|

Phát hiện thủ bút Trần Trọng Kim: Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáoViệt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện.Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.
200px-Trần_Trọng_KimChúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.
Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt.
Nội dung như sau :
Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471
Ông Hãn2
Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.
Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.
Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8.
Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.
Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12.
Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.
Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.
Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:
身 在 南 蕃 無 所 預
心 懐 百 憂 復 千 慮
(Thân tại Nam phiên vô sở dự,
Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.
= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,
Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)
Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.
Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:
            Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ
            Đất khách mơ – màng những thở – than,
            Mảng tin bác bị lũ hung tàn.
            Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,
            Căm giận quân thù đã tím gan.
Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.
Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19 gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.
Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22
Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.
Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?
Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.
                                                            Nay kính thư
                                                                        Trần Trọng Kim [tr4]
Chú thích:
1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.
2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.
3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.
4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.
6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)
7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)
8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167…
9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”
10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)
11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.
12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.
13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.
14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)
15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)
16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc” và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.
17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)
18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.
19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)
20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)
21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.
22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.
23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)
24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd).
_____________
Thư mục tham khảo
1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969
2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
5. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)
Phụ lục ảnh nguyên bản:
trantrongkim1trantrongkim2trantrongkim3trantrongkim4
Nguyễn Đức Toàn (Tễu Blog)

18 Phản hồi cho “Phát hiện thủ bút Trần Trọng Kim: Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947”

  1. Trúc Bạch says:

    - Muốn biết người Quốc Gia hiểu biết gì về CS và Hồ Chí Minh thì nên đọc “Một Cơn Gió Bụi” của Trần Trong Kim .

    - Muốn biết người Quốc Gia nghĩ đúng hay sai về CS thì phải đọc lá thư này !

    - Còn muôn biết CS tốt hay xấu, that tha hay gian xảo thì phải thực nghiệm câu nói của Nguyễn Văn Thiệu :

    “Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm !” (Sông có thể cạn, núi có thể mòn…song chân lý ấy không bao giờ thay đổi !”

  2. nguenha says:

    Bọn Việt Minh thuở trước người ta gọi là “bọn đao phủ thủ”- Cụm từ :”thà giết lầm hơn bỏ sót” xuất hiện vào thời nầy. Thời nầy dân Việt sống ngày như Đêm.! Từ nông thôn Miền Trung,tôi đả nghe những ngôn từ nhân gian, nào là “Bác thằng bần”:ý nói Hồ là bác của những thằng bần-cố -nông.Người Mẹ la rầy con cái : “không lo học ,chỉ lo kết bè,kết đảng” ý nói bọn VM toàn là Vô học. Như vậy ,phải chăng từ chính phủ Trần trọng Kim,người Dân đả “biết” mặt that CS từ thời đó. Gần đây,trong phim “ngọn nến hoàng cung”,đóng ở trong nước,trong đoạn đối thoại: Hoàng -thái-hậu (Đức từ cung) nói với những người hầu cận: “Phải cẩn thận,bọn Việt minh như Hổ sổng chuồng”.Có lẻ vì thế mà phim bị cấm!! Người đạo diển Phim nầy không biết bây giờ ở đâu??

  3. ĐẠI NGÀN says:

    TRẦN TRỌNG KIM

    Tấm lòng yêu nước thương nòi
    Tinh thần vời vợi còn hoài ngàn năm
    Non sông dẫu buổi thăng trầm
    Vẫn luôn sáng rỡ một Trần Trọng Kim

    NON NGÀN
    (31/8/13)

