho các nước lân cận ở Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Miến Điện, Ấn Độ làm tôi càng tin tưởng trong hy vọng. Tôi tin tưởng rằng thỏa ước mùng 8 tháng ba, 1949 phải là yếu tố nhất định đưa đến vãn hồi hòa bình. Hỏi Việt Minh còn có thể đòi hỏi gì nữa khi tôi đã thành công, mà họ thì bị thảm bại ở các Hội Nghị Fontainebleau và Đà Lạt vào năm 1946”.
(Trích: Le Dragon d’Annam, Bao Dai, trang 219)

Chú thích: Hội Nghị Fontainebleau ở Đà Lạt thất bại vì thái độ của Pháp muốn duy trì chế độ thuộc địa và sự có mặt của họ ở đó như qua lá thư của Max André, đại diện chính phủ Pháp trao một lá thư cho Võ Nguyên Giáp gửi chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Nước Pháp mới không tìm cách đô hộ Đông Dương, nhưng nhất quyết có mặt tại đó. Không cho rằng công cuộc của mình ở đó đã xong. Không chịu từ bỏ nhiệm vụ văn hóa của mình. Tự thẩm rằng chỉ có mình là có thể đảm bảo sự kích thích, sự điều hòa về kỹ thuật, kinh tế, ngoại giao và phòng thủ. Cuối cùng, bảo vệ quyền lợi tinh thần và vật chất của người dân nước mình.

Làm các việc này mà vẫn kính trọng hoàn toàn bản lệnh quốc gia với sự hiệp tác cần mẫn và hiến hữu của dân Đông Dương.

Đà lạt ngày mồng 5 tháng năm, 1946
Ký tên: MAX ANDRÉ”
(Trích: Hồi ký: Một vài ký vãng Hội Nghị Đà Lạt, Hoàng Xuân Hãn; trích lại từ bài Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Văn Lục, Tân Văn, trang 15-17, số 10/2008).

Phần Việt Minh, họ dứt khoát đi tìm sự ủng hộ của khối Cộng Sản với Liên Xô và Trung Quốc vào năm 1950. Làm như thế, họ đã chính thức từ bỏ chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa Quốc gia để chọn chủ nghĩa cộng sản như lá bài cuối cùng.

Đứng trên lập trường Dân Tộc, việc cộng sản tiếp tục cuộc chiến tranh nhân danh lá bài chủ nghĩa Mác Xít-Lê nin là có tội với lịch sử, với đất nước.

Học giả Hoàng Văn Chí, tác giả cuốn Trăm Hoa đua nở trên đất Bắc – nhất là cuốn From Colonialism to Communism, ông viết bằng tiếng Anh và xuất bản tại Ấn Độ và Anh Quốc, sau còn được dịch ra tiếng Pháp – cho rằng việc chọn lựa đảng cộng sản là một chọn lựa sai lầm của Việt Minh. Dựa theo ý kiến của tướng Nguyễn Sơn, ông Hoàng Văn Chí cho thấy cái sai lầm thứ hai của Việt Minh là:

“Tuy nhiên mối bất hoà lớn giữa Nguyễn Sơn và các lãnh tụ Việt cộng không phải là vấn đề kèn cựa địa vị, mà là vấn đề bất đồng ý kiến đối với chính sách yêu cầu Trung cộng viện trợ. Nguyễn Sơn hết sức phản đối việc yêu cầu Trung cộng viện trợ vì Sơn cho rằng hễ nhận viện trợ của Trung cộng thì sẽ mất hết chủ quyền. Sơn viện lẽ rằng hồi chiến tranh chống Nhật, ông Mao không thèm yêu cầu Nga viện trợ và để mặc Nga tiếp tế cho Tưởng Giới Thạch. Theo Sơn thì nên tự lực kháng chiến chống Pháp, đánh Pháp bằng vũ khí thu được của Pháp, tuy gian lao hơn nhưng không bị phụ thuộc vào bất cứ một ngoại bang nào. Sau một cuộc thảo luận to tiếng với ông Hồ, Sơn bực mình nhắm phía bắc, đi thẳng sang Trung Quốc. Vì được tôn là “anh hùng dân tộc” của Trung Quốc nên từ Lạng Sơn đến Bắc Kinh, đi qua tỉnh nào, Sơn cũng được đón tiếp trọng thể. Nhưng ông Hồ đã đánh điện sang Bắc Kinh, báo cáo với ông Mao là Sơn vô kỷ luật, và đồng thời Võ Nguyên Giáp cũng bắt toàn thể quân đội Việt Minh phải học tập một tài liệu đặc biệt, trong đó tả Sơn là một cán bộ “điển hình xấu”. Vì bị ông Hồ báo cáo lên tới Bắc Kinh, Sơn phải đi chỉnh huấn ngay tức khắc. Sau khi chỉnh huấn, Sơn tình nguyện đi học đại học quân sự ở Nam Kinh, do chuyên viên Nga dạy về chiến thuật quân sự hiện đại. Năm 1956, Sơn bị ung thư dạ dày và khi biết mình sắp chết, xin phép mang vợ con về Việt Nam. Hai ngày sau khi về tới Hà Nội thì Sơn chết, và Võ Nguyên Giáp phải đi đưa đám. Những người đã từng quen biết Sơn đều công nhận ông có tinh thần quốc gia mặc dầu suốt đời tranh đấu trong hàng ngũ cộng sản. Nếu không chết sớm, Nguyễn Sơn có thể là một Tito Việt Nam.”

