|

Sóng lành mùa Phật Đản

Mùa Phật Đản

Mấy tháng trước ngày cơn đại sóng thần – grand tsunami – vỡ trào quét vào vùng biển Ấn Độ vào năm 2004, tàn phá vùng duyên hải của 12 nước ven biển và giết hại 230 nghìn mạng sống, người ta chú ý đến hiện tượng thiên di của các loài động vật. Những đàn kiến cỏ thầm lặng dắt díu nhau lên núi cao. Những loài dế đất, bọ cát tản mạn về đâu mà càng đêm càng vắng tiếng… Những loài vật càng nhẹ, ăn ít, không tham tàn với đồng loại càng vắng bóng nhiều hơn trong những ngày gần kề cơn đại họa.

 

Hiện tượng loài vật xôn xao, sợ hãi, lánh nạn khỏi vùng đất tai ương nhiều ngày trước khi cơn sóng thần ập đến đất Nhật, làm trên hai vạn người thiệt mạng, cũng đuợc những người dân sống sót tại địa phương quan sát và ghi nhận.

Trong vũ trụ có muôn vàn hiện tượng chằng chịt và phát sóng liên hồi. Không có gì tình cờ mà cũng chẳng có gì tiền định vì đó là dòng chảy tự nhiên, tan hợp triền miên mang tính khách quan và cũng chẳng có cái “ngã” nào chủ xướng phát sinh hay ngự trị cả. Loài vật có căn cơ riêng biệt bắt được sớm hơn hay có độ cảm nhận tinh vi và bén nhạy hơn loài người về những làn sóng của dòng năng lượng vũ trụ đang trôi chảy mà con người không thể – hay chưa – bắt được. Con người phải nhờ những con mắt thần “thiên lý nhãn” của phương tiện khoa học, kỹ thuật mới theo kịp loài chim báo bão, biết trước sự vận hành của thời tiết; nhưng vẫn còn mịt mờ với bao nhiêu biến động thường xuyên trong lòng đất và ngoài vũ trụ.  Ai biết trước được bão tố, cuồng lưu, sóng thần, động đất sẽ đến khi nào. Trước thiên nhiên, con người nhỏ bé vừa nông nổi tự hào về những tiến bộ của khoa học trong thế kỷ 20, bỗng chững lại trước trước những biến dịch không lường từ bên ngoài vũ trụ. Con người cầm vũ khí nguyên tử trong tay mà run sợ về sự mong manh của mình trước những cơn bão từ trường, những lối vận hành khốc liệt của các thiên thể, những sự va chạm của thiên hà mà trái đất này còn bé mọn và mau tan hơn cả một hạt bụi trần.

Những người ở riêng trong lĩnh vực tâm linh và khoa học càng ngày càng gần nhau hơn qua dòng tâm cảm và qua kiến thức, suy tư về một khái niệm truyền thống dường như bí ẩn nhưng càng ngày càng hiện ra rõ mặt.  Đó là ngưồn năng lượng tự nhiên và thiêng liêng trong đời sống vũ trụ và trên hành tinh này.  Nguồn năng lượng tuy không hình, không dáng, rỗng lặng nhưng lại bao la, bát ngát, bao trùm hết thảy.  Nó phi thời gian, phi không gian, phi hình tướng nhưng ở đâu, nơi đâu và thời nào cũng có.  Nó thu liễm và phát tiết ra thành những làn sóng vô hình.  Khi những cơn sóng có cùng tần số thì bắt gặp nhau, giao thoa với nhau để tạo thành một loại năng lượng mới tạm thời hay dài lâu:  Sóng lành kết tụ thành năng lượng lành đầy vui tươi, nhẹ nhàng, an lạc và giải thoát. Sóng dữ kết tụ thành năng lượng dữ đầy cuồng nộ, tàn phá và đổ vỡ tang thương.  Mỗi sinh vật là một đối thể cô đơn nhưng thường tại và năng động để thu và phát năng lượng qua những tần số mang sóng lành hay dữ.  Con người vừa cô đơn, vừa “độc tôn” vì ai ăn nấy no, ai dò nấy biết.  Những thần thánh và những nhà tiên tri là những “trạm” thu và phát sóng có tần số diệu kỳ chứ không phải là nguyên nhân tạo sóng.  Gần gũi với các bậc thiện lành chân chính, bất cứ trong lĩnh vực nào, con người cũng sẽ được lợi lạc thu nhiễm được định lực của những lượn sóng lành qua tâm, qua trí.

Đức Phật xuống đời mang cho đời một nguồn an lạc. Sóng lành mùa Phật Đản từ mấy nghìn năm trước không biết có khác chi mấy nghìn năm sau. Nhưng con người bỗng thấy gần nhau hơn và nhìn vào đất trời lộng gió sâu hơn qua hương sen trên hồ và tiếng chuông chùa trầm ngân rơi dần vào tịch lặng.

Mùa Phật Đản đầu tiên – mà thế hệ Chiến Tranh Việt Nam 4x & 5x chúng tôi được thấy – trên quê tôi đang về có sớm quá hay muộn màng thì chỉ có những mùa sen trên Bàu Lộ hay dưới những ao hồ mới biết.  Đó là ngày 8 tháng Tư ta năm 1955, khi tôi 10 tuổi.  Những xóm nghèo trên quê tôi đón hòa bình vui như chim ca nắng mới. Chút yên ổn vừa hồi sinh sau ngày hòa bình trở lại với hiệp định “Giơ neo” chia đôi đất nước năm 1954.

