|

Thế tiến thoái lưỡng nan của Trung Quốc và cuộc đọ sức tại Châu Á Thái Bình Dương

Thế giới đang trải qua một thời kỳ với những biến chuyển trọng đại trên cả hai mặt kinh tế và chính trị.

Gần một thập niên trước, các nhà kinh tế của Goldman Sachs ghép bốn nền kinh tế đang phát triển Brazil, Russia, India, và China thành “BRIC” với dự đoán các nền kinh tế này sẽ khống chế thế giới. Năm 2010, Trung Quốc trở thành cường quốc có nền kinh tế lớn thứ 2, Bazril – 7, India – 10, Russia – 11. Trung Quốc cũng đã vượt qua Đức ở vị thế là quốc gia có nền xuất khẩu lớn nhất thế giới (1).

Trước trình trạng suy thoái kinh tế của các nuớc phát triển, đặc biệt Hoa Kỳ, các nhà kinh tế kỳ vọng vào sự phát triển của các nước đang phát triển, dẫn đầu bởi Trung Quốc, Ba Tây và Ấn sẽ giúp thế giới sớm thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, và góp phần cho sự phát triển bền vững trong trường kỳ. Song, mối quan ngại và nỗi hoài nghi của thế giới cũng lớn dần theo sự lớn mạnh của Trung Quốc vì những mối giao dịch đầu tư ra nước ngoài thiếu minh bạch và nhất là lối hành xử hung hãn gần đây của quốc gia này với các nước láng giềng.

Tháng 11/2010, tiến sĩ Okonjo-Iweala, giám đốc điều hành Ngân hàng Thế giới đã cảnh báo Trung Quốc “phải minh bạch trong các hoạt động đầu tư, hoặc phải gánh chịu hậu quả vì những cuộc thương thảo không sáng tỏ ở hậu trường” (2). Trên bài bình luận tháng 6/2011, Arthur Herman, New York Post, nhận xét “Trung Quốc trông không giống một siêu cường đang lên mà giống như một kẻ bắt nạt mất kiểm soát” (3)

Dư luận dân chúng quanh thế giới?

Tuy rằng Kết quả của cuộc điều tra tháng 3/2011 do BBC thực hiện với 28 ngàn người tham dự tại 28 quốc gia cho thấy 50% có quan điểm tích cực đối với sự phát triển của TQ và 33% có quan điểm tiêu cực, song số người tin rằng “Sự lớn mạnh của Trung Quốc (TQ) về kinh tế là điều không tốt” tăng mạnh khi so sánh với cuộc điều tra năm 2005, đặc biệt tại các nước phát triển có quan hệ mậu dịch lớn với TQ. Số người có quan điểm tiêu cực về TQ hiện chiếm đa số tại Hoa Kỳ, Pháp, Canada, Đức, Ý, và tăng nhanh tại Anh và Mexico (4).

Đối với người dân Hoa Kỳ, sự lớn mạnh của TQ còn là sự thách thức và nỗi ám ảnh. Theo cuộc điều tra tháng 2/2011 do Gallup thực hiện, có đến 52% dân Mỹ cho rằng TQ hiện là nước có quyền lực kinh tế dẫn đầu thế giới so con số 32% của Hoa Kỳ, dẫu rằng nền kinh tế của Hoa Kỳ (GDP) hiện vẫn vượt trội TQ hơn hai lần theo số liệu của IMF và WB (5).

Từ một góc độ khác, sự lớn mạnh của Trung quốc diễn ra trong bối cảnh các nền kinh tế mới nổi (emerging markets) và các nước Châu Á đã đạt được những bước phát triển rất khả quan trong những thập niên gần đây. Vào đầu thu năm 2004 trên chương trình PBS The Charlie Rose Show, ông Lý Quang Diệu đã tiên đoán Châu Á sẽ tiếp tục phát triển, trở thành trung tâm kinh tế và quyền lực lớn của thế giới trong những thập niên tới. Tháng 11/2010, giáo sư Peter Petri, đại học Brandeis, Massachusetts, Hoa Kỳ, nhận định rằng trong vòng hai mươi năm tới, Trung Quốc và các nước châu Á sẽ thay thế ngôi vị của Hoa Kỳ và châu Âu. Vào năm 2030, thị trường chứng khoán và nền ngoại thương châu Á sẽ lớn hơn các nước phương Tây khoảng 20% (6).

Khu vực Châu Á Thái Bình Dương vốn nằm trung vòng ảnh hưởng chi phối của Hoa Kỳ từ nhiều thập niên qua. Song ảnh hưởng này bị xói mòn nghiêm trọng trong những năm gần đây do sự phát triển kinh tế và mở rộng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc, trong khi Hoa kỳ phải tối mặt đối đầu với hai trận chiến Irag, Afghanistan, và các khó khăn kinh tế.

Tuy nhiên, thời gian gần đây Hoa Kỳ đã có nhiều nỗ lực phục hồi ảnh hưởng tại khu vực chiến lược quan yếu Châu Á, và sự chuyển hướng của chính sách này có thể thấy rõ qua phát biểu của các nhân vật quan trọng trên chính trường Hoa Kỳ. Trong buổi hội thảo về an ninh hàng hải trên biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) tổ chức tháng 6/2011 tại Hoa Kỳ, ông John McCain khẳng định “Khu vực biển Đông là nguồn quan trọng về công việc làm và tài nguyên thiên nhiên có lợi cho nhiều người Mỹ. Tuy nhiên, có lẽ xét rộng hơn là yếu tố chiến lược. Trung tâm địa chính trị thế giới hấp dẫn đang chuyển sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương – một khu vực, trong đó nhiều nước đang trỗi dậy cùng một lúc về sự giàu có và sức mạnh” (7).