(Trích bản dịch: Từ chủ nghĩa thực dân sang chủ nghĩa cộng sản, bản photocopy).
Mặc dầu, có rất nhiều biến cố quân sự, chính trị là nguyên xa gần, trực tiếp hay gián tiếp xảy ra dẫn đưa đến chiến tranh 1946-1954. Nhưng nhờ nhiều tài liệu của nguời Pháp đã mở ra cho thấy rằng phát súng phát lệnh đánh Pháp mở màn cho cuộc chiến 1946-1954 là do Võ Nguyên Giáp khởi đầu.

Việc Hồ Chí Minh từ chối đi về Việt Nam bằng máy bay lấy lý do sức khỏe và đòi đi về bằng đường thủy trên chiếc Dumont d’Irville là để mua thời gian. Một thời gian cần thiết để cho Võ Nguyên Giáp có đủ thì giờ thanh toán các đảng phái quốc gia như Quốc Dân, Đồng Minh Hội khi quân Tàu rút khỏi Việt Nam và củng cố lực lượng quân sự. Khi về Việt Nam, phe cánh của Hồ Chí Minh đã mua 6 tấn hàng hóa, phần lớn là dụng cụ máy móc, trang bị truyền tin. Nhưng xui cho họ, hàng hóa mua vể để địa Sài Gòn nên chiếc tàu thủy cặp bến Sài Gòn và đã bốc dỡ số hàng hóa ấy xuống. Mãi sau này mới tìm cách đưa ra Hải phòng thì số hàng hóa ấy đã hư hỏng và thất thoát.

Stein Tonnesson đã viết lại như sau:
During the absence of Ho Chi Minh, the Viet Minh had strenthened its position considerably. The main Dong Minh Hoi leaders had disappeared from the scene, and the Việt Nam QDD had also been weakened”.
Đây là những bằng chứng sau khi dẹp các đảng phái, Việt Minh đã có kế hoạch đánh Pháp.

“On November 25 and 27, a sureté informer warned of an imminent Vietnamse attack in Hanoi. At a “reasonnable” price, the sureté bought copies of a “Défense Plan for the Capital Hanoi,”approved by Ho Chi Minh on November 24 in a restricted cabinet meeting, as well as a plan for an attack on Gia Lam airfield, approved on November 26 by a commission of military experts. The two plans had both been worked out by Giap. The sureté boss, Moret, affirmed that there was no reason to doubt the honesty (bonne foi) of the informer..” (…) Throughout 1947, French Intelligence “proved” again and again that the Vietnamse attack in Hanoi in December 19 had been long premeditated. A great number of “proofs” were established.”
(Trích: Vietnam 1946, How the war began, Stein Tonnesson, các trang 86 và 172-173).

Cùng một nhận định như Stein Tonnesson, William J. Duiker trong: The Communist Road to Power in Viet Nam viết:

“In early december, the situation worsened (…) The French decision to augment its forces and strenfhten its military position in North Viet Nam may have persuaded the Party leadership that war was unavoidable. On the seventh, Vo Nguyen Giap dispatched a circular instructing all military units to be prepared to launch an attack on French installation by the twelfth.”
(Trích: The Communist Road to Power, William J. Duiker, trang 124)

Vài ngày tiếp theo sau đó, Việt Minh đưa ra lời kêu gọi toàn dân chuẩn bị cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong thành phố Hà Nội, bộ chỉ huy và quân đội Việt Minh rút về Hà Đông và để lại dân quân du kích, tự vệ thành phố “cầm chân” quân đội Pháp. Họ đắp những ụ đất ở một số địa điểm và đào tường từ nhà nọ thông thương sang nhà kia.

“Tunnels and trenches were constructed to permit communication from one sector to another without the use of main arteries”
(Trích W. J. Duiker, Ibid, trang 124.)

Người Pháp đã yêu cầu Việt Minh dẹp bỏ các ụ chướng ngại vật trong một số khu phố và gửi tối hậu thư cho Việt Minh phải giải giới. Việt Minh cũng muốn tấn công Pháp một các bất ngờ, nhưng như nói ở trên, tin tức tình báo mà người Pháp nắm được qua một tình báo viên nên người Pháp đã chuẩn bị canh phòng cẩn mật.

The Viet Minh had counted on the element of surprise, but the French had been forewarned of the attacks by an agent during the afternoon of the nineteenth and had placed their forces in the Hanoi region on the alert.”
(Trich W. J. Duiker, Ibid, trang 125)

Vì thế, sau khi súng nổ, quân đội Pháp đã làm chủ được tình hình trong thành phố, nhất là chiếm giữ những khu trọng yếu có Pháp kiều cư ngụ cũng như nắm giữ được phi trường Gia Lâm.

Hồ Chí Minh đã rút bộ chỉ huy về Hà Đông trước khi phát động chiến tranh. Hà Đông chỉ cách cách Hà Nội 6 cây số. Nếu ngay sau đó, quân đội Pháp quyết định nhanh chóng nhảy dù bao vây Hà Đông thì toàn bộ Tham Mưu của Việt Minh từ Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng có thể bị bắt. Tình hình chắc đã đổi khác. Cho nên đi đến kết luận Võ Nguyên Giáp là động cơ chính và là ngòi nổ mở màn cho cuộc chiến tranh Pháp-Việt.