Trong ký ức của tuổi thơ, tôi chỉ còn nhớ cái nền xi măng đầy gạch ngói vụn còn sót lại của ngôi chùa Làng bị bom đạn tàn phá. Người ta làm một cái rạp bằng tranh tre và lợp lá cau. Cũng có “lễ đài” dựng lên. Rơm rạ cột thành bó vuông chồng lên nhau làm nền và bao quanh bằng những tấm cót đan bằng tre, nứa màu trắng đục.  Lũ trẻ trong làng thích nhất là cái tượng “Phật mới sinh” to bằng hai người thường, vừa được những nhà… nghệ sĩ nông dân trong làng vẽ lên trên tấm cót có ba cây tre bắt chéo làm giá đỡ đằng sau.  Tôi được nhìn tận mắt mấy chú trong làng dùng mực xạ màu đen, củ nghệ màu vàng, hột mồng tơi màu tím, bao nhang dầm trong nước màu đỏ và mực xanh bình dân học vụ để vẽ tượng Phật. Lần đầu, tôi được nhìn “ôn Phật” mới sinh, một tay giơ lên trời, một tay chỉ xuống đất, môi đỏ chót, miệng cười toe… vui chi lạ! Đã 56 năm rồi mà tôi vẫn chưa quên lời bình luận của mấy bác trưởng tộc trong làng về bức tượng Phật Đản Sinh đầu tiên trên quê tôi, rằng:  “Mấy chú quen đi cày, mạnh tay vẽ ông Phật mới sinh mà mặt mũi già khằn như ông cụ già 5, 6 mươi tuổi!” Ấy thế mà không sao cả. Nghe đâu lễ đài làng Liễu Hạ chúng tôi vẫn được chấm hạng nhì trong toàn xã Hương Cần năm đó. “Kính lão ngoan đồng cầu đắc thọ” chăng?!

Sớm mồng 8 tháng Tư ta là ngày Phật Đản. Mỗi làng là một đơn vị rước Phật về tập trung trên đồng lúa mới gặt. Có một lễ đài chung cho cả 7 làng và 3 phe trong xã. Cả 10 đơn vị sẽ cử hành chung một lễ Phật Đản chính thức. Thuở đó, chưa có Gia Đình Phật Tử trong địa phương. Sắp nhỏ có cha mẹ sinh hoạt ở chùa thì được xếp vào hàng “thiếu nhi Phật tử”. Trong mùa Phật Đản đầu tiên sau ngày hòa bình trở lại năm ấy, dân làng chúng tôi vốn đã chịu nhiều tang thương và đau khổ của chiến tranh suốt mấy mươi năm, nên ai cũng muốn gần gũi một chỗ dựa tinh thần an lành và vô sự. Hình ảnh ông Phật trầm tư muôn thuở và lời kinh từ ái, thuận hòa của đạo Phật đến với dân làng như những giọt nước mát rưới trên vùng khát vọng khô héo đã bao năm qua. Bởi vậy, lễ rước Phật   trong ngày lễ Phật Đản nầy không ai chủ xướng vận động kêu gọi nhưng lại trở thành một ngày lễ hội thân thiết với dân làng, những người sau cuộc chiến đang thiết tha tìm cầu nẻo thiện.

Đám rước mộc mạc và đơn sơ nhưng ai cũng nếm được chút hương vị đượm tình khó tả như mùi vị đồng chua nước mặn.  Nắng mùa Xuân trên con đường Nhứt càng lên cao, đám rước càng dài ra. Tự phát. Những Thiếu nhi Phật tử chúng tôi được xếp hàng hai, mỗi đứa cầm một cây đèn ú, đi trước, ngay sau giá tượng “ôn Phật” có hai lọng che. Tiếp theo có kiệu hương án và hai giá trống chiêng; mỗi giá do hai người gánh.  Đám thanh niên trong làng thay phiên nhau gánh từ chùa Làng cho đến địa điểm hành lễ chung, đi bộ chừng một giờ.  Tất  cả giàn giá là bộ đồ gánh đám ma của Làng được mượn tạm và trang trí, chế biến lại theo “kiểu Phật” với nhiều chữ vạn, hoa sen và những đường hoa văn cắt xén đơn sơ, thoáng nét vụng về nhưng đầy… hỷ xã. Chúng tôi đã được tập dượt tối hôm qua tới khuya. Đám bé quê lần đầu được người lớn công nhận, cho tham gia một vai trò lễ nghi trong một đám rước nên đứa nào đứa nấy đều sung sướng và hãnh diện như cậu ấm về làng.  Bởi thế, đứa nào cũng mở hết khẩu độ bình sanh của tuổi hoa niên để vừa đi vừa hát vang trời bài “Vui Mừng Gặp…” theo điệu đăng đàn cung: “Vui mừng gặp ngày nay, mồng 8 tháng tư.  Ngày khánh tiết, Phật Thích Ca ngài, hiện về Ca Tỳ La Vệ trong đời khổ, vận đức từ bi…”

Tiếng hát vang lừng của tuổi thơ hòa với tiếng chuông trống trầm hùng và lời niệm Phật của tuổi già tạo nên một đám rước rỡ ràng đầy kính ngưỡng là “dấu Phật” in bóng trên đường quê sau ngày hòa bình trở lại.  Phật Đản, không phải chỉ có một ngày mà là một mùa kể từ khi đám sen trong hồ nhú lên và nứt ra từng lá mới cho đến những ngày các chùa lắng lòng trong ba tháng an cư kiết hạ của chư Tăng, Ni và trãi dài cho đến tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân.