Đối với các nước trong khu vực, mối bang giao với Hoa Kỳ và TQ ngày càng phức tạp. Về phương diện kinh tế, quan hệ giữa các nước Châu Á và TQ ngày càng gia tăng và gắn bó. Kim ngạch mậu dịch giữa 11 quốc gia ASEAN và TQ tăng 12 lần trong giai đoạn từ 1995-2008, và tỷ phần giao thương giai đoạn 2000-2008 giữa hai bên tăng từ 4% lên 11.3%, trong khi đó, tỷ phần mậu dịch giữa Hoa Kỳ và ASEAN giảm từ 15% xuống 10.6%. Từ năm 2008, kim ngạch mậu dịch của TQ với ASEAN đã vượt Hoa Kỳ, chiếm vị trí thứ ba, sau Nhật và EU.

Song về phương diện bang giao quốc tế, các quốc gia khu vực không khỏi lo âu trước sức bành trướng và tham vọng của TQ. Vì thế, các nước này một mặt cố duy trì mối giao hảo với TQ, và mặt khác hoan nghênh sự quay trở lại của Hoa kỳ, như theo phân tích của John Roberts tháng 1/2010, nhân dịp TQ và ASEAN thành lập khối tự do mậu dịch: “sự mong muốn duy trì mối bang giao tốt đẹp với Hoa Kỳ của một số nước ASEAN không phải chỉ vì thị trường tiêu thụ khổng lồ của nước này, mà còn là vì Hoa Kỳ là sức đối trọng kinh tế và chính trị đối với TQ” (8). Đây cũng là quan điểm của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Robert gates, phát biểu nhân dịp tham gia Hội nghị An ninh Châu Á hàng năm, do Viện Nghiên cứu Chiến lược tổ chức tháng 6/2011 tại Singapore: “Một trong những điều gây ấn tượng và ngạc nhiên nhất trong chuyến thăm viếng Á Châu lần này là sự mong muốn khắp khu vực được tăng cường mối quan hệ quân sự với Hoa Kỳ, và sự mong muốn này mạnh mẽ hơn rất nhiều so với lần viếng thăm 20 năm trước đây” (9).

Sự hợp tác gần đây giữa Hoa Kỳ với Việt Nam và các nước khu vực trong chiến lược đối phó với TQ về vấn biển Đông là một trong những biểu hiện của chiều hướng nói trên.

Những mối giao dịch đáng quan ngại:

Mối quan ngại của thế giới đối với sự trỗi dậy của TQ được Đại sứ Hoa kỳ tại TQ giai đoạn 1991-1995, Stapleton Roy, sinh ra tại Trung Quốc và đã từng chứng kiến cuộc cách mạng văn hoá bày tỏ: “Điều đáng sợ là khi Trung Quốc giàu mạnh hơn, quốc gia này liệu sẽ có ý thức đúng đắn về trách nhiệm của họ đối với cộng đồng thế giới”.

TQ đầu tư và chi viện nước ngoài nhằm đẩy mạnh phát triển và phát huy thanh thế là hoạt động bình thường cũng như mọi cường quốc khác. Song, vấn đề là TQ có tuân thủ các qui ước quốc tế khi thực thi các hoạt động kinh tế?

Theo như các sự kiện tường thuật từ loạt bài thứ năm bàn về chính sách ngoại giao của Trung Quốc trên tờ The Newyork Times dưới chủ đề “Những mối giao dịch đáng quan ngại – Uneasy engagements” thì các mối giao dịch đi ngang về tắt của TQ đã gây không ít nỗi ngờ vực và quan ngại trong cộng đồng quốc tế.

Song, phải chăng việc sử dụng ngoại viện và đầu tư một cách vụ lợi và nhập nhằng là đặc sản của TQ hay là tình trạng chung của các nước giàu mạnh? Sharon Lafraniere và John grobler đã trả lời câu hỏi này qua bài viết Trung Quốc viện trợ sang Châu Phi, với sợi dây thòng lọng – China Spreads Aid in Africa, With a Catch (10):

“Phải nói rằng cho đến những năm gần đây, các nước giàu có cũng không phải là tấm gương tốt về chính sách ngoại viện. Nhiều dự án đã bị dấy bẩn vì tham nhũng hoặc nhằm làm lợi cho các công ty của nước viện trợ. Song từ 10, 15 năm qua, các nước này đã rất nỗ lực lành mạnh hóa các chương trình viện trợ.

Chính sách ngoại viện của TQ trái hẳn với khuynh hướng chung về lối hành xử của đất nước này đối với các qui ước quốc tế. Chánh sách ngoại viện hết sức mờ ám khiến người ta tự hỏi – TQ đang giấu giếm điều gì?”.

Bates Gill, giám đốc Học viện Hòa bình Thế giới Stockholm, The Stockholm International Peace Institute giải thích nguyên nhân của lối hành xử này là vì “TQ đã quen với sự mập mờ, sự kiểm soát và lối quan hệ trực tiếp cấp chính phủ” (11).