Cá nhân người viết bài này còn ghi nhớ trong đầu, tối ngày 19, 1946, khi vừa bước chân lên cầu thang để đi ngủ thì nghe một tiếng nổ lớn, sau đó đèn điện trong nhà tắt phụt, phải lần mò cầu thang để lên lầu. (Người viết ở đối diện với sở quân nhu và sở Hành chánh tài chánh của Pháp. Cơ sở rộng lớn này chiếm hai mặt đường. Con Đường Đôi và phố Cửa Bắc trước đây là thành Hà Nội, nơi mà Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu đã tuẫn tiết ở đó). Đằng sau là dãy nhà ba tầng dành cho cư xá sĩ quan không quân Pháp. Suốt đêm không nghe thấy tiếng súng nổ. Nếu có thì từ xa..Sáng hôm sau, sở Hành Chánh tài chánh của Pháp thấy có hai xe thiết giáp trấn giữ, chĩa súng ra ngoài.

Cũng không xa chừng vài trăm mét, người viết thấy một vài khẩu súng gỗ còn vứt lại trên vỉa hè. Thật hết sức là ngạc nhiên không hiểu được. Làm sao Tự vệ có thể dùng súng gỗ bắn lại quan đội Pháp? Trên bờ đê Yên Phụ, nhìn từ phố Cửa Bắc, cách chừng hai cây số đường chim bay nổi bật trên nền trời, từng đoàn người lũ lượt gồng gánh hối hả chạy về hướng Nam thành phố. Chỉ trong một đêm, thành phố Hà Nội bị bỏ hoang. Trong khu phố cổ như Hàng Ngang, hàng Đào, hàng Thiếc, nhà nọ thông thống sang nhà kia. Nghe nói Tự vệ cầm cự được hai tháng đủ thời giờ cho bộ đội chính quy rút lên miệt Bắc.

Đây là chính sách tiêu thổ kháng chiến mở đầu cho cuộc chiến Việt-Pháp. Nó đã mở đầu như thế một cách kỳ lạ.

Việc phá nổ nhà máy đèn là bước đầu của cuộc chiến tranh Việt- Pháp theo kế hoạch của Võ Nguyên Giáp.

Võ Nguyên Giáp là người quyết định chung cuộc chiến tranh Đông Dương -HCM bị động trong trường hợp này- và Việt Nam không quan tâm hoặc nghi ngờ những giải pháp ngoại giao cũng như xu hướng giải thực trên toàn thế giới.

Ông nóng lòng, không nhẫn nại được nữa trong bầu khí chờ đợi, căng thẳng từng ngày.

Thật vậy, phải nhìn nhận xu hướng giải thực ở Việt nam cũng có dấu hiệu tiến bộ và thay đổi cho thấy có cơ hội thực hiện từng giai đoạn một ở Việt Nam với sự nhượng bộ của Pháp khi ký kết Hiệp Định Élysée giữa Bollaert và Bảo Đại sau những đàm phán thất bại giữa Pháp và Việt Minh.

Công việc giải thực từng giai đoạn một đã từng xảy ra tại Canada, Úc và Tân Tây Lan (New Zealand – DCVOnline) vào năm 1922, nằm trong khối Commonwealth. Và cũng tương tự như thế tại Tunisie, Maroc vào năm 1958, nằm trong khối quốc gia Territoire d’Outremer. TOM).

Năm 1947, Ấn độ được độc lập và lập tức Pakistan tách ra khỏi Ấn Độ. 1950, Indonesia dành được độc lập từ Hoà Lan. Lần lượt đến Mã Lai, Tích Lan và Miến Điện lấy lại độc lập. Từ Đông sang Tây, từ Bắc Phi những nước thuộc địa nằm trong quỹ đạo của nguời Anh, Pháp và Bỉ đều dành được độc lập.
Và đã có 49 các nước tân Phi Châu tách rời ra và trở thành các nước tân lập.

(Trích Culture and Imperialism, Edward W. Said, trang 199)

Chỉ trừ Việt Nam và Algérie khi dành được độc lập đã trả giá rất đắt.

Butterfield nhận định, đây là “The tragic element in human conflict”. Stein Tonnesso đánh giá “War was Vietnam’s predicamment for well over forty years. No other country has suffered as many war casualties since World War II.”

Từ 1945 đến 1954, khoảng 365.000 người đã bị giết, 40.000 về phía quân đội Pháp, 200.000 về phía Việt Minh và 125.000 thường dân.

(Trích: Viet Nam 1946, How the war began, Stein Tonnesson, trang 01.)

Nhưng Viêt Minh ngoảnh mặt làm ngơ trước những tiến bộ đạt được qua các thương lượng, các Hiệp định được ký kết với người Pháp. Người cộng sản tiếp tục tiến hành chiến tranh giải phóng bất kể quyền lợi dân tộc, đất nước bị hy sinh cho tham vọng chính trị của đảng cộng sản.

Nhận đinh lại cái giá phải trả cho nền độc lập Stein Tonnesson cho thấy rằng:

Chẳng những thế, họ còn tiến hành cùng một lúc hai việc:

- Thanh trừng, khai trừ tất các lãnh tụ đảng phái chính trị những người Quốc như một khủng bố trắng suốt từ Nam ra Bắc.