  4. Minh Đức says:

    Đây là thư của ông Trần Trọng Kim gửi ông Hoàng Xuân Hãn. Trong thư, ông Trần Trọng Kim vạch ra cho ông Hoàng Xuân Hãn thấy việc Cộng Sản lợi dụng chiêu bài quốc gia. Nhưng sau này ông Hoàng Xuân Hãn là người ủng hộ chế độ CSVN và đã bào chữa cho vụ Việt Minh giết các đảng phái khác là thời xưa vua Lê Lợi cũng đánh các phe chống quân Minh khác. Điều khác nhau giữa thời xưa Lê Lợi và thời nay là Lê Lợi và các phe Việt chống quân Minh khác khi lấy được độc lập chủ quyền thì sẽ theo chế độ quân chủ Nho giáo, không có chủ nghĩa nào khác thời đó. Còn giữa Việt Minh và các đảng phái khác thì khác nhau về đường lối cai trị sau này. Việt Minh theo chủ nghĩa Cộng Sản, theo chủ nghĩa quốc tế vô sản. Vua Lê Lợi đâu có theo chủ nghĩa quốc tế vô sản mà nghe lệnh của tổ chức quốc tế nào. Mà vua Lê Lợi cũng đâu có tịch thu ruộng đất của nông dân, rồi bài trừ văn hóa phản động như bài bác Nho giáo, tiêu diệt Phật giáo.

  5. Austin Pham says:

    Đọc được những giòng với nỗi niềm ưu tư của các bực trưởng thượng có tài có đức ngày trước thiệt là ngậm ngùi, xót thương cho những tấm lòng vì dân vì nước của họ chẳng may vì thời vận đảo điên, dân trí thấp kém mà cuối cùng phải phó cho mệnh trời sắp đặt. Quả thật bọn đầu nậu Việt Minh chỉ gạt được đám dân ngu chứ làm sao gạt được các bực trí giả. Xin cám ơn tác giả đã phổ biến lá thư này cho công chúng, nó sẽ góp phần trả lại cho lịch sử những giá trị chân thực đáng trân trọng đến muôn đời. Xin thắp nén hương lòng kính cẩn bái phục các vị tiền nhân về tư cách đạo đức, học thức của trí giả chỉ mưu cầu giúp nước, giúp dân làm trọng.

  6. Vân Nam says:

    Thật không có ai hiểu “lòng dạ” (lang sói) cuả Cộng Sản (từ khi chúng còn núp bóng, lợi dụng lòng yêu nước cuả dân ta) như cụ Trần Trọng Kim!
    Hèn chi bao nhiêu năm chúng đổ vấy cho Cụ là việt gian (thân Nhật)!

    ” CÔNG CHI THỦ, TỘI CHI KHÔI”!

    Cụ đã thay lịch sử để kết tội Đảng CSVN từ rất sớm!

  7. Minh Đức says:

    Trích: “Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo.”

    Ông Trần Trọng Kim chỉ làm nhiệm vụ của một bầy tôi trung với vua. Ông không để cho vua bị mắc làm tay sai cho ngoại bang. Ông không cầu chức vụ với vua để có bổng lộc nên thấy người Pháp không thật lòng thì ông dãn ra. Cái đám người Nam muốn gặp ông Trần Trọng Kim là những người muốn xu phụ Bảo Đại để cầu bổng lộc, không màng đến chủ quyền quốc gia. Họ thấy ông Trần Trọng Kim nghe lệnh ông Bảo Đại về nước nên nghĩ ông Trần Trọng Kim sắp lập chính phủ nên đến gặp ông ta để xin xỏ, cầu cạnh. Ông Trần Trọng Kim muốn trở về Hong Kong để nói với ông Bảo Đại là người Pháp không thật lòng nhưng người Pháp không để cho ông ta đi. Ông ta không có mưu lược trong chính trị, chỉ là một ông thày giáo làm theo chữ Nghĩa mà Nho giáo đã dạy. Ở đây chữ Nghĩa là bầy tôi phải biết khuyên vua làm điều phải. Nhưng ông cũng có chữ Trí để không mắc lừa cái chiêu bài độc lập dân tộc của Cộng Sản.

  8. Minh Đức says:

    Trích: “15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm … là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)

    Nguyễn Văn Sâm bị Việt Minh giết.