Một số nhà quan sát và bình luận lại cho rằng mặc dù TQ đã đã không tuân thủ các tiêu chuẩn trong các mối giao dịch, song cũng chính nhờ vào ngoại viện và đầu tư của TQ mà các nước nghèo, chẳng hạn như các nước Châu Phi, mới có được hệ thống cơ sở hạ tầng mở rộng như ngày hôm nay. “Lãnh tụ các nước đang phát triển đón nhận TQ vì sự dễ dàng về tín dụng và không kèm theo các đòi hỏi cải cách chính trị, kinh tế như các nước phát triển khác”

Song, đối với những ngưòi chỉ trích thì hậu quả của lối giao dịch “cửa hậu” này là tình trạng cạnh tranh kinh tế bất chánh, không công bằng, và là mầm móng của nạn tham nhũng. Một số trường hợp điển hình của những mối giao dịch thiếu quang minh chánh đại này đã được nhóm này nêu ra:

Bắc Kinh đã bí mật cung cấp học bổng (không thông qua Bộ Giáo dục) cho con em của chín lãnh tụ nước Namibia, trong đó gồm con gái của Tổng Thống Hifikepunye Pohamba; con trai Bộ trưởng bộ Quốc phòng, là cơ quan mua vũ khí của TQ, và con trai Bộ trưởng bộ Di trú, nơi cấp giấy phép thường trú cho công nhân Trung Quốc (12).

Cũng tại Namibia, nhà chức trách điều tra vụ công ty quốc doanh TQ hợp đồng bán máy scanner cho cơ quan an ninh chính phủ với những khoảng tiền “lại quả” nhiều triệu mỹ kim. Cuộc điều tra này gây sự chú ý của dư luận vì không bao lâu trước khi xãy ta vụ xì căn đan, chính người con trai Chủ tịch TQ Hu Jintao đã điều hành công ty. Một vụ đìều tra khác khiến tướng Martin Shalli chỉ huy lực lượng quốc phòng Namibia bị cách chức vì nhận hối lộ 700 ngàn mỹ kim từ một công ty buôn vũ khí của TQ (13).

Các giao dịch gỗ lậu xảy ra tại nước Madagascar, Châu Phi, được phóng viên môi trường của BBC, Richard Black tường thuật tháng 10/2010. Kết quả điều tra của tổ chức Nhân chứng thế giới và Cơ quan Điều tra Môi sinh, ước tính đến “98% gỗ khai thác lọt qua TQ, và phần còn mới đến Hoa Kỳ và các nước Châu Âu” (14).

Qua bài viết Những Xung đột từ các cuộc Khai thác Khoáng sản của TQ tại Peru, Nam Mỹ, trên The New York Time số ngày 14/8/2010, Simon Romeo tường thuật cuộc đình công của công nhân Peru, vùng mỏ Shougang, chống đối việc công ty TQ xa thải 1300 công nhân, thay thế bởi các công nhân TQ, khiến công ty TQ phải nhượng bộ, cho rút công nhân TQ về nước (15).

Tại Philippines, hợp đồng trị giá 329 triệu USD với công ty quốc doanh TQ, ZTE Corporation, phải hủy bỏ vì bị dính líu đến việc “lại quả”. Tháng 1/2009, Ngân hàng Thế giới cấm 4 công ty quốc doanh TQ tham gia đấu thầu sau khi điều tra biết được các công ty này có những hành vi phi pháp nhằm đạt được hợp đồng các dự án ngân hàng tại Philippines (16).

Vụ công ty TQ trúng thầu khai thác mỏ Aynak, Afghanistan, trị giá 3.4 tỷ USD khiến Bộ trưởng Bộ khoáng sản Mohammad Ibrahim Adel phải mất chức vì bị tố giác nhận hối lộ (17).

Với những mối giao dịch “phòng sau – back room” phổ biến như vậy, Tom Lynch, nhà nghiên cứu của Học viện Quốc phòng Quốc gia – The National Defense University Institute for National Strategic Studies, khu vực Nam Á đã kết luận:

“Những truờng hợp tương tự như vụ Aynak cũng đã từng xảy ra nhiều nơi khác trên thế giới. Điều này cho thấy TQ là nhà đầu tư tài nguyên thiên nhiên không đáng tin cậy, hiếm khi đóng góp cho cộng đồng địa phương như đã hứa hẹn, và thường để lại những mảnh đất đầy vết tích của tàn phá môi sinh” (18)

Đằng sau các động thái của Trung Quốc:

Từ bao nhiêu năm qua Trung Quốc đã dày công chứng tỏ đang theo đuổi chánh sách gọi là “Hòa bình Trỗi dậy – peaceful rise strategy”. Song những động thái hung hăng của TQ tại biển Đông và khu vực Đông Á gần đây đã dấy động dư luận thế giới. Zakaria, qua bài “Những Sai lầm trong Chánh sách Ngoại giao của Bắc kinh – Beijing’s foreign policy blunders”, CNN tháng 6/2011, viết “Trong vùng biển phía nam, Bắc kinh gây hấn với Việt Nam, Philippines và Nhật Bản. TQ cũng làm Nam Hàn nổi giận vì không hề lên án Bắc Hàn trong vụ đánh chìm tàu chiến của Nam Hàn” (19) F5/5. Vậy thì đâu là động lực của các động thái gây hấn của TQ gần đây?

Zakaria cho rằng những thành công về kinh tế, ngay cả trong bối cảnh ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu, khiến TQ trở nên “cả tin và thậm chí ngạo mạn”.