- Mặt khác, họ phát động các phong trào đấu tranh giai cấp thể hiện qua cuộc cải cách ruộng đất bắt chước theo Trung Quốc. Đây là công cuộc dọn đường cho sự áp đặt chủ nghĩa xã hội trên toàn thể khối dân tộc.

(Trích Viet Nam 1946, Ibid, trang3-4).

Chiến thắng xong Pháp ở Điện Biên Phủ, họ coi đó là thành tích lãnh đạo của đảng Cộng sản, phủ nhận mọi sự đóng góp xương máu của những thành phần kháng chiến yêu nước.

Rõ ràng chủ nghĩa dân tộc trong trường hợp Việt Nam đã bị người cộng sản vận dụng chủ nghĩa dân tộc cho những vận động chính trị của đảng cộng sản Đông Dương.

Nói khác đi Chủ nghĩa dân tộc chỉ là một biến thái của chủ nghĩa cộng sản bá quyền.

Ngày nay, cuộc chiến thắng Pháp ở Đông Dương thông qua Hiệp định Geneva phải được hiện nguyên hình là một cuộc chiến tranh Ý thức hệ giữa Thế giới Tự Do và Thế giới Cộng Sản kể từ thập niên 1950 trở đi.

Hiệp định Geneva chỉ tạo ra một ảo tưởng chính trị rằng cuộc chiến tranh đã chấm dứt. Nhưng ngay từ sau khi Hiệp định được ký kết thì người cộng sản đã chuẩn bị cho giai đoạn hai để thôn tính miền Nam rồi. Chính thức đảng Cộng sản Đông Dương của Hồ Chí Minh đã được hai đảng đàn anh công nhận là Trung Quốc và Liên Xô. Cũng chính thức, họ được sự viện trợ quân sự “vô điều kiện” từ các nước XHCN anh em.

Phía bên Thế giới Tự Do, Mỹ trực tiếp nhúng tay vào tình hình chiến sự Đông Dương bằng cách viện trợ quân sự và kinh tế cho Pháp và chính phủ Bảo Đại của chính quyền Quốc Gia.

Đánh pháp dưới lá cờ Chủ nghĩa Dân tộc đã đánh lừa được cả một thế hệ thanh niên tham gia vào cuộc chiến. Nhưng cuộc chiến 1954-1975 cũng một lần nữa khoác chiêu bài “Chống đế quốc Mỹ và tay sai bán nước”!

Nhìn lại mà không khỏi đau xót là Việt Nam là nước duy nhất trên toàn thế giới đã trả giá quá đắt cho việc thâu hồi độc lập với sự hy sinh tính mạng nhiều nhất, thời gian kéo dài nhất 30 năm, và nhất là sự tụt hậu phát triển so với các nước láng giềng như Đại Hàn, Thái Lan, Trung Quốc, Nam Dương, Singapore với cùng hoàn cảnh bị đô hộ.

Lê Duẩn viết trong Thư vào Nam:
“Ta đã dùng đấu tranh chính trị và quân sự để giành lấy những vùng nông thôn rộng lớn, nhưng vẫn chủ trương để cho quần chúng giữ thế hợp pháp với địch.

Làm như vậy vì chúng ta thấy được tính chất quyết liệt và lâu dài của cuộc chiến.”
(Trích Thư vào Nam, gửi cho Mười Cúc, tháng 7, năm 1962, Lê Duẩn, trang 72).

Người cộng sản không bao giờ dám nhìn nhận điều này. Không bao giờ dám so sánh, dám đặt câu hỏi tại sao Việt Nam lại thua kém các nước láng giềng hàng nửa thế kỷ?

Một phần họ thực sự mắc chứng vĩ cuồng về chiến thắng Pháp và Mỹ. Họ không tự hỏi sau chiến thắng đó học được g? Khi Phạm Văn Đồng sang thăm Lý Quang Diệu ở Singapore để học bài học vỡ lòng về bài học phát triển kinh tế. Theo Lý Quang Diệu, ông ta đã không học được gì, về tay không vì sự đui mù ngu dốt. Những người học trò đầu tiên của Lý Quang Diệu là Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc và Võ Văn Kiệt.

Sau này việc “phong thánh” cho các anh hùng liệt sĩ chỉ thêm bẽ bàng và không đủ giải thích và cứu vãn cho tính trạng tụt hậu phát triển so với các nước trong vùng.

Sức nặng quá khứ thay vì giảm nồng độ lại đào sâu thêm vào tâm trí người dân về một sự hy sinh vô bờ bến về sức người, sức của một cách uổng phí!

(Còn tiếp)

© Nguyễn Văn Lục

© Đàn Chim Việt

 

Tags: , ,

15 Phản hồi cho “Từ Chủ nghĩa Thực dân đến Chủ nghĩa Dân tộc sang Chủ nghĩa CS [2]”

  1. Minh Đức says:

    Xét từ lúc Lê Nin làm Cách Mạng Tháng Mười 1917 cho đến lúc khối CS sụp đổ ở Đông Âu 1990 thì trên thế giới chỉ có ba nước có đảng CS lãnh đạo là thực sự độc lập mà thôi. Đó là Nam Tư, Liên Xô và Trung Quốc. Các nước CS khác thì nếu không nằm trong khối của Liên Xô thì nằm trong khối của Trung Quốc. Nếu năm 1958 Mao Trạch Đông không cự tuyệt lệnh của Liên Xô và phải trả giá đắt khi Liên Xô cắt viện trợ thì trên thế giới chỉ có 2 nước CS thực sự độc lập là Nam Tư và Liên Xô mà thôi.