Rồi thời gian đi qua, ngày Phật Đản mồng 8 tháng 4 theo Trung Quốc thay đổi.  Bài “Vui mừng gặp ngày nay mồng 8 tháng Tư…” không còn hát nữa khi ngày Phật Đản đổi sang Rằm tháng Tư theo truyền thống chung của Phật giáo Thế giới chọn ngày trăng tròn tháng Năm làm ngày Phật Đản (Vesàkha, Vesak).  Nói đúng hơn là Mùa Phật Đản vì thời điểm được chọn theo Phật giáo của mỗi nước không giống nhau, thống nhất trong cùng một ngày như ngày Chúa Giáng Sinh – Noel, Christmas… 25 tháng Chạp.  Ngày 15 tháng 12 năm 1999, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã chọn một ngày Văn Hóa Phật Giáo gọi là “Ngày Tam Hợp Thiêng Liêng Phật Đản” (The Thrice–Sacred Day of Vesak). Đây là một thời điểm biểu tượng bao gồm cả ngày đản sinh, ngày thành đạo và ngày nhập diệt của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong một thập niên qua, Phật giáo thế giới đã có ngày lễ hội Tam Hợp Phật Đản hàng năm chung cho Phật giáo toàn thế giới, hay Phật giáo của nhiều nước trong từng vùng địa lý thích ứng.  Mùa Phật Đản 2600, tức là 2011 theo lịch Công nguyên, Vesak nhằm vào ngày 17 tháng Năm.  Lễ hội Phật Đản Vesak quốc tế năm nay sẽ được tổ chức tại thủ đô Bangkok của Thái Lan từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 5.  Tuy nhiên Phật giáo của mỗi nước như Tích Lan, Miến Điện, Trung Hoa,  Đài Loan, Nhật, Lào, Cam Bốt, Mã Lai, Việt Nam, Singapore, Úc… sẽ tổ chứa Vesak riêng.  Tại các nước Âu, Mỹ thì Vesak được tổ chức theo từng vùng.  Như ở miền Bắc California, lễ hội Vesak 2011 sẽ được tổ chức tại chùa Kim Quang, thành phố Sacramento, trong hai ngày 28 và 29 tháng 5 với sự tham dự của các phái đoàn Phật giáo thuộc nhiều nước đang sinh hoạt trong vùng.

Dẫu cho đứng ở vùng đất hay thời điểm nào thì sự kết hợp giữa đời sống thể lý và tâm linh vẫn là yếu tính của con người.  Đạo Phật không đem Đạo từ ngoài để gieo vào đời sống tâm linh của con người.  Đạo Phật khơi mở để giúp con người thấy được “Đạo” đang có sẵn trong chính lòng mình.

Có những tâm hồn như “hóa Phật” khi tiếp cận với những năng lượng an lành trong mùa Phật Đản. Người Việt chỉ mới đạt tới phần thẩm mỹ của tâm hồn khi thu nhiếp sóng lành mùa Phật Đản.  Nếp cũ tâm linh và văn hóa được gọi là “đạo Thờ Cúng Ông Bà” của người Việt mới chỉ ở mức độ là phần cảm tính.  Khái niệm tôn giáo dân gian của người Việt chưa rõ ràng và lan tỏa trong đời sống văn hóa xã hội như tôn giáo dân gian Thần Đạo (Shinto) của người Nhật Bản.  Thần Đạo không có kinh điển nhưng có tới 800 huyền thoại và chuyện thần thoại để làm căn bản cho thế giới quan và nhân sinh quan của dân tộc họ.  Trong khi nếp tâm linh dân gian truyền thống của người Việt chúng ta vẫn còn mờ nhạt như những viễn mơ đầy sương khói.

Khác với hàng Tăng lữ Việt Nam xuất gia là xuất thế, các thiền sư Nhật Bản đồng thời cũng là những đạo sĩ Thần Đạo nhập thế. Từ thế kỷ thứ 6, đạo Phật đã hòa quyện với Thần Đạo để hình thành một dân tộc tính vừa mạnh mẽ, vừa nhu hòa giúp con người vươn lên trong tâm bình và trí lạc.  Trong thiên tai động đất và sóng thần kinh hoàng kéo theo hệ lụy vỡ lò nguyên tử xảy đến cho dân Nhật trong tháng 3 – 2011 vừa qua đã làm cho toàn thế giới sững sờ và kinh ngạc trước phản ứng đầy hy sinh, chịu đựng quá kham nhẫn và chánh định của một dân tộc anh hùng. Nhật có thể không bằng các nước Âu Mỹ hàng đầu về khoa học kỹ thuật. Nhưng trình độ dân trí, khí phách kiên cường và lòng yêu nước, yêu dân tộc, yêu thiên nhiên và con người của dân tộc Nhật biểu hiện trong cảnh tai ương nạn khổ của đất nước họ vừa qua, rõ ràng là chưa có nước nào sánh kịp trong một hoàn cảnh tương tự. Cộng đồng thế giới ngưỡng mộ phong cách trầm tĩnh tự điều phục, sự dấn thân trong tinh thần kỷ luật cao độ, lòng hy sinh âm thầm không tên tuổi, tình tự dân tộc dâng trào không băng cờ khẩu hiệu của người Nhật.