Trên bài bình luận “US hay China: A sẽ thắng thế kỳ 21 – China vs. USA: Who will win the 21st Century”, Zakaria nhận định chìa khoá để mở cánh cửa thế kỷ 21 là “Sáng kiến và Năng lượng – Ideas and energy”, vì hầu như nước nào cũng có khả năng sản xuất hàng hoá nên cần có sáng kiến để phân biệt hơn kém, và vì ai cũng tiến nhanh, nên ai cũng cần năng lượng để sản xuất (20).

Ngày nay, dầu vẫn là nguồn năng lượng quan trọng nhất cho sản xuất, và TQ là nước đang rất đói dầu. Từ một nước xuất khẩu dầu năm 1992, ngày nay TQ là nước tiêu thụ lượng dầu lớn thứ hai chỉ sau Hoa Kỳ. TQ chiếm gần 40% số lượng dầu tiêu thụ tăng lên trong giai đoạn 2004-2007 (21). Cùng chạy đua với TQ, các nước kinh tế mới nổi thuộc nhóm “BRIC” cũng tiêu thụ khối lượng dầu rất lớn: India – thứ 4, Russian – 6, và Brazil – 8. Biểu đồ dưới đây cho thấy TQ đã đầu tư năng lượng trên khắp thế giới để bảo đảm nguồn cung ứng nguyên, nhiên vật liệu cho sản xuất (22).

Arthur Herman, trong bài viết “Bắc Kinh Tham chiến – Beijing belligerence” trên NewYork Post ngày 19/6/2011 lại cho rằng “Nỗi sợ mất kiểm soát ở trong nước đã góp phần thúc đẩy cuộc phiêu lưu và sự kiêu căng của Trung Quốc với các nước ngoài, và Việt Nam cũng chỉ là trường hợp mới đây nhất”. Những cuộc bạo động không ngừng gia tăng, lên đến 127 ngàn vụ trong năm 2008, và TQ cũng đang gặp khó khăn trong trấn áp các lực lượng chống đối trên internet (23).

Song, Tetsuo Kotani, thuộc Viện Okazaki, Tokyo, trong bài viết “Vì sao TQ muốn Biển Nam China – Why China Wants South China Sea” lưu ý rằng “Mặc dù mọi chú ý đổ dồn vào nguyên do TQ đang thèm khát nguồn hải sản và năng lượng, nhưng nếu không hiểu được tầm quan trọng của vùng biển nam TQ đối với chiến lược nguyên tử của TQ, thì không thể hiểu được ý vì sao TQ lại muốn mở rộng lãnh hải”. Tetsuo so sánh nỗ lực thống trị vùng biển đông của TQ tương tự với chiến lược nguyên tử của Liên Xô cũ ở vùng biển Okhotsk thời kỳ chiến tranh lạnh, tức là tạo ra một lá chắn nguyên tử trên biển đáng tin cậy, mở rộng tuyến phòng ngự và địa bàn căn cứ tấn công địch. “Để hoả tiễn JL-2 có thể tấn công Los Angeles, Hoa Kỳ, tàu ngầm loại 094 của TQ phải tiến sâu vào vùng biển Philippine, nơi Hoa Kỳ và Philippine thường thao diễn lực lượng phòng vệ chống tàu ngầm” (24).

Cuộc đọ sức ở Biển Đông và Khu vực Châu Á Thái Bình Dương:

Tuy nhiên, theo phân tích của Tetsuo, TQ sẽ gặp nhiều thách thức trong chiến lược khống chế biển Đông. Thứ nhất, khác với vùng biển Okhotsk của Liên Xô, khu vực biển Đông là đường hàng hải quốc tế được thế giới thừa nhận. Hơn thế nữa, kế hoạch biển Đông của đầy tham vọng của TQ đụng chạm đến quyền lợi chiến lược của nhiều quốc gia liên hệ.

Trước tiên, Hoa kỳ đã tỏ rõ sự phản đối chủ trương quyết đoán của Trung Quốc về chủ quyền biển Đông tại nhiều diễn đàn khu vực khác nhau bằng cách nhấn mạnh lợi ích của Washington trong tự do hàng hải. “Hillary Clinton đã làm TQ nổi giận khi tuyên bố hôm tháng 7 vừa qua rằng tự do hàng hải trong khu vực là quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ và Hoa kỳ sẵn sàng hỗ trợ một cuộc đối thoại đa phương” (25). Sự quan tâm của Hoa kỳ đối với khu vực biển Đông nói riêng và Châu Á nói chung còn thể hiện qua lời tuyên bố mới đây của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates. Qua bài viết “Robert Gates Cảnh cáo Đụng độ có thể xảy ra tại khu vực biển phía nam TQ – Robert Gates warns of possible clashes in the South China Sea” ngày 4/6/2011″, Liz Neisloss, CNN, tường thuật: “Gates đã tuyên bố với cử tọa gồm các Bộ trưởng Quốc phòng và các lãnh đạo quân sự tại cuộc họp an ninh Châu Á hàng năm rằng Hoa Kỳ tăng cường mối quan hệ với các nước Châu Á trong những năm gần đây cho dù đang phải đối đầu với những khó khăn kinh tế và hai trận chiến đang tiếp diễn tại Irag và Afghanistan (26)”. Tetsuo lại ví động thái của Hoa Kỳ mới đây trong việc di chuyển các tàu chiến đến gần bờ ở Singapore với việc Anh Quốc triển khai các tàu HMS Prince of Wales và HMS Repulse tại “Gibraltar của phương Đông” để ngăn chặn Đế quốc Nhật năm 1941.