    • THƯỢNG NGÀN says:

      ANH EM VÀ ĐỒNG CHÍ

      Hồi Liên Xô còn sống
      Đã rất ghét Nam Tư
      Càng ghét nhiều Trung Quốc
      Vì nói không nghe lời !

      Ta sinh làm anh cả
      Bảo các chú không nghe
      Các chú đòi ngang ngữa
      Các chú đâu cùng phe !

      Ta Cách mạng tháng Mười
      Các chú cỡ tháng mấy
      Các chú sao phản thầy
      Các chú tệ dường ấy !

      Thủy tổ ta Lênin
      Chỉ đứng sau Các Mác
      Các chú là ngử gì
      Muốn xem ta cỏ rác !

      Các chú không thấy sao
      Đó Cuba tốt nhất
      Việt Nam vẫn hàng nhì
      Ấy mới thật hay nhất !

      Bởi Việt Nam xa ta
      Việt Nam kề Trung Quốc
      Việt Nam muốn đi dây
      Ta cũng cứ cho sất !

      Giờ Liên Xô đã mất
      Nam Tư cũng đi đời
      Chỉ còn lại bốn nước
      Việt Nam ôm Trung Quốc !

      Quả vừa là anh em
      Cũng vừa là đồng chí
      Giương mười sáu chữ vàng
      Với bốn tốt hoa mỹ !

      Hoàng Sa Trung Quốc xí
      Trường Sa càng rỉa dần
      Tam Sa Trung Quốc lập
      Việt Nam rơi thế bí !

      Chuyện đời âu chỉ vậy
      Anh em tình bên ngoài
      Đồng chí nhưng dị mộng
      Đồng sàng dễ đè nhau !

      ĐẠI NGÀN
      (07/9/12)

  2. Minh Đức says:

    Độc lập là chiêu bài mà đảng CSVN dương cao và cũng là lòng khao khát của người dân Việt Nam. Nhưng nếu Việt Nam không độc hẳn mà người dân có cơm no áo mặc, ốm đau có nhà thương, thuốc men chăm sóc đầy đủ, thế hệ trẻ lớn lên được giáo dục ngang tầm với các nước tiến bộ khác thì so với việc “độc lập” mà hàng triệu thanh niên chết vì nội chiến, kinh tế, công nghiệp lạc hậu, quốc phòng yếu kém, bị lân bang uy hiếm mà dân chỉ dương mắt ra mà nhìn thì đằng nào hơn?

    Singapore và Mã Lai chỉ độc lập tương đối vì vẫn ở trong khối Common Wealth của Anh, một khối giống như khối Liên Hiệp Pháp của Pháp, mà dân Singapore vẫn được no ấm, Mã Lai thì kinh tế khá hơn Việt Nam, dân Việt thì đi làm thuê cho chủ Mã Lai.

    Điều quan trọng hơn cả vẫn là đời sống người dân như thế nào. Nhân danh độc lập để xúi dân lao vào hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác thì không phải vì nước vì dân mà vì mình. Mà đường lối của đảng CSVN nào có đưa đất nước đến độc lập thật sự. Giả sử thế giới diễn biến đúng như là ý định lúc đầu của đảng CSVN mà không đi xiên đi xẹo thì bây giờ Việt Nam là một nước Cộng Sản phải tuyệt đối tuân lệnh Quốc Tế Cộng Sản đặt ở bên Nga. Việt Nam không nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, không nằm trong khối Common Wealth thì nằm trong khối Comecon của Liên Xô. Thoát ra khỏi cái rọ này rồi lại chui đầu vào cái rọ khác. Thoát khỏi cái rọ Comecon lại rúc đầu vào cái rọ Đại Hán.

  3. quandannambo says:

    từ phong kiến quân chủ lạc hậu
    bước thẳng sang tự do dân chủ
    là việc rất khó thực hiện
    lý do
    dân trí quá thấp
    và tâm lý bảo thủ cực đoan thắng thế
    đây chính là cơ hội quá tốt
    cho hồ chí minh và bè lủ
    tròng xích xiềng cộng sản
    vào cổ dân tộc và đất nước
    họ hồ may mắn
    vì vận nước đến hồi suy trầm
    nên không xuất hiện bậc anh hùng
    để tống cổ hắn vào
    nhà đá

  4. quang phan says:

    ***Nhà báo Nguyễn Minh Cần: Nếu ĐCSVN không cướp được chính quyền năm 1945 thì:

    1/ Cuộc đấu tranh giành độc lập của dân ta đã theo con đường khác, rất có thể là theo con đường của cụ Phan Châu Trinh, và dân tộc chúng ta sẽ sớm giành được độc lập mà không phải đổ máu, giống như nhiều nước khác trong vùng Đông Nam Á, Nam Á;

    2/ Chúng ta tránh được nạn ám hại các người đứng đầu các đảng phái yêu nước – phần đông họ là những thành phần ưu tú của dân tộc – bằng những ban ám sát của ĐCS;