  9. Minh Đức says:

    Bức thư này ông Trần Trọng Kim viết giống như những gì ông viết trong cuốn Một Cơn Gió Bụi (hay Kiến Văn Lục) vào năm 1949 sau này.

    Người nhìn thấy Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản dùng chiêu bài độc lập dân tộc để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản là Hồ Chí Minh và theo Công Sản, áp dụng chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam .

    Người nhìn cũng thấy Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản dùng chiêu bài độc lập dân tộc để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản là ông Trần Trọng Kim và ông Trần Trọng Kim vì thế không theo Cộng Sản.

    Ông Trần Trọng Kim cũng đã nhìn thấy sẽ có nhiều người mắc lừa cái chiêu bài độc lập dân tộc mà Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản đã vẽ ra nên viết:

    “Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.”

    Một trong vô vàn người mắc lừa đó là ông Lê Hiếu Đằng.

    • Hoàng says:

      Từ trước đến nay,tôi luôn tôn trọng những lời phát biểu của Minh Đức.Nhưng lần nầy tôi xin được có ý-kiến với Minh Đức là LHĐ không bao giờ bị mắc lừa,vâng,ông LHĐ không bao giờ bị mắc lừa.Mà LHĐ biết rỏ thật nhiều những gì hắn đã đi qua.Theo thiển ý,phần nhiều,người có chút học lực,hoặc năng khiếu ở Miền-nam trước1975 là đòi hỏi chính phủ phải cân nhắc cho họ được một “địa vị” tương xứng,họ đòi hỏi không được,thì họ quay sang theo cs,mà theo cs thì dể làm lảnh chúa hơn là phục vụ cho chế độ M-N.Thế nên LHĐ đã trở cờ cho đến ngày hôm nay.Nhiều người M-N bị mắc lừa của bọn cs,như bác tôi đã bị mắc lừa và bỏ xác cho cs trong chiến tranh.Nhưng cha tôi nhận ra và từ bỏ bọn chúng.Bọn xôi thịt trí thức M-n vào thời đó là vì địa vị cho chính bản thân và đời sống nên theo bọn cs.Vì chúng nhận ra theo cs dể trở thành “lảnh chúa”một trong những người muốn trở thành “lảnh chúa”thì có tên LHĐ.Không thể tin được dù hắn có tuyên bố,làm điều gì thì chỉ có hại cho dân tộc và đất nước mà thôi.
      Sau 45 mới thức thỉnh là điều sai,CẦN PHẢI ĐẶC NGHI VẤN.

  10. quang phan says:

    Ôi vận nước Đại Việt !

    ***Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, duy trì Bảo Đại ở ngôi Hoàng Đế và giao chính phủ cho cụ Trần Trọng Kim. Vốn là những người yêu nước thật thà nên cụ Kim và các nhân vật trong chính phủ của cụ đã phóng thích ngay tất cả các chính trị phạm kể cả Cộng sản. Nhưng sau khi ra khỏi tù, đám Cộng sản này liền gia nhập Mặt Trận Việt Minh để lật đổ chính phủ Trần Trọng Kim.

    ( Trích)

    ***Bác sĩ Đặng văn Dư- Đổng lý văn phòng cho thủ tướng Trần Trọng Kim – kể lại rằng khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng Minh thì có một viên tướng Nhật đến văn phòng thủ tướng đề nghị:
    – Thưa Ngài, dù chúng tôi thua trận, nhưng quân đội chúng tôi thừa sức tiêu diệt bộ tham mưu Cộng sản Đông Dương trong vòng 24 giờ đồng hồ để giúp đất nước Ngài tránh hiểm họa trong tương lai.
    Cụ Trần Trọng Kim là một nhà Nho đạo đức, khước từ và nói:

    – Xin cám ơn tướng quân, nhưng việc nội bộ của chúng tôi, xin hãy để chúng tôi tự xử trí với nhau” .

    (Trích)

Phản hồi