Đối với Ấn Độ, cho đến khi nước này thành công chế tạo loại hoả tiễn tầm xa (SLBM), thì Ấn sẽ còn cần hoạt động trên vùng biển Đông để có thể tấn công TQ.

Vị thế của biển Đông cũng rất quan trọng đối với nước Nhật, không những vì 90% dầu nhập cảng phải đi qua vùng biển này, mà còn là vì nếu TQ khống chế được biển Đông thì điều này sẽ làm suy yếu khả năng ngăn chặn của đồng minh Hoa Kỳ trong chiến lược an ninh bảo vệ Nhật Bản.

Nước Úc cũng rất quan tâm đến vùng biển Đông, sẽ duy trì sự hiện diện quân sự ở khu vực này để bảo vệ tuyến cung cấp nguyên liệu, đường giao thương, và đồng thời cho phép quân đội Hoa Kỳ tiếp cận sâu hơn với các căn cứ của mình.

Vì vậy, Tetsuo cho rằng Trung Quốc đang ở thế tiến thoái lưỡng nan, “càng có thái độ quyết liệt trong chiến lược thống trị biển Đông, thì các nước láng giềng càng thắt chặt mối hợp tác chiến lược với các nước Hoa Kỳ, Ấn, Nhật và Úc”.

Dường như Trung Quốc cũng đã nhận ra sự “quá trớn và đang điều chỉnh”, theo nhận định của Zakaria. Và, mặc khác, “Hoa Kỳ đang khẳng định với các nước Châu Á về hiện diện của mình” trong khu vực. Zakaria kết luận (27):

“Cuộc tranh chấp chính trị địa dư Châu Á chỉ mới là bắt đầu. Tôi đang có cảm tưởng rằng chúng ta sẽ chứng kiến cuộc đọ sức ra miếng, trả miếng giữa hai đại cường này trong nhiều năm tới”.

© Trần Bình

(1) List of countries by GDP – Wikipedia

(2) China’s Africa resource hunt needs transparency Reuter – David Stanway & Lucy Hornby, 11/2010

(3) Beijing belligerence NewYorkPost – Arthur Herman, 19/6/2011

(4) China’s new economic power fans fear, BBC poll finds BBC – Andrew Walker

(5) China the top world economy, Americans say CNN – 14/2/2011

(6) China Boss in Peru on $50 Billion Peak Bought for $810 Million Bloomberg News – Elliot Blair Smith & Fan Wenxin, 11/2010

(7) Maritime Security in the South China Sea with John McCain CSIS – 20/6/2011

(8) China and ASEAN create free trade bloc WSWS – John Roberts, 12/1/2010

(9) Robert Gates warns of possible clashes in the South China Sea CNN, Liz Neisloss – 6/4/2011

(10) China Spreads Aid in Africa, With a Catch The NewYorks Times, Sharon Lafraniere & John Grobler, 9/21/2009

(11) China Helps the Powerful in Namibia The NewYorks Times – Sharon Lafraniere, 11/19/2009

(12) China Helps the Powerful in Namibia

(13) China Boss in Peru

(14) Million-dollar beds fuel Madagascar timber crisis BBC, Richard Black – 26/10/2010

(15) Tensions Over Chinese Mining Venture in Per The NewYork Times, Simon Romero – 8/14/2010

(16) China Spreads Aid in Africa, With a Catch

(17) Will Chinese Mining Venture Bring Wealth or Heartbreak to Afghanistan? Politicsdaily – 8/29/2010

(18) Will Chinese Mining Venture Bring Wealth or Heartbreak to Afghanistan?

(19) Zakaria: Beijing’s foreign policy blunders CNN – 14/6/2011

(20) China vs. USA: Who will win the 21st Century? CNN, Zakaria – 14/7/2011

(21) China’s Oil Supply Dependence Journal of Energy Security, David L.O. Hayward – 18/6/2009

(22) Oil consumption by country

(23) Beijing belligerence

(24) Why China Wants South China Sea The Diplomat, Tetsuo Kotani – 18/6/2011

(25) Top Chinese general takes aim at U.S. military policy CNN, Steven Jiang – 7/11/2011

(26) Robert Gates warns of possible clashes in the South China Sea

(27) Beijing’s foreign policy blunders

Nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/3082-the-tien-thoi-luong-nan-cua-trung-quoc-va-cuoc-do-suc-tai-chau-a-thai-binh-duong.html

Xem thêm: Chinese dilemmas in the South China Sea của John D. Ciorciari, for CNN (Came ơn Vũ Đức Liêm về đường link này!)

http://edition.cnn.com/2011/OPINION/06/23/china.tensions/index.html?iref=allsearch

5 Phản hồi cho “Thế tiến thoái lưỡng nan của Trung Quốc và cuộc đọ sức tại Châu Á Thái Bình Dương”

  1. Tien Pham says:

    “Hòa bình Trỗi dậy – peaceful rise strategy”

    Tôi nghĩ câu “peaceful rise stragy” nếu dịch là (Sự) Trỗi Dậy Hoà Bình thì đúng hơn. Cái câu “Hoà bình Trỗi dậy” có nghĩa hoà bình đang và sẽ trỗi dậy. Còn trỗi dậy hòa bình là trỗi dậy (rise) một cách hòa bình (peaceful). Kô thể nào dịch nghĩa từng chữ. Ở đây, rise là danh từ, đứng sau tĩnh từ peaceful. Văn phạm tiếng Việt thì danh từ đứng trước, tĩnh từ đứng sau.