    3/ Tránh được cuộc cải cách ruộng đất đẵm máu, tàn bạo, làm trên 100 nghìn người chết oan uổng và làm đảo lộn đạo lý truyền thống của dân tộc, mà có một cuộc cải cách ruộng đất ôn hòa, hợp tình, hợp lý để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế;

    4/ Tránh được những cuộc cải tạo công thương nghiệp và cưỡng bức hợp tác hóa nông nghiệp làm suy sập nền kinh tế của đất nước và triệt tiêu các lực lượng năng động nhất trong nền kinh tế;

    5/ Tránh được những trận đàn áp văn nghệ sĩ, trí thức làm cho văn hóa, văn học nghệ thuật nước ta tụt hậu hàng nhiều thập niên, trái lại, nền văn hóa, văn học nghệ thuật nước nhà được tự do chắc chắn đã nảy sinh đượcnhiều thành tựu rực rỡ;

    6/ Dân tộc ta tránh được cuộc chiến tranh Bắc Nam kéo dài hàng chục năm trời làm gần một chục triệu người dân và binh sĩ của cả hai phía phải bỏ mạng, tránh được sự chia rẽ nặng nề của dân tộc đến nay vẫn còn khó khăn hòa giải hòa hợp;

    7/ Tránh được hệ thống những trại tù mang danh “trại cải tạo” để đày đọa hàng trăm nghìn con người yêu nước, những trí thức có tinh thần tự do và dân chủ và tránh được cái chết oan uổng của hàng vạn con người;

    8/ Tránh được cái “công hàm 14.9.1958 của Phạm Văn Đồng”, không có chuyện dâng đất, dâng biển dễ dàng cho Trung Quốc như vừa qua, không có chuyện bauxit Tây Nguyên, cho thuê rừng đầu nguồn, đưa hàng chục nghìn lao động Trung Quốc vào các vùng xung yếu của nước ta, và đặc biệt là không có nguy cơ mất nước như ngày nay ….

    Nói tóm lại, nếu ĐCSVN không cướp được chính quyền năm 1945 thì ngày nay đất nước Việt Nam từ lâu rồi đã được tự do, dân chủ và độc lập thật sự, đã đạt được mức tiến bộ về mọi mặt không kém gì các nước tiên tiến trong vùng, như Nam Hàn, Đài Loan.

    ***Bùi Tín (Paris, Pháp): “Nếu như đảng CS không nắm vai trò lãnh đạo”? . Xin thưa:

    - Thì có thể nước ta vẫn có độc lập, vì theo xu thế của thời đại, các nước thuộc địa trước sau gì
    cũng đều được tự do;

    • Builan says:

      Đó là tiếng nói cuả CÔNG ĐẠO- cuả LƯƠNG TÂM .
      Tiếng noí cuả lương tri đạo đức tình người ! Tiếng noí ắp đầy tự tình dân tộc-
      Chia xẽ nổi bất hạnh- nỗi đau chung mà nhân dân mình- đống bào mình phaỉ gánh chiụ _ như là hoạ trời ách nước – HOẠ CỘNG SẢN !

      Tiếng nói cuả những con người có quả tim người _ Dĩ nhiên là đi ngược – là “phản động” là đói kháng ….với bọn người có hình người nhưng TIM THÚ !
      Cứ xem những gì đang diễn ra trên quê hương, trên đất mẹ quê cha thì rõ!!!

      Vô cùng cảm ơn nhưng tiếng nói đầy lương tri !
      Cảm ơn những người có tâm huyết, đem tài năng – kiến thức- trí tuệ uyên bác trời cho cuả mình – góp phần quảng bá những lời vàng ý ngọc – góp phần cảm hoá nhưng bầy đàn súc sinh còn u mê mụ mị trong THIÊN ĐƯỜNG MÙ – lì lợm lừa láo cối chày lấp liếm bao che cho TỘI ÁC CUẢ CONG SẢN HCM !

      cảm ơn Ô/B quang phan

      • quang phan says:

        Mừng được đọc những lời hay ý đẹp của bạn Bùilan.
        Quang Phan
        Sống lụy Bắc phương hèn quá trời !!
        Sống dâng đất, biển… nhục chăng ai ?
        Sống giao Bản – Giốc… lòng không tiếc !
        Sống bỏ Nam – Quan… miệng vẫn cười !
        Sống bám Tàu Man phường bán nước
        Sống theo Lê- Mác lũ buôn người
        Sống như Việt Cộng đừng nên sống
        Sống lụy Bắc phương hèn quá trời..!!
        ( Việt Tiến)

  5. quang phan says:

    Hồ chí Minh là nhà ái quốc chân chính ? Tận tuỵ tranh đấu chống thực dân Pháp cho nền độc lập của tổ quốc Việt nam ?

    Một số người Việt và ngoại quốc cho đến nay vẫn nghĩ một cách sai lầm rằng Hồ chí Minh là người yêu nước. Tuy nhiện, chí ít thì một ít tài liệu điển hình dưới đây đã cho thấy rõ bộ mặt ái quốc giả hiệu của Hồ chí Minh và bè lũ. Giả dạng dưới chiêu bài kháng chiến giành độc lập cho đất nước, nhưng kỳ thực chúng dùng xương máu của người dân Việt để giúp bành trướng Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản do Liên Xô lãnh đạo :

    *** Trên tờ báo Thanh Niên phát hành ở Quảng Châu ngày 20/12/26, Hồ chí Minh đã viết rằng: “Cái danh từ tổ quốc là do các chính trị gia đặt ra để đè đầu nhân dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có tổ quốc, cũng chẳng có biên giới”.