Một câu hỏi nổi lên tự nhiên là những yếu tố tinh thần và văn hóa nào đã un đúc nên một dân tộc tính cao đẹp như thế. Có nhiều cách nhìn nhưng tựu trung có 4 hướng chính:  Đó là từ phía truyền thông đại chúng, phía doanh nhân và khoa học kỹ thuật, phía chính trị cầm quyền và phía xã hội tôn giáo.  Những yếu tố hình thành và chi tiết tạo tác tương ưng cái “tinh thần Nhật Bản” ấy tuy khác nhau nhiều về cách thế, nhưng câu trả lời xương sống mà hầu như mọi phía đều đồng ý là:  Dân tộc Nhật Bản từ thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên đã sống và chiến đấu bằng tinh thần Thần Đạo; nhưng cung cách xử thế tiếp vật trầm tĩnh, kham nhẫn và ý chí chịu đựng để sáng suốt vươn lên trong mọi tình huống cay nghiệt nhất đã được un đúc bằng tinh thần Phật Giáo. Dân Nhật có 130 triệu nhưng hơn 100 triệu là tín đồ Thần Đạo Phật Đạo. Sự tĩnh tại của đạo Phật là một sức mạnh tinh thần nội tại. Tôn giáo không khuất bóng trong những suy niệm siêu hình mà thể hiện thành một “tinh thần Nhật Bản” có bản sắc dân tộc đầy dũng cảm, hy sinh, tự chế và tự trọng làm cho thế giới nghiêng mình cảm phục.

Suốt 15 thế kỷ sóng lành của đạo Phật đã thường xuyên có mặt bên cạnh những ngọn sóng thần đầy cuồng nộ – cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng – trong dòng lịch sử nhiều thăng trầm của nước Nhật.

Nhà văn Trần Mộng Tú đã có một đoạn viết rất đẹp về hình ảnh và tinh thần Võ sĩ Đạo – Samurai – của Nhật: “Hầu hết những nguyên tắc của Võ Sĩ Đạo đều dựa trên căn bản triết lý của đạo Phật và Thần đạo. Thần đạo thiên về khía cạnh tích cực, hướng dẫn con người thăng hoa vật chất, phát huy tối đa sự sáng tạo, xây dựng một xã hội vượt bực bằng tất cả khả năng của mỗi cá nhân. Trong khi đó Phật giáo giúp cho con người nhìn thấy cái phù du của đời sống, cái hư ảo của mất còn. Hai tôn giáo này đã nằm trong máu người dân Nhật. Nên với những phẩm hạnh đó, các Samurai hành xử qua sự thấm nhuần tư tưởng Phật Giáo, đặc biệt tinh thần an nhiên của Phật Giáo Thiền Tông, đơn giản và tĩnh lặng. Họ trở thành những anh hùng đơn giản và bình tĩnh trước mọi tình huống. Samurai tự coi mình mang vẻ đẹp thanh cao và lý tưởng của hoa Anh Đào. Khi nắng xuân ấm áp những nụ hoa Anh Đào đang khép, nở bung ra, nó khoe tất cả những nét đẹp tuyệt vời của từng cánh hoa. Nhưng khi một trận gió, một cơn mưa xuân đến thổi tung cánh hoa lìa cành, nó cũng dâng hiến một trận mưa hoa ngoạn mục trong không gian, để mọi người đứng ngẩn ngơ chiêm ngắm. Sống và chết, hoa Anh Đào cùng khoe vẻ đẹp dù mong manh ngắn ngủi.”

Từ một vùng quê Việt Nam vô danh sau chiến tranh như làng tôi cho đến điểm nóng trong mắt nhìn thế giới như nước Nhật hôm nay, đạo Phật đã đến và ở lại không hồ nghi, phân biệt. Tánh Phật giữa đời thường có khi nhỏ bé và đơn sơ như một hạt cát: Lành. Có khi cao rộng, thâm sâu mà vô tâm như suối nguồn hạnh phúc: Xả !

Năm nay, mùa Phật Đản lại về trong khung cảnh toàn thế giới đang trải qua nhiều biến động chẳng lành. Thiên tai xẩy ra liên miên ở nhiều nơi gieo nhiều tang thương và bể khổ. Nhiệt độ trái đất đang nóng dần kéo theo khả năng hủy diệt môi trường sống.  Ngôn ngữ súng đạn thay cho ái ngữ cảm thông thương thảo hòa bình trong quan hệ quốc tế. Chỉ riêng tại xứ Hoa Kỳ nầy, đầu năm ở miền Đông có những đàn chim hàng chục nghìn con đang bay rợp trời bỗng rơi xuống chết đầy đường. Cùng thời gian động đất xảy ra ở Nhật, ở bờ biển phía Tây Nam California, hàng triệu con cá chết đột ngột, xác đóng dày bãi biển tới 30cm mà không hiểu nguyên nhân vì sao. Hiện tại, tin từ Florida cho biết trong vùng vịnh Mexico cực Đông Nam của Mỹ, đang có hàng chục nghìn con cá voi khổng lồ kết thành một vòng tròn chợt biến, chợt hiện chẳng biết vì lí do gì. Người ta lo ngại hiện tượng “chim sa cá… chết” là điềm báo trước chuyện chẳng lành. Cho dẫu đó là những hiện tượng thiên nhiên do sự biến động môi trường sinh thái đang âm ỉ hoặc bừng bừng diễn ra trên địa cầu hay chỉ là sự  trùng hợp ngẫu nhiên thôi, nhưng tại sao con người càng văn minh tiến bộ, càng no cơm ấm áo – cứ ngỡ như  đang đứng lấp ló ở cửa Thiên Đường, Niết Bàn – lại càng canh cánh nỗi lo bên mình đến thế.