  2. NGÀN KHƠI says:

    THỰC LỰC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA QUỐC GIA

    Trên thế giới này đất nước nào cũng phải lo phát triển. Bởi đứng lại là tụt hậu, là đào thải. Nhưng sự phát triển của mỗi quốc gia còn tùy theo chính sách, hay chiến lược phát triển có hiệu quả hay không. Nếu hiệu quả thì mang lại thực lực. Còn nếu không hiệu quả, thì có phát triển cũng luôn luôn không đủ mạnh, không đạt tới thực lực. Trung Quốc, nếu nhìn chung, thì có phát triển, sau thời kỳ của Đặng Tiểu Bình. Nhưng thực lực của TQ vẫn hãy còn là yếu, so với các nước khác. Thực lực này, là tính theo tỷ lệ về nhiều mặt, không thể tính gộp. Bởi bài toán không chỉ là cộng, mà còn là bài toán chia cho nhiều phương diện, nhiều mặt khác nhau. TQ là một nước lớn về lãnh thổ, đông về dân cư, nên tỷ trọng phát triển, cũng phải tính tùy theo đó. Đó là chưa nói đến hàm lượng công nghệ, khoa học của của TQ, thật sự cho tới nay, vẫn còn kém xa nhiều nước. Đó không chỉ do yếu tố lịch sử của phát triển khoa học kỹ thuật, mà còn do cơ chế chính trị, xã hội. Tại sao Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hông Kông, nếu so tỉ trọng phát triển nhiều mặt, vẫn vượt trội hẳn TQ, là như thế đó. Nhưng cho dầu phát triển tương đối, thì so với VN, Trung Quốc thật sự vẫn cứ phát triển nhiều hơn, trong tỷ lệ đối chiếu và so sánh nói chung. Nhưng điều đáng lưu ý hơn cả, chính là câu nói thời danh trước đây của Đặng Tiều Bình “mèo trắng mèo đen” gì, cứ bắt được chuột, đều là tốt cả. Nhưng nếu cứ nhìn vào nền giáo dục Đại học, và truyền thông xã hội tại VN, từ trước kia đến nay, rõ ràng ai cũng đều phải thừa nhận VN chỉ có thích loại mèo đỏ. Mèo đỏ là mèo không bao giờ có thật trong thực tế. Nên đó thực chất, chỉ loại mèo nhuộm lông, kiểu như thanh niên Hàn quốc nhuộm tóc theo mốt thời trang hiện tại. Nên nói khác đi, cứ sính chơi kiểu mốt lạ như vậy, thì còn làm ăn kinh tế thực tế gì được nữa. Thanh niên Hàn Quốc đua đòi, ít ra cũng còn có được cha mẹ nuôi. Còn VN thì ông bà từ xưa đến nay vẫn cứ còn nghèo. Nghèo mà con chỉ toàn ham chơi kiểu đó, thì làm sao mà hết khó và giàu lên cho được. Nên cái giàu của thiểu số một phần nào đó nếu có, chỉ là giàu ảo, giàu nợ, giàu gia nhờ công cho người ngoài, nhưng thực chất thì xã hội toàn chưa có thực lực thật sự. Vậy nên, đứng trước một ông hàng xóm thực dụng, có thực lực hơn mình, còn mình thì chỉ cứ còn ham vui, mê chơi, chưa có sách lược làm ăn tốt đẹp gì đáng kể, mà chỉ phần lớn nối đuôi nhau chơi trò bịt mắt bắt dê, chơi trò kiểu rồng rắn lộn vòng, mà lũ trẻ thôn quê thời nào cũng thích, thì mối nguy hiểm cho sự độc lập, tự do của dân tộc, và của sự nghèo nàn của đất nước kéo dài, là điều thật sự như là hoàn toàn hiển nhiên, và không thể nào tránh khỏi. Nên đúng mèo đỏ chỉ là loại mèo ảo, hoàn toàn không hề có thật, thì làm gì còn có thể bắt chuột được, như một câu nói thời ranh, mà họ Đặng đã từng phát ngôn ra một cách ví von và vô cùng hào hứng trước đây.

    Võ Hưng Thanh
    (24/8/11)

    • Dinh says:

      Mọi người chắc còn nhớ chuyện Lỗ Túc đi đòi Kinh Châu trong ” Tam quốc”, hình ảnh Quan Công cầm Long đao tiếp Lỗ Túc không khác mấy hình ảnh Trung quốc khoe máy bay tàng hình, tên lửa diệt hạm, tàu sân bay khi đón ” khách nước ngoài” thời điểm hiện tại, Trung Hoa từ xưa đến giờ vẫn vậy, các vùng đất nhỏ hãy cảnh giác, đừng tin vào bất cứ điều gì gọi là thiện ý của Trung quốc, hãy lấy hình ảnh Lỗ túc đi đòi Kinh Châu làm gương, riêng Việt Nam hãy luôn ghi tâm, khắc cốt bài học Trọng Thuỷ-Mỵ Châu.

  3. Trung Hoàng says:

    QUYỀN LỰC CƯẢ HẬU CÁO CHUNG.

    “Còn một cuộc chiếu manh giành xé,
    Khắp hoàn cầu ó ré một nơi”.

    Biển Đông Á trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nhìn trên bản đồ toàn cầu, nó chẳng khác chi là một chiếc chiếu manh, được trãi ở một gốc đền không hơn không kém. Trong vài thập kỷ qua, lượng mỏ dầu khí khá lớn đã được phát hiện ở đây, cùng lúc với sự phát triển kinh tế trong khu vực Châu Á ngày một tăng trưởng lớn mạnh, nhất là đối với Trung Quốc, đã đẩy vùng Đông Nam Á vào cuộc tranh chấp đảo và lảnh hải thuộc quyền.