    ***Trong “Hồ Chí Minh Toàn Tập”, Hồ chí Minh viết rõ hơn: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lénine và Quốc Tế 3 là một Đảng Cộng Sản Thế Giới. Các đảng cộng sản ở các nước, như là chi bộ, đều phải tuân theo kế hoạch và qui tắc chung. Việc gì chưa có lệnh và kế hoạch của Quốc Tế 3 thì các đảng không được làm.”

    ***Trong “Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam” (Tập I), Hồ chí Minh cũng đã từng xác nhận: “Chúng ta theo chủ nghĩa Quốc tế, không theo chủ nghĩa Quốc gia. Chúng ta phải nâng cao tinh thần đấu tranh giải phóng, nghĩa là hình thức thì dân tộc mà nội dung là quốc tế”.

    (Chú thích: Theo Lenin thi`” Muốn đánh thắng tư bản bóc lột thì phải đánh chúng ở các thuộc địa làm cái vú sữa cho chúng bú. Mà muốn đánh chúng ở các thuộc địa đó thì phải lập nên những tổ, những chi bộ địa phương, để rồi nhân danh “giải phóng dân tộc đánh đuổi đế quốc, thực dân giành độc lập”. Khi tư bản, đế quốc, thực dân bị đánh đuổi khỏi các thuộc địa, chúng sẽ bị suy yếu đi, khiến cho cuộc tranh đấu của giai cấp công nhân tại các mẫu quốc được dễ dàng hơn”).
    *** Ngày 26/12/1956, trên trang đầu của Tạp Chí Cách Mạng Đồng Minh Hội, Hồ Chí Minh đã viết một bài: “Chủ nghĩa ái quốc cần bị tiêu diệt, để thay thế bằng chủ nghĩa Cộng sản”.
    *** Trang 351 của cuốn “Tuyển Tập Hồ Chí Minh”, xuất bản năm 1960, trong bản “Báo Cáo Chính Trị”, đọc trước Đại Hội Đảng lần thứ II, Hồ chí Minh đã long trọng tuyên bố: “Sau ngày Cách mạng tháng Mười (Nga) thành công, Lê-Nin lãnh đạo việc xây dựng Quốc tế Cộng sản. Từ đó, vô sản thế giới, cách mạng thế giới thành một đại gia đình, mà đảng ta là một trong những CON ÚT của đại gia đình ấy”.
    *** Sử gia Trần Trọng Kim viết trong Một Cơn Gió Bụi như sau:
    ” Cái xã hội mới ấy không tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc. Dù có nói tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc nữa, cũng chỉ là cái phương pháp dùng tạm thời trong một cơ hội nào để cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản. Khi ở đâu sự tranh đấu cho giai cấp ấy được thắng lợi, thì cứ tranh đấu mãi để bảo vệ quyền lợi của giai cấp ấy và xóa bỏ hết những cương giới nước nọ với nước kia để thực hiện một thế giới đại đồng, đặt dưới quyền chỉ huy của giáo chủ cộng sản ở bên Nga.”

    • VINH says:

      Những tham khảo rất có giá trị. Cảm ơn Ô.Quang phan. Tên Hồ lại ló cái đuôi chồn phản quốc ! Đó cũng là lý do hắn ta đẻ ra cái công hàm 1958.

  6. ĐẠI NGÀN says:

    CÂU CHUYỆN NƯỚC NAM

    Nước Nam quân chủ bình thường
    Như bao nhiêu nước khắp miền gần xa
    Đùng một cái Lang Sa mò đến
    Đem tàu đồng đạn pháo tấn công
    Trời Nam rúng động một phen
    Văn minh Đông Á chẳng bằng trời Tây
    Nên khắp chốn kinh thành lửa dậy
    Vua bôn đào cùng với triều đình
    Thế là quân Pháp thực dân
    Lập nền đô hộ trên toàn dân Nam
    Dầu kháng chiến nhiều nơi nổi dậy
    Sức yếu hơn không chống lại thù
    Nước nhà gặp buổi truân chuyên
    Cũng đành thúc thủ mọi miền dài lâu
    Tám mươi năm phải đâu là ngắn
    Ách thực dân đầy đọa dân tình
    Đêm dài cũng đến bình minh
    Đến ngày Thế chiến dân mình thoát ra
    Ấy nhờ bởi bôn ba hào kiệt
    Tám mười năm không nghỉ một ngày
    Đến khi thời thế thuận chiều
    Giành nền độc lập mọi điều đều hay
    Nhưng rồi cũng phương Tây mò đến
    Lại tràn vào chủ nghĩa Mác Lê
    Ba mươi năm lại ê chề
    Hai bên Quốc Cộng nặng nề chiến tranh
    Đẩy cả nước rơi vào hố thẳm
    Giữa hai đàng Thế giới phân tranh
    Một bên tư bản đành rành
    Một bên cộng sản tranh giành lẫn nhau
    Cho tới lúc đầu tàu lịch sử
    Cũng chao đi rẽ lối lạ thường
    Tiến vào kinh tế thị trường
    Toàn cầu hội nhập tỏ tường không sai
    Ba mươi năm rõ tài chính chiến
    Gồm trước sau hơn chín triệu người
    Hi sinh xanh cỏ khắp nơi
    Cờ Vàng cờ Đỏ một thời lu loa
    Bắc kia Dân chủ Cộng hòa
    Nam đây một cõi Cộng hòa Việt Nam
    Cuối cùng thống nhất giang sơn
    Một trời Cộng sản tưởng hơn những gì
    Ba thập niên hơn chẳng hơn chi
    Hoàng Sa đã mất nói gì Trường Sa
    Nước nhà nhiều nỗi xót xa
    Tràn đầy tham nhũng thật là khó sao
    Biển Đông lại nổi ba đào
    Bá quyền Trung Quốc chực mòi bao sân
    Thôi rồi cả mặt hướng Đông
    Việt Nam như thể chim lồng đơn côi
    Sự tình nay đã thế rồi
    Bao giờ tìm lại những thời vinh quang
    Non sông một thuở âu vàng
    Biển Đông rộng mở non ngàn uy nghi
    Ải Nam Quan đến Cà Mau
    Lê, Trần, Lý, Nguyễn những ngày quang vinh
    Quả tiếc thay Phan Chu Trinh
    Một tâm hồn lớn giận mình xót xa
    Một lòng canh cải nước nhà
    Canh tân dân tộc thoát ra phận hèn
    Ai ngờ con tạo ghét ghen
    Nửa đường đứt gánh một phen đổi dời
    Có chăng người cũng tùy thời
    Thực dân Cộng sản một thời cũng qua
    Giờ đây ngẫm lại sơn hà
    Con đường dân tộc mới là vinh quang !