Điều nghịch lý đầy mỉa mai cho khát vọng hòa bình an lạc của con người là phương tiện vật lý càng giàu có thì kết quả tinh thần càng nghèo khó. Khoa học kỹ thuật và giao thông vận tải phát triển, những tưởng càng ngày con người càng có điều kiện đến gần nhau hơn. Nhưng thực tế thì lại càng tạo ra mầm đối đầu và xung đột nhiều hơn là cảm thông và hóa giải.  Môi trường truyền thông đại chúng như báo chí, truyền hình, truyền thanh, mạng lưới vi tính, điện thư, điện thoại cầm tay… ngỡ như giúp con người sống chan hòa, chia sẻ với nhau giữa lòng cuộc đời thì lại càng làm cho những đối tượng hiểu lầm, cô đơn và xa cách nhau nhanh chóng hơn.

Phải chăng vì “một dòng nước trong năm bảy dòng nước đục” đang xâm lấn địa cầu nên năng lượng lành càng ngày càng mất. Sóng đời thô nhám quá nên khó bắt được sóng lành co rút lại, ẩn sâu kín trong đáy lòng người khó ngoi lên được.

Đức Phật ra đời, đem đến cho trần gian một pháp môn vi diệu nhất: Buông xả. Khi tất cả đều trống không và rỗng lặng thì ôm đồm và khư khư nắm giữ gì đây?! Đạo Phật kế thừa đem đến cho người phương thuốc thần diệu nhất: Thêm vui, bớt khổ. Cho đến một ngày chỉ có toàn niềm vui là ngày đắc đạo!

Ngày 31 tháng 3 năm 2011, một người Nhật tên là Masaru Emoto, gởi điện thư cho nhiều người trên thế giới. Anh là một nhà khoa học và cũng là một nghệ sĩ, tự nhận mình là một Người Mang Thông Tin của Nước (Messenger of Water).  Trước hết anh chứng minh rằng, công thức về năng lượng lừng danh của nhà bác học Albert Einstein, E=MC², thật sự có nghĩa rằng:  Năng lượng = Số người nhân với bình phương của lương tâm. (Energy = Men × Conscience²) Bởi thế theo sự hiểu biết và trải nghiệm của anh trong suốt 20 năm nghiên cứu và làm việc với môi trường Nước thì nước thiên nhiên đã trở thành trong mát hơn khi nó nhận những làn sóng rung động vi tế xuất phát từ tấm lòng lành cầu nguyện của con người, bất luận dẫu cho sóng lành cầu nguyện đó ở cách xa bao nhiêu.  Trong hoàn cảnh bi thảm của lò nguyên tử Fukushima bị rò rỉ sau trận động đất tại Nhật, phóng xạ nguyên tử mang khả năng giết người và mọi loài sinh thể đã tìm thấy lan vào trong vùng nước xung quanh.  Theo Emoto, sự khôn ngoan của trí tuệ con người chưa đủ cứu nguy khi sóng nước thiên nhiên đã và đang đến hồi cuồng nộ, nhất là dòng nước bị con người đưa vào lò phản ứng nguyên tử để làm dịu lại nguy cơ nóng chảy các thiết bị kích hoạt phản ứng.  Cần phải có sóng lành của tâm hồn mới mong góp phần cứu khổ.  Anh tha thiết khẩn cầu nhân loại trên toàn thế giới đúng 12:00 giờ trưa hôm nay tại múi giờ của mình, xin lắng lòng cầu nguyện để chuyển tải năng lượng lành tới cứu nguy cho vùng đất trời đang bị nạn.  Lời cầu nguyện: “ Xin hướng về Nước của Lò Nguyên Tử Fukushima, chúng tôi xin tạ lỗi đã làm cho Nước phải chịu đựng khổ đau.  Xin tha lỗi cho chúng tôi.  Xin cảm tạ Nước với lòng yêu thương.” (The Water of Fukushima Nuclear Plant, we are sorry to make you suffer.  Please forgive us.  We thank you and we love you.) Một lời nguyện đơn giản thế thôi, nhưng nếu được cả hàng tỷ người cùng phát sóng từ trái tim mình, năng lượng giao thoa sẽ có hùng lực không thể nghĩ bàn, xoay chuyển được những chuyển động của vũ trụ.

Không phải chỉ có ngày hôm nay mà ước mong mùa Phật Đản năm nay và mãi mãi rằng, chỉ có sóng lành trôi chảy trong tâm thức của nhân gian để cho bụi đời lắng xuống: Một con nước đục, một chục dòng trong. Chỉ có sự trong ngần mới thấy được nhau để cảm thông và hóa giải.