    Động lực chính yếu tạo nên sự cố tranh chấp bùng nổ, do từ Cái Lưỡi Bò Trung Quốc tự biên tự diễn tự quyết định, bất chấp mọi khuyến cáo và coi thường quyền lợi chung cuả các nước trong khu vực, cũng như nhiều nước trên thế giới có quyền lợi thiết yếu liên hệ ở đây. Cơn khao khát dầu khí, để cung ứng không thể thiếu cho nền kinh tế phát triển, đã khiến cho Bắc Kinh đã nhanh chóng vội vã lấn chiếm Biển Đông Á bằng mọi cách. Cho dù Trung Quốc biết là sẽ gặp nhiều sự chóng đối từ các nước trên toàn thế giới, nhưng cái thế chẳng thể lùi bước để giử vửng nền kinh tế đang phát triển, mà còn muốn mở rộng hướng tiến xa hơn nưã, trước sức ép khá nặng nề từ bao thời gian qua, nhất là từ khi Cộng Sản Liên Xô và Đông Âu xụp đổ hoàn toàn.

    Từ các sự cố thất bại về mặt ngoại giao trong khu vực ASEAN, bộ mặt thật kiêu căng ngạo mạn, xem thường các nước nhỏ trong khu vực, đã khiến cho Trung Quốc gần như là bị một sự cô lập bất thành văn trên chính trường quốc tế, nhất là trong khu vực Đông Nam Á. Quyền lực mền thường được các nhà nghiên cứu trên thế giới ví von, xem như là đã phải lúc bị phá sản, chí ít cũng khiến cho Trung Quốc sẽ gặp rất nhiều khó khăn trở ngại, đứng trên mặt ngoại giao mà trong tương lai về lâu về dài, sẽ vẫn còn phải bị tác động ảnh hưởng không ít.

    Quyền lực mền hay quyền lực “từ cưả hậu” thì cũng có phần đúng với thực tế với lối ngoại giao “đầu cơ tích trữ” cố hữu từ xưa đến nay cuả Trung Quốc. Sự viện trợ rộng rãi từ cây kim sợi chỉ mà ĐCSTQ trước đây giành cho Bắc Việt Cộng Sản, để nhờ đó mà ĐCSVN chiếm đoạt hoàn toàn VNCH Miền Nam, cũng chẳng qua là lối “đầu cơ tích trữ” ở tầm mức sâu sắc to lớn hơn mà thôi. Chính số đông ĐVCSVN luôn cho đó là vì nghiã vụ Cộng Sản Quốc Tế, cho đến hôm nay thì ắt là có không ít thành phần đẵ được thức tỉnh, Hoàng Trường Sa là một bằng chứng hiện thực thuyết phục nhất, cho sự việc gian lưà với lối “đầu cơ tích trữ” đó.

    Quan hệ giưả ĐCSTQ và ĐCSVN, có thể được xem như một “quan hệ từ cưả hậu” không hơn không kém, bao hiệp ước lảnh thổ lảnh hải giưả hai nước cũng đều được hình thành trước, từ cái cưả hậu nầy, sau đó mới có đúc kết theo khuôn, để cấu thành văn bản gọi là chính thức; mà dù cho có văn bản, thì dân Việt cũng chẳng bao giờ được nhà nước CSVN tường trình tỏ rõ. Bởi vì chắc chắn nó đúng là đã được thải ra từ cưả hậu, nên dấu kín nhẹm trước toàn dân là chuyện thường tình cuả người cộng sản từ xưa đến nay. Cái quan hệ từ cưả hậu mà CSTQ là kẻ thải ra, CSVN lại là kẻ phải hứng lấy trên mọi phương diện.

    Từ những công ty Trung Quốc được trúng thầu béo bở ở Việt Nam, đến các vùng rừng biên cảnh dọc theo lảnh thổ đất nước đã bị cầm cố, tất cả đều tạo thành từ “cái cưả hậu” mà có được. Cái hiểm hoạ mất đất mất biển đảo ngày một bào mòn dần, cơ nguy bị Trung Quốc đồng hoá luôn kề cận sát bên lưng, bao tai hoạ dồn dập đến cho dân tộc và đất nước Việt Nam, tất cả đều cho thấy ĐCSVN đã SAI LẦM TỪ KHỞI ĐIỂM.

    Cho dó là sai lầm từ khởi điểm, vì nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc trong thời chống Pháp là chính nghiã, nhưng lại phải gắn liền với ngọn cờ XHCN Cộng Sản, vô hình trung trở thành Bàn Tay Nối Liền cho chính kẻ thù xâm lược Bắc Phương. Sự sai lầm to lớn đó, dân Việt hai miền Nam Bắc phải trả biết bao nhiêu xương máu và nước mắt. Một sự hoang phí tiềm năng tiềm lực dân tộc trong mông muội cuồng bạo, để rồi Hoàng Trường Sa phải bị rơi vào tay kẻ bá quyền bành trướng Bắc Kinh, muốn giử lại được dân Việt chắc chắn là phải tốn hao thêm nhiều xương máu nưã. ĐCSVN cho là có sai lầm, nhưng thật ra chính CÁI SAI LẦM TỪ KHỞI ĐIỂM mới là điều đáng nói.