    VÕ HƯNG THANH
    (26/8/12)

    • Lâm Vũ says:

      Bác VHT tài thật! Thời nay không còn mấy người làm được thơ thể “song thất lục bát”. Đây là một thể thơ cổ của VN, có lẽ còn trườc cả Hát Nói của ta, vốn đã có gần 1000 năm.

      Theo tôi, tổ tiên ta đặt ra những thể thơ người Tầu không có, để tạo những nét riêng cho văn hóa Việt Nam ngay trong lúc con đang bị Tầu đô hộ (thời kỳ Bắc thuộc). Nhờ thế, con cháu thấy rõ ràng là VN là một quốc gia riêng biệt, với một nền văn hóa riêng.

      Ngày nay chúng ta phải gìn giữ lấy nòi giống tổ tiên. Chỉ có bọn cướp cạn mới có thể nhẫn tâm bán nước để đổi lấy tiền xu!

      • NGÀN KHƠI says:

        GỬI VŨ !

        Mình đâu có ý làm thơ
        Viết chơi để khỏi lơ mơ cuộc đời
        Nên tùy hứng mà chơi đủ thứ
        Thể loại nào có tính trước đâu
        Lắm khi lục bát tươi màu
        Có khi song thất cũng hầu đều vui
        Thơ năm chữ cũng gần như thế
        Kiểu ngũ ngôn hoặc loại thơ Đường
        Nói ra đặng thấy tỏ tường
        Thơ chơi là chính chẳng vương điều gì
        Thơ cảm hứng điệu chi nhẹ thếch
        Có cần đâu lết bết tìm vần
        Tự nhiên vần tự cân phân
        Khác gì trăng sáng ngoài sân chan hòa
        Nên nhiều bận giống đà sóng vỗ
        Chuyện nước non hào khí vô cùng
        Vậy nay có Vũ hiểu lòng
        Thêm vài câu thế để hòng cùng vui !

        NON NGÀN
        (06/9/12)

  7. Hathanh says:

    Bài viet này xuyên tạc lịch sử,tầm thường hóa cuộc đấu tranh giairphongs dân tộc VN do Hồ chí Minh lãnh đạo.
    Nếu cứ suy diễn như thế thì VN cần gì phải đánh Pháp đuổi Nhật cứ để cho dân Việt chết đòi nhăn răng ra như năm 1945,để rồi dân chủ tự do,bánh mỳ kệp thịt nó tự châu Âu ,chau Mỹ trôi về.
    Bất chiến tự nhiên thành,chuyện ông Bảo Đại mang độc lập từ tay Pháp về cho VN,ôi mơ mộng quá.
    Người Pháp chết hàng van chiến binh để chống lại sự nổi loạn của Dan Việt đâu có tự nhiên bỏ mings mồi ngon dễ dàng như vậy?
    Nói thế mà cũng nói được ,thực là con oanh học nói quàng xiên bậy bạ,

    • PHONG LAN says:

      Ô. Nguyễn Minh Cần, 1 Đảng viên CS, 1 cựu đại tá QĐND và Ô. Bùi Tín cựu đại tá QĐND,lời nói của họ giá trị ngàn cân. Họ là những ” con oanh học nói quàng xiên bậy bạ ” ?
      Hãy vào 15 bài ” Sự thật không thể chối bỏ” của Đặng Chí Hùng 1 người của XHCN, để xem cái sự thật của cái CM mùa thu đểu giả mà tên Hồ đã dàn dựng và chính hắn diển trò khỉ , hèn hạ ăn cướp công lao của 1 chính thể khác để ngày nay lại dâng VN cho giặc Tàu.
      Nói ít hiểu nhiều.

    • trân nam says:

      Con két(vẹt) chỉ biết nói nhửng gì người ta dạy nó nói.

Phản hồi