Sacramento, mùa Phật Đản 2600; Vesak 2011

© Trần Kiêm Đoàn

© Đàn Chim Việt

15 Phản hồi cho “Sóng lành mùa Phật Đản”

  1. Võ Hưng Thanh says:

    ĐÁP LẠI LỜI ÔNG MASARU EMOTO

    Sự trải nghiệm của ông tôi hoàn toàn thừa nhận. Nó là kết quả của cả 20 năm đâu có ít.
    Thế nhưng, theo tôi, công thức của nhà bác học A. Einstein E = mc2 nói chung là công thức vật lý thuần túy. Đây tôi muốn nói định lượng mà không phải định chất. Cho nên đem công thức này vào thế giới tâm linh thật sự cũng chẳng khác mang râu ông nọ cắm cằm bà kia. Điều này chính Mác cũng đã làm rồi. Mác đem biện chứng pháp của Hegel cắm vào thuyết duy vật của mình là hoàn toàn trật chìa, không thích đáng. Lý thuyết nhà Phật cũng vậy, hoàn toàn là lý thuyết tâm linh, nên nếu đêm đồng hóa vào ý nghĩa định lượng của vật lý thì hoàn toàn không cần thiết. Điều này cũng giống như quan điểm định lượng và định tính trong Hegel có nói. Hegel nói lượng biến thành chất là nói theo cách nhận thức luận của mình. Thế nhưng những người mác xít lại hiểu nông cạn, lý giải lượng biến thành chất theo kiểu hoàn toàn vật chất, thật tức cười hết sức, ngộ nghĩnh hết sức. Chính tôi muốn viết một cuốn sách để vạch ra những điều tinh tế này, nhưng từ lâu nay việc xuất bản ở VN quá tệ nên không thể nào làm được. Chỉ ngậm bồ hòn cho vui mãi vậy. Nên chi nhân dịp này cũng chỉ tâm sự thêm với ông Emoto và nhất là những nhà Phật học uyên thâm nói chung cho vui vậy mà.

    VHT

  2. Cu Tý says:

    Thấy nhỏ bé mới lớn lên như Phật,*
    Thấy sân si thoáng mất sân si.
    Có không không có là gì ???
    Tuyết trong chén bạc có chi luận bàn.

    Hò xang cống líu nhặt khoan !!!

    *Tam thiên đại thiên thế giới trong một vi trần. Trong một vi trần dung chưá hằng hà sa số tam thiên đại thiên thế giới.

    • Võ Hưng Thanh says:

      TRẢ LỜI ÔNG CU TÝ

      Ha ha người giỏi là đây
      Tôi nghe ông nói biết ngay vậy mà
      Ông hiểu biết thật là đáng nể
      Phật học kia chắc hẳn hơn tôi
      Nên nghe ông nói mấy lời
      Tôi liền tự thấy mình thời rất vui
      Mình rất vui gặp người đồng đạo
      Nên luận bàn rất đáo tâm can
      Cho dầu tôi trắng ông vàng
      Nhưng đều thấm Phật rõ ràng mới hay !
      Mì sol lá đô rê rề xí
      Ông thấy tôi khách khí chi đâu
      Nói lời được đáp bằng lời
      Còn như nốt nhạc lại thời hiểu nhau !

      VHT

  3. lotxac says:

    Dù ai có dùng đủ thuật ngữ của thế gian để ca tụng;để tán thán về ngày ra đời của Đức Phật, tu chứng của Đức Phật, và nhập diệt của Đức Phật cũng không diễn tả hết sự chứng đắc của ngài bằng ngôn ngữ của nhân gian:
    Thân Phật Thanh-Tịnh tợ lưu-ly.
    Tŕi Phật sáng ngời hơn trăng sáng.
    Phật vào thế gian là CỨU KHỔ.
    Tâm Phật không đâu không TỪ-BI.
    Nhìn vào bức tranh : ĐẢN SANH trong vườn LÂM TÌ NI, và bạn nhìn từ mỗi cử động của THÁI-TỬ KIỀU TẤT LA; THÍCH CA TẤT ĐẠT ĐA trong ngày Ngài ra đời theo Tàu Lịch lấy ngày 08/ 04 trước làm ngày Phật-Đản; Ngài bước đi 07 bước; trên mỗi bước nở lên đoá SEN. Trong khi đó; hoàng hậu Ma-gia đang trên tay giơ lên hái đoá HOA VÔ ƯU; một loại hoa chỉ nở ra khi nào có đấng CỨU THẾ giáng TRẦN; bên cạnh đó chư thiên trên không trung trổi nhạc; mưa hoa etc…mang theo nhiều ý-nghĩa TRIẾT LÝ CAO VỜI của vị PHẬT hay THÁNH NHÂN ra đời. Ngày ấy; vào buổi sáng; mắt trời mới mọc biểu hiện cho NHÂN THẾ từ người đến muôn vật chan hoà với ánh nắng ban mai… đang vui mừng có một THÁNH NHÂN ra đời…đó là Ý NGHĨA biểu hiện trong BỨC TRANH :
    Vui mừng gặp ngày nay… mùng tám tháng tư; lễ khánh tiết: PHẬT THÍCH CA ra đời. Thị hiện Ca-tì la-vệ; trong đời khổ gắng sức TỪ BI….
    Trong Kinh nói: Đức Phật ra đời là một ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN;để KHAI THỊ CHÚNG SANH; NGỘ NHẬP VÀO TRI KIẾN PHẬT.
    Tại sao gọi là ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN; vì trước khi Ngài thị hiện vào cõi Đời này; Ngài đã là một vị Bồ-Tát đã gieo trồng; tu tập rất nhiều kiếp trước đến kiếp cuối cùng Ngài đã có tên là Bồ Tát Hộ Minh; và đã đến lúc quan sát đủ duyên để vào cõi đời này ( còn gọi là cõi Ta-Bà ); thị hiện vào giòng giõi con nhà VUA; rồi từ bỏ NGAI VÀNG; VỢ ĐẸP; CON NGOAN; CUNG ĐIỆN etc… khác với những vị VUA; CHÚA khác; khi lên được NGAI VÀNG thì ôm lấy nó cho đến muôn đời.
    Khác với người Đời : Đức Phật thành Phật dưới GỐC CÂY; sau 06 năm, và 49 ngày thử thách với MA-NỮ; CÁM DỖ VẬT CHẤT; mọi thứ để chứng đắc LỤC THÔNG : trong đó TÚC MẠNG THÔNG là một trong 6 thông mà tôi muốn bàn tới: Ngài biết được vô số kiếp của chính NGÀI, và của CHÚNG SANH trong nhiều kiếp; tức là Ngài muốn nói cho ta biết rằng:Sau khi ta chết là nhân của cái sanh; có nghỉa là chúng ta không phải chết là hết.
    kế đến : THIÊN NHÃN THÔNG; và THIÊN NHĨ THÔNG mà Ngài đạt được; thông suốt được; hay mở ra được để nghe được những dư âm từ thế giơí này qua thế giời khác; từ loài người cho đến loài vật khác, và thấy từ thế giới này qua thế giới khác; từ loài này qua loài khác.. .mãi cho đến ngày hôm nay; các khoa-học gia đã nhiều năm nghiên cứu; học hỏi, và thí nghiệm etc… thì mới đạt được một phần nhỏ của hai thông này của ĐỨC PHẬT; đó là sự thật tôi đã nêu ra đây; thưa quí vị. Thí dụ : cách đây hơn 2500 năm Đức Phật đã khuyên các vị Tỳ-Khưu mỗi bước đi phải niệm chú; lọc nước để dùng phải niệm chú cho chúng sanh được siêu thoát; tránh giết hại chúng sanh; dù là vô tình… đến khi khoa học đã bắt đầu phát triển; chính nhà bác học Pasteur đã cho trong SỮA (MILK ) có vi khuẩn; thì người ta không công nhận; cho đến khi ông làm thí nghiệm vài lần và xác nhận là có VI TRÙNG trong sữa. Đức Phật nói lúc Ngài nói : THẾ GIỚI TRÙNG TRÙNG DUYÊN KHỞI…
    Đến hôm nay; ta đã nhờ khoa học nhìn qua viễn vọng kính; ngoài trái đất này; có nhiều thế giới khác.
    Còn nhiều; điều mà chúng tôi đã học và nghiên cứu về Đức Phật THÍCH CA thi hiện vào cõi đời này không ngoài mục đích : MỞ MẮT CHÚNG SANH NGỘ NHẬP VÀO CÁI THẤY của PHẬT; vì vậy đức PHẬT chỉ nói câu này: TA là PHẬT đã THÀNH, mà CHÚNG SANH là PHẬT sẽ THÀNH. Nhưng than ôi ! Thế giới này lửa đang bốc cháy; đang thiêu đốt chúng sanh từ muôn nẻo; giàu cũng bị đốt; nghèo cũng bị đốt: Múi lửa; Tsunami; nguyên tử; chiến tranh tôn giáo; chiến tranh dầu hoả; chất phóng xạ; màn Ô-ZÔN bị thủng… khiến thiên tai mỗi năm một ÁC NGHIỆT; khiến muôn dân kêu than (mourn ) thảm thiết khắp năm châu. Ai có nghe chăng ? MÙA ĐẢN SINH năm nay; hãy cùng về với TÍNH PHẬT trong ta; hãy cùng nhau : CẦU CHO NHÂN LOẠI VƠI KHỔ ĐAU trong tiếng KINH CẦU.

  4. Tân Phong says:

    Nghĩ về Cakya-Mouni (Thích-ca Mầu-ni)

    *
    Bài của tác giả Trần Kiêm Đoàn rất hay với những sự kiện thực về loài vật; Con người nhận biết thế giới qua công cụ do mình tạo ra nên khiếm khuyết so với sinh vật cảm thụ trực tiếp. Công thức E = M.C² được giải thích rất hay; Energy đúng ra là „cộng năng“ theo tinh thần „giá trị cộng năng của hệ thống lớn hơn tổng năng lượng các hợp phấn“.

    *
    Góp ý cùng ông Võ Hưng Thanh:
    Khi „dấn thân rừng núi“, Đức Cakya-Mouni chưa „nhằm cứu khổ“ mà chỉ là bước tìm „giác ngộ“. Ngài chỉ bắt đầu con đường cứu khổ khi „chuyển pháp luân“ đi giáo hóa chúng sinh.
    Thứ hai là không nên ca ngợi Ngài theo cách nói rằng „chỉ thấy mình nhỏ bé“ như kiểu ca ngợi các lãnh tụ trần thế. Sự thực, Đức Cakya-Mouni luôn coi mọi chúng sinh cùng bình đẳng với Ngài khi nói: Ta là Phật (Buddha = Giác giả) đã thành; Chúng sinh là Phật sẽ thành.

    Thân mến.
    (Thiện Hảo)

    • Võ Hưng Thanh says:

      LỜI ĐÁP CHO THẦY THIỆN HẢO

      Thi ca vẫn luôn là hình tượng
      Đâu phải như ngôn ngữ thường tình
      Thơ là cái thể tinh anh
      Đời thường chỉ cái dụng hình mà thôi
      Nói về Phật cần đâu chi tiết
      Đẫy cõi thiền sắc sắc không không
      Nói đơn hiểu kép trong lòng
      Ấy là công án phán xong hiện liền
      Chân tu vốn cách chân truyền
      Còn đời là cách công truyền chi li
      Đường đạt đạo nhiều khi tích tắc
      Thầy chủ quan nên nghĩ phiên ra
      Hiểu theo trực giác mới là
      Hiểu theo tâm thức mới đà tu chân !