    Khi chiếm đoạt được Hoàng Sa và một số đảo Trường Sa, CSTQ tiến đến sự tự biên diễn và tự quyết định cho Cái Lưỡi Bò Trung Quốc với ý đồ thâu tóm Biển Đông Á, mà trong đó Biển Đông Việt Nam gần như toàn bộ vùng Lưỡi Bò Chín Đoạn đó. Sự xung đột leo thang để lấn chiếm do Trung Quốc luôn gây hấn phá rối, sẽ khiến cho cuộc chạy đua võ trang trong khu vực ngày một nóng thêm lên. Hoa Kỳ tất nhiên sẽ không bao giờ bỏ qua một cơ hội nào, khi mà Trung Quốc đã bị lộ bộ mặt hiếu chiến bá quyền bành trướng trước mắt thế giới. Nhất là lúc mà quyền lực mền từ cưả hậu cuả Trung Quốc đang bị bế tắt, cũng như có cơ phá sản hoàn toàn trong đường lối ngoại giao gian xão, nhiều tính toán cũng như kiêu căng ngạo mạng cố hữu, như là một đấng thiên tử đầy uy quyền đứng trên tất cả mọi người.

    Với tiềm năng tiềm lực dồi dào cuả Hải Quân Hoa Kỳ, tất nhiên CSTQ không bao giờ muốn đối mặt với lực lượng hung hậu nầy. Những cuộc dương oai diệu võ cuả Trung Quốc trong thời gian vưà qua, cũng chỉ là để đe doạ các nước nhỏ trong khu vực Đông Nam Á, một hướng mà CSTQ dể lấn chiếm hơn là khu vực Đông Bắc Á, nơi mà Nhật-Nam Hàn là đồng minh gắn bó lâu đời với Hoa Kỳ, mà cả hai đều có nền khoa học kỹ thuật cao, cũng như về kinh tế ít nhiều có quan hệ quyền lợi không nhỏ đối với Trung Quốc. Hơn nưã, từ quan hệ cưả hậu giưả ĐCSTQ và ĐCSVN, không ít thì nhiều, cũng giúp cho Trung Quốc dể bắt nạt chèn ép hơn so với khu vực Đông Bắc Á. Chính vùng biển Đông Nam Á, đã được phát hiện là kho trữ lượng dầu khí với số lượng to lớn, sẽ là một sự thu hút Trung Quốc không ngừng tấn chiếm, bất chấp mọi nguy hiểm đang chực hờ bên lưng họ.

    Nguy hiểm to lớn đối với Trung Quốc chính là sự trổi dậy khó đè nén cuả các sắc dân Tạng Hồi Mông Mãn, bá quyền để bành trướng vưà xoa dịu ý chí dân tộc trong lục điạ, mà cũng tạo được sự ổn định kinh tế để tránh các cuộc bạo loạn vì nghèo đói thất nghiệp. Chính quyền CSTQ bắt buộc phải mua trái phiếu cuả Hoa Kỳ, một hình thức để chận bớt sự bao vây phong toả dần dần khép lại Cái Thòng Lọng Vô Hình bao quanh Trung Quốc. Chẳng qua Trung Quốc chỉ muốn kéo dài thời gian tồn tại cho ĐCSTQ, nên sẵn sàng bòn vét sức lực người dân Trung Quốc, lấy tiền mua công trái phiếu để thoả mãn tính tự kiêu tự đại không hơn không kém.

    Mặt nào đó, dân Hoa Kỳ cũng đã hưởng được nhiều quyền lợi, qua các khối công trái phiếu từ phiá Trung Quốc, hay dể thấy hơn là từ sức lực cuả chính dân Trung Quốc vẫn còn nghèo đói hơn dân Hoa Kỳ nhiều. Điều chính yếu đáng nói là chính nhà cầm quyền Bắc Kinh, muốn thực hiện điều đó để giử cho ĐCSTQ được tồn tại, trước sức ép cuả phong trào dân chủ hoá toàn cầu. Vì sự thống trị cuả ĐCSTQ, nhà cầm quyền Bắc Kinh luôn sẵn sàng bòn vét sức lực người dân Trung Quốc, lấy tiền mua công trái phiếu Hoa Kỳ, không phải để làm áp lực chính trị với Hoa Kỳ, mà thực chất là ngăn bớt bàn tay vươn ra kéo xập các chế độ cộng sản toàn trị, đó mới là điểm chính yếu mà CSTQ mong muốn.

    Thế nên, Hoa Kỳ chỉ cần giử cái thế mèo vờn chuột như từ trước tới nay, cũng đủ khiến cho CSTQ luôn luôn ở thế bị động là đủ. Hoà hoãn với thế giới Hồi Giáo trên toàn thế giới là điều mà Hoa Kỳ cần phải đạt được, bởi vì người Tân Cương trong lục điạ Trung Quốc, cũng như người Tây Tạng lúc nào cũng hướng về vùng đất hưá cuả họ, lúc nào cũng mong muốn nhơn loại cùng tiếp sức với họ, để các sắc dân đó có được cuộc sống tự do hạnh phúc như mọi người. Đó là ước muốn rất chính đáng, không riêng gì Hoa Kỳ sẽ tận lực giúp đỡ, mà các nước phần đông trên thế giới sẽ trợ sức giúp vào.

    Quyền lực mền hay quyền lực từ cưả hậu sẽ bị cáo chung, bởi vì chơn lý chính nghiã đến lúc nào đó, sẽ là ý nguyện chung cho tất cả mọi người trên cả thế giới nầy.

    Xin trân trọng.

Phản hồi