      VHT

  5. D.Nhật Lệ says:

    Về già,ông TKĐoàn thay đổi nhân sinh quan là hợp lý hợp tình nhưng trái lại,trong thời trẻ tuổi,ông hùng hổ ghê lắm từng xuống đường hò hét đòi dân chủ,đạo pháp này nọ v.v.Giá mà ngày xưa ông thấm nhuần giáo lý từ bi của Đức Phật thì đâu đến nỗi ngày nay,VC.chơi trò 2 mặt vừa dung dưỡng PG.quốc doanh và vừa đày đoạ PGVNTN.của HT.đáng kính phục Thích Quảng Độ mà ông từng là 1 Phật tử thuộc PG.chân chính này !
    Chẳng lẽ bây giờ là lúc cần bảo vệ đạo pháp nhất thì ông lại tìm cách lẩn tránh như thế hay sao ? Đó
    là câu hỏi mà tôi xin mạo muội đặt ra cho ông trả lời thì tôi cám ơn ông lắm.Trân trọng chào ông.

    • Bọn hèn nhát trốn lính nằm vùng .. .. Bây giờ chúng đang núp bóng dưới Từ bi Đức Phật, núp bóng dưới Chí sĩ Phan Châu Trinh , núp bóng dưới Trịnh Công Sơn RU NGỦ quần chúng chứ chính lúc này đây NẾU CHÚNG gọi là hối hận ăn năn thì phải vén tay áo vào với Phong trào trong và ngòai Nước đứng lên tranh đấu cho NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN DÂN CHỦ TỰ DO qua vụ án CÙ HUY HÀ VŨ !

  6. son tung dao si says:

    Tiếng chuông vọng đưa hồn vào cõi tịnh
    Kiếp nhân sinh tỉnh giấc mộng Nam Kha !
    Thị phi,phải trái như là
    giọt sương ,tia chớp có mà như không !

    • Võ Hưng Thanh says:

      TRẢ LỜI ÔNG SƠN TUNG ĐẠO SĨ

      Thơ ông tôi thấy rất hay
      Ước chi đối đáp mỗi ngày cùng tôi
      Cả hai dòng nước trôi xuôi
      Bon bon ra tận biển khơi mới là
      Lòng ông tôi thấy sâu xa
      Đúng là tính Phật, quả là tính nhân !

      VHT

    • BaWa says:

      Không rồi lại có thưa ông!?,
      Chưa từng đi, đến, như dãtràngcông mới là…

  7. Theo henri says:

    Oi troi ! Ong VHT nay khong co theo dao a . Nghe ong co ve ton sung va nguong mo thuyet phap nha Phat Dan qua , vay ong nen theo Dao di la vua , bo ta thuyet cong san di nhe ong , lon tuoi roi ong phai lo cho phan hon chu !

    (BBT: Mời ông bà vào vpskeys.org tải phần mềm gõ tiếng Việt).

    • Võ Hưng Thanh says:

      GỬI ÔNG THEO HENRI

      Tôi là trắng, không xanh hay đỏ
      Ông đừng lầm, nhiều lắm chỉ vàng thôi
      Vàng quê hương và vàng trong ánh Phật

      VHT

  8. Võ Hưng Thanh says:

    ĐỨC PHẬT

    Tôi kính cẩn nghiêng mình trước Phật
    Cho dù tôi không theo đạo trên đời
    Đản sinh ngài tôi kính lòng cảm kích
    Ngài bao dung trên trần thế dễ ai

    Nhiều ngàn năm qua rồi nào ai sánh
    Quả là ngài một ánh sáng thiêng liêng
    Người chỉ đường hòa bình cho nhân loại
    Tiếng của ngài là tiếng nói bình yên

    Ngài là vua lại coi thường ngôi báu
    Vì với ngài nhân loại vẫn cao hơn
    Nhằm cứu khổ ngài dấn thân rừng núi
    Quên mình đi để làm ích cho đời

    Tham sân si đời trầm luân bể khổ
    Ngài quyết tâm tìm lối cứu đời ra
    Tìm giải thoát, nhẹ nhàng trong cứu cánh
    Tâm hồn yên mới chắp cánh bay cao

    Chốn trần thế có bao điều phù phiếm
    Ngài tư duy nhằm chỉ lối cho đời
    Nhân cách ấy thật triệu lần bất diệt
    Ngài gieo mầm thánh thiện khắp muôn nơi

    Trước tượng ngài, chỉ thấy mình nhỏ bé
    Tâm hồn ngài quả vĩ đại bao nhiêu
    Như con én trước bầu trời to rộng
    Ngày Đản sinh tôi muốn nói đôi điều !

    VHT

    • @ bác VHT !

      Nên gởi bài thơ THIỀN PHẬp này cho các bóac sự trọc quốc doanh được Đảng gài răng lược trong và ngòai Nước để dụ khị chuyển càng nhiều kiều hối về cho Đảng để tha hồ nhập siêu hàng dỏm hàng nhái hàng giả cho chậy Nhà máy Thế giới của đồng chấy 16 chữ dzàng ! Chắc trên Cung bàn thờ với Đức Phật, đức PHẬp HCM nhóp nhép cười …!

Phản